Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc giáo dục lòng kính yêu Chủ tịch Hồ Chí Minh trong dạy học lịch sử ở trường THPT. Chương 2: Các biện pháp giáo dục lòng kính yêu Chủ tịch Hồ Chí Minh trong dạy học lịch sử Việt Nam từ 1919- 1945 lớp 12- THPT. Thực nghiệm sư phạm 18 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC GIÁO DỤC LÕNG KÍNH YÊU CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ 1919 ĐẾN 1945 LỚP 12 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Nhiệm vụ giáo dục của bộ môn Lịch sử ở trường phổ thông Trong Luật giáo dục được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khoá X thông qua ngày 25/12/2005 đã khẳng định: "Mục tiêu của giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mĩ và nghề nghiệp, trung thành với lí tưởng dân tộc và CNXH, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc".
Từ mục tiêu giáo dục chung đó, ở mỗi cấp học, môn học có những mục tiêu cụ thể, trong đó, mục tiêu môn lịch sử ở trường phổ thông là: "Nhằm giúp cho học sinh có được kiến thức cơ bản, cần thiết về lịch sử dân tộc và lịch sử thế giới, làm cơ sở cho việc hình thành thế giới quan khoa học, giáo dục lòng yêu quê hương đất nước, truyền thống dân tộc, hình thành các năng lực tư duy, hành động, có thái độ ứng xử đúng đắn trong đời sống xã hội". Để thực hiện mục tiêu bộ môn một cách cụ thể, đúng hướng, sâu sát, trước hết giáo viên bộ môn cần nắm được đặc trưng, bản chất, nhiệm vụ chức năng của môn lịch sử. Trong những chức năng, nhiệm vụ đó, không thể không đề cập đến một chức năng quan trọng trong việc hình thành nhân cách, tư tưởng cho học sinh đó là chức năng giáo dục của bộ môn. Tuy nhiên, cần phải nắm vững được đặc trưng của bộ môn lịch sử để có thể xác định được đầy đủ và chính xác mục tiêu của việc dạy học lịch sử ở trường phổ thông.
Theo đó, lịch sử có những đặc trưng cơ bản sau: Lịch sử mang tính quá khứ: lịch sử là quá trìn phát triển hợp quy luật của xã hội loài người từ lúc con người và xã hội hình thành đến nay. Tất cả những sự kiện và hiện tượng lịch sử được chúng ta nhắc đến đều là những chuyện đã xảy ra, nó 19 z mang tính quá khứ. Bởi vậy, người ta không thể trực tiếp quan sát được lịch sử quá khứ và chỉ nhận thức được những sự kiện, hiện tượng một cách gián tiếp thông qua các tài liệu được lưu lại. Vì vậy, dạy học lịch sử có những khó khăn nhất định.
Học sinh không thể trực tiếp quan sát các sự kiện lịch sử mà chỉ có thể tri giác các tài liệu sự kiện. Lịch sử mang tính không lặp lại: tri thức lịch sử nhìn chung mang tính không lặp lại về thời gian và cả không gian. Mỗi sự kiện, hiện tượng lịch sử chỉ xảy ra trong khoảng không gian và thời gian nhất định. Không có một sự kiện, hiện tượng lịch sử nào xảy ra cùng thời điểm, trong các thời kỳ khác nhau là hoàn toàn giống nhau mà chỉ có sự kế thừa và phát triển giữa các sự kiện lịch sử.
Do đó, khi giảng dạy một sự kiện, hiện tượng lịch sử nào, yêu cầu cần phải xem xét tính cụ thể cả về không gian và thời gian làm nảy sinh sự kiện, hiện tượng đó. Qua đó nhận thấy các sự kiện lịch sử cụ thể, riêng biệt song có mối quan hệ kế thừa. Lịch sử có tính cụ thể: lịch sử là khoa học nghiên cứu tiến trình lịch sử cụ thể của các nước, các dân tộc khác nhau. Lịch sử mỗi nước, mỗi dân tộc đều có diện mạo riêng do những điều kiện riêng quy định.
Mặt khác, các quốc gia, các dân tộc khác nhau, sống trên những khu vực khác nhau, tuy bị tác động của các quy luật chung, trải qua quá trình phát triển, trình độ sản xuất không ngừng nâng cao, đời sống văn hoá tinh thần của con người ngày càng phong phú, đa dạng nhưng tiến trình phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc không hoàn toàn giống nhau. Chính đặc điểm này đòi hỏi việc trình bày các sự kiện, hiện tượng lịch sử càng cụ thể bao nhiêu, càng sinh động thì càng hấp dẫn. Song dù có sự khác biệt, sự phát triển của lịch sử các dân tộc nhưng đều tuân theo nhưng quy luật chung sự phát triển của xã hội loài người. Lịch sử mang tính hệ thống (tính lôgíc lịch sử): khoa học lịch sử vừa bao gồm các sự kiện, hiện tượng về cơ sở kinh tế, đấu tranh xã hội, vừa bao gồm cả nội dung của kiến trúc tầng, tìh hình sản xuất và quan hệ sản xuất… Những nội dung tri thức lịch sử đó lại có mối liê hệ chằng chịt, phức tạp.
Điều này đòi hỏi người giáo viên phải luôn chú ý đến mối quan hệ ngang dọc, trước sau của các vấn đề lịch sử cũng như mối quan hệ giữa các sự kiện, hiện tượng lịch sử. 20 z Tính thống nhất giữa "sử" và "luận": các sự kiện, hiện tượng lịch sử chỉ diễn ra một lần duy nhất, không lặp lại nhưng những ghi chép về nó là có. Ở nhiều quốc gia, nhiều dân tộc trên thế giới đã xuất hiện nhiều sử gia nổi tiếng, họ đã góp phần vào công cuộc ghi lại những sự kiện, hiện tượng lịch sử; đồng thời cũng trình bày cả những quan điểm tư tưởng về sử học và phương pháp giải quyết những vấn đề lịch sử. Tuy nhiên, cần nói thêm rằng, những quan điểm lịch sử trước khi có chủ nghĩa Mác về cơ bản xuất phát từ lập trường và dựa trên lợi ích của giai cấp bóc lột.
Khi chủ nghĩa Mác ra đời, sử học mới bắt đầu trở thành một khoa học thật sự, chân chính. Đó là vì các ông đã đứng trên lập trường của giai cấp vô sản, vận dụng những nguyên lí của chủ nghĩa duy vật biện chứng, giữa sức sản xuất và quan hệ sản xuất… Do đó, việc nghiên cứu và dạy học lịch sử cần dựa vững chắc vào những nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Ở đây, tính giai cấp của giai cấp vô sản và tính khoa học của lịch sử là hoàn toàn đồng nhất, có sự thống nhất giữa "sử" và "luận". Từ đặc điểm này mà trong giảng dạy lịch sử, người giáo viên phải đảm bảo sự thống nhất giữa trình bày sự kiện với thống nhất và bình luận.
Mọi giải thích, bình luận đều phải xuất phát từ sự kiện lịch sử. Quan hệ biện chứng giữa các đặc điểm của tri thức lịch sử: giữa các đặc điểm của tri thức lịch sử có mối liên hệ nội tại thống nhất. Chỉ có dựa vào những nguyên lý của chủ nghĩa duy vật lịch sử, vận dụng phương pháp nghiên cứu lịch sử đúng đắn để nghiên cứu các tư liệu lịch sử phong phú, cụ thể mới rút ra được kết luận mới, mới có tri thức lịch sử khoa học. Trên cơ sở xác định được những đặc trưng của bộ môn, mục tiêu của việc dạy học lịch sử ở trường phổ thông được thể hiện qua ba nhiệm vụ cơ bản: kiến thức, kỹ năng, thái độ.
Về kiến thức: giúp học sinh nắm vững được những kiến thức cơ bản về các sự kiện lịch sử tiêu biểu của thế giới và dân tộc trên cơ sở củng cố, phát triển nội dung kiến thức lịch sử ở bậc THCS, hợp thành hệ thống kiến thức về sự phát triển của lịch sử từ thời nguyên thuỷ cho đến nay. 21 z Như vậy, nhiệm vụ giáo dưỡng trong mục tiêu của môn lịch sử ở trườg THPT là cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản, bao gồm: sự kiện lịch sử cơ bản, nhân vật tiêu biểu, thời gian, không gian, các khái niệm, thuật ngữ, những hiểu biết về quan điểm lý luận sơ giản, những vấn đề về phương pháp nghiên cứu và học tập, phù hợp với yêu cầu và trình độ học sinh. Về kỹ năng: tiếp tục hoàn thành các kỹ năng cần thiết cho học tập lịch sử đươc rèn luyện ở tiểu học, THCS như có quan điểm lịch sử khi xem xét sự kiện và nhân vật lịch sử, làm việc với sách giáo khoa và các nguồn sử liệu, biết phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát…. Có năng lực tự học, phát hiện, đề xuất giải quyết vấn đề học sinh nâng cao hơn năng lực tư duy và thực hành.
Cụ thể bồi dưỡng: + Tư duy biện chứng trong nhận thức và hành động + Kỹ năng thực hành bộ môn: tự "làm việc" với sách giáo khoa, tài liệu tham khảo có liên quan, nâng cao năng lực trình bày nói và viết, làm và sử dụng đồ dùng trực quan, ứng dụng thành tựu công nghệ thông tin vào học tập, tổ chức và thực hiện những hoạt động ngoại khoá của môn học. + Vận dụng kiến thức lịch sử đã học vào cuộc sống hôm nay. Về thái độ, tình cảm, tƣ tƣởng: bộ môn lịch sử có ưu thế trong việc giáo dục tư tưởng, đạo đức, thái độ, tình cảm cho học sinh, góp phần vào việc đào tạo con người Việt Nam toàn diện: + Giáo dục lòng yêu XHCN, lòng yêu quê hương đất nước - một biểu hiện của lòng yêu nước, trong lao động sản xuất cũng như trong tranh đấu giành độc lập dân tộc, bảo vệ tổ quốc. + Bồi dưỡng tinh thần đoàn kết quốc tế, tình hữu nghị với các dân tộc đấu tranh cho độc lập, tự do, văn minh, tiến bộ xã hội, hoà bình, dân chủ + Củng cố niềm tin vào sự phát triển hợp quy luật của xã hội loài người và dân tộc dù trong tiến trình lịch sử có những bước quanh co, khúc khủy, tạm thời thụt lùi hay dừng lại.
+ Có ý thức làm nghĩa vụ công dân, sẵn sàng thực hiện nghĩa vụ quốc tế. Tóm lại, mục tiêu của môn lịch sử ở trường THPT là cung cấp kiến thức cơ bản, có hệ thống về lịch sử phát triển hợp quy luật của dân tộc và xã hội loài người, 22 z rèn luyện kĩ năng tư duy thực hành qua học tập bộ môn. Trên cơ sở đó, giáo dục thái độ tình cảm đúng với các sự kiện, nhân vật lịch sử, bồi dưỡng lòng yêu nước, tự hào dân tộc, lí tưởng độc lập dân tộc và CNXH.