Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC PHÁT HIỆN VÀ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Năng lực Khái niệm năng lực (competency) bắt nguồn từ tiếng Latinh “competentia” được hiểu theo nghĩa là gặp gỡ. Có nhiều cách hiểu khác nhau về năng lực tùy vào góc độ tiếp cận của mỗi người khác nhau.
Theo Đại từ điển Tiếng Việt “Năng lực là những điều kiện đủ hoặc vốn có để làm một việc gì” [54; tr. Theo tác giả Bùi Thị Hường "Năng lực là khả năng bên trong của mỗi con người, khả năng tạo ra một sức mạnh vượt trội với nhóm, với cộng đồng, biết làm chủ bản thân và lối cuốn người khác vào các hoạt động đạt hiệu quả cao” [23; tr. Tác giả Trần Trọng Thủy, Nguyễn Quang Uẩn, định nghĩa “Năng lực là tổng hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của mọi hoạt động nhất định, nhằm đảm bảo việc hoàn thành có kết quả tốt trong lĩnh vực hoạt động ấy” [53; tr. Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Năng lực là những đặc điểm tâm lý cá nhân đáp ứng được những đòi hỏi hoạt động nhất định nào đó và là điều kiện để thực hiện có hiệu quả hoạt động đó” [17; tr.
Từ những dẫn chứng trên cho thấy, mặc dù có nhiều diễn giải khác nhau về năng lực, nhưng điểm chung các tác giả đều cho rằng năng lực là khả năng thực hiện có ý thức và tích cực các nhiệm vụ trong những hoàn cảnh khác nhau thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân dựa trên cơ sở những hiểu biết, kỹ năng, kỹ xảo và những kinh nghiệm cũng như khả năng luôn luôn sẵn sàng hành động trong mọi hoàn cảnh. Năng lực không chỉ là thuộc tính đơn Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn nhất mà là thuộc tính tâm lý phức hợp, là sự kết hợp tổng thể của nhiều yếu tố có mối liên hệ ảnh hưởng, qua lại lẫn nhau của nhiều yếu tố như tri thức, kĩ năng và, thái độ. Năng lực cá nhân được hiểu là kiến thức, kỹ năng và hành vi mà người lao động cần phải có đáp ứng yêu cầu công việc và là yếu tố giúp một cá nhân làm việc có hiệu quả. Theo đó, nếu muốn có năng lực ở bất kỳ lĩnh vực nào trước hết cần phải có kiến thức về lĩnh vực đó, để tạo nên năng lực ngoài kiến thức, cần phải có các yếu tố như hứng thú, ý chí… để thực hiện có hiệu quả công việc.
Năng lực cá nhân được đánh giá qua kết quả hoạt động của cá nhân khi giải quyết vấn đề. Năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề Năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề có vai trò quan trọng nhà trường là nơi tạo điều kiện để phát triển trong quá trình dạy học. Phát hiện vấn đề: Trước hết trong quá trình dạy học giáo viên đưa ra những tình huống có vấn đề sau đó hướng dẫn học sinh phân tích tình huống để làm sao đó phát hiện ra được vấn đề, xác định được những kiến thức đã biết và những kiến thức còn ẩn mà phát hiện được trong quá trình trao đổi về vấn đề đó bằng ngôn ngữ của mình. Bên cạnh đó năng lực phát hiện vấn đề là năng lực tổng hợp những tri thức của người học khi xuất hiện tình huống có vấn đề,nếu xác định được nhiệm vụ thì người học đưa ra được mục tiêu và phương hướng, sau đó người học phải tổng hợp tất cả những tri thức mà mình có được để giải quyết vấn đề.
Nguyễn Cảnh Toàn cho rằng “ năng lực giải quyết vấn đề là hoạt động trí tuệ được coi là trình độ phức tạp và cao nhất về nhận thức, vì cần phải huy động tất cả các năng lực trí tuệ của cá nhân” [3; tr. Nguyễn Thị Lan Phương cho rằng: “Năng lực giải quyết vấn đề là khả năng của một cá nhân “huy động”, kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiến thức, kỹ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân,… để hiểu và giải quyết vấn đề trong tình huống nhất định một cách hiệu quả và với tinh thần tích cực” [43; tr. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Từ những khái niệm trên tôi cho rằng năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề cho học sinh cấp trung học phổ thông (THPT) là quá trình định hướng, điều khiển của giáo viên để học sinh phát hiện, phát biểu được vấn đề cần giải quyết từ một tình huống trong học tập, sau đó bằng những kiến thức của mình học sinh hoạt động một cách tích cực, chủ động, tự giác và sáng tạo để đề xuất, lựa chọn các giải pháp, thực hiện giải quyết vấn đề, trình bày cách giải quyết vấn đề. Năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề trong môn Lịch sử là năng lực hoạt động trí tuệ của học sinh khi đứng trước những sự kiện cụ thể, những hình huống giáo viên đặt ra, đòi hỏi học sinh phải huy động khả năng tư duy tích cực và sáng tạo nhằm phát hiện, đề xuất và thực hiện hướng giải quyết vấn đề.
Do đó, để phát triển năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề trong các môn học nói chung và phát triển năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề cho học sinh trong dạy học bộ môn Lịch sử ở trường Trung học phổ thông Thành phố Bắc Ninh nói riêng giáo viên phải tạo ra tình huống có vấn đề, điều khiển học sinh (HS) phát hiện vấn đề từ những tình huống đó để HS hoạt động tự giác, tích cực giải quyết vấn đề, trên cơ sở đó, HS có thể chiếm lĩnh tri thức, rèn luyện kĩ năng và đạt được những mục đích học tập khác. Phát triển năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề cho học sinh trong dạy học lịch sử phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Bản thân mỗi học sinh phải mong muốn tìm tòi, học hỏi, khám phá những cái mới. Sự hứng thú của học sinh với thông tin tạo tình huống giáo viên đưa ra. Năng lực của mỗi cá nhân.
Thông qua phát hiện và giải quyết vấn đề trong học tập, học sinh lĩnh hội được tri thức, kĩ năng và phương pháp nhận thức, từ đó phát triển năng lực phát hiện và giải quyết hợp lí những vấn đề được đặt ra trong thực tiễn, thích ứng được với sự phát triển của xã hội. Do đó, việc phát triển năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề cho học sinh trong dạy học nói chung và trong dạy học bộ môn Lịch sử ở trường THPT nói riêng giữ một vị trí quan trọng đặc biệt. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc. Cơ sở của việc phát triển năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề cho học sinh trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông 1.
Yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học Giáo dục đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nguồn nhân lực phục vụ cho quá trình công nghiệp hóa- hiện đại hóa. Do đó, tiến hành đổi mới giáo dục nói chung và đổi mới phương pháp dạy học nói riêng trở thành yêu cầu cấp thiết trong cải cách giáo dục theo hướng hình thành và phát triển năng lực người học, lấy học sinh làm trung tâm. Điều 2 trong Luật giáo dục (2019), nêu rõ mục tiêu giáo dục nước ta: “Đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, trí thức, sức khỏe, thẩm mĩ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập của dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của người công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [31; tr. Chương II, điều 28 Luật Giáo dục (sửa đổi bổ sung năm 2010) của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam viết: “Phương pháp dạy học phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh” [30; tr.
Ngày 4/11/2013 Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã kí ban hành Nghị quyết số 29- NQ/ TW về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo. Nghị quyết nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ, áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực” [2; tr. Trên tinh thần đổi mới phương pháp dạy học giáo viên sẽ định hướng và hướng dẫn cho học sinh.
Do đó, giáo viên phải tiến hành đổi mới, chuyển từ cách dạy tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, bỏ cách dạy Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn truyền thống thầy đọc - trò chép sang cách dạy phát huy được sự năng động, sáng tạo, chủ động, vận dụng kiến thức mới tiếp thu được vào cuộc sống thực tiễn của học sinh. Trong quá trình dạy học, giáo viên cần tạo cho học sinh điều kiện tốt nhất để các em có thể phát huy đựơc tính tự giác, chủ động trong việc tiếp thu bài giảng của giáo viên, hướng dẫn cho học sinh cách học tập hiệu quả, áp dụng linh hoạt các phương pháp dạy học tích cực để các em chủ động trong quá trình lĩnh hội kiến thức. Đồng thời phải tổ chức cách dạy học làm sao để học sinh tự mình phát hiện được vấn đề sau đó đưa ra hướng giải quyết và tự mình giải quyết được vấn đề. Hoặc thầy là chủ đạo còn học sinh phải chủ động, khuyến khích học sinh tự khám phá những điều chưa biết chứ không thụ động tiếp thu những điều đã có sẵn.
Bên cạnh đó trong quá trình dạy học phải kết hợp nhiều phương pháp dạy học với nhau, có sự tương tác, trao đổi giữa người dạy và người học, giữa người học với người học, phải tôn trọng những kiến thức, kinh nghiệm mà người học đã biết từ trước đó.