mở đầu, có diễn biến, có kết thúc và mỗi hành động tư duy là một quá trình giải quyết nhiệm vụ nào đó nảy sinh trong nhận thức hay trong hoạt động thực tiễn của con người. Đó là quá trình tìm kiếm cái mới từ những kiến thức, kinh nghiệm đã có. Đặc điểm tư duy Theo Nguyễn Quang Uẩn (2011) [17]: Tư duy thuộc mức độ nhận thức cao – nhận thức có lý tính, gồm những đặc điểm cơ bản như sau: 1. Tính có vấn đề Tư duy ở con người chỉ nảy sinh khi cá nhân gặp tình huống có vấn đề.
Tình huống có vấn đề là tình huống chưa có đáp số nhưng đáp số đã tiềm ẩn bên trong tình huống chứa những điều kiện giúp ta tìm ra những đáp số đó. Muốn tình huống có vấn đề kích thích được ra tư duy thì tình huống đó phải được cá nhân nhận thực đầy đủ và chuyển thành nhiệm vụ tư duy của cá nhân (nghĩa là cá nhân phải xác định được cái gì đã biết, đã cho, cái gì chưa biết, cần phải tìm). Tính gián tiếp Trong quá trình tư duy con người sử dụng các phương tiện, công cụ khác nhau để nhận thức về sự vật, hiện tượng. Tư duy được phản ánh bằng ngôn ngữ.
Các quy luật, quy tắc, các sự kiện các mối liên hệ và sự phụ thuộc được khái quát và diễn đạt qua ngôn ngữ. Mặt khác những phát minh, những kết quả tư duy của người khác, cũng như kinh nghiệm cá nhân của con người đều là những công cụ để con người tìm hiểu thế giớ xung quanh nhằm giải quyết những vấn đề mới đối với họ. Ngoài ra những công cụ do người tạo ra cũng giúp chúng ra hiểu biết được những hiện tượng có trong hiện thực mà không thể tri giác chúng một cách trực tiếp được. Nhiệm vụ của tư duy là phát hiện ra những đối tượng, thuộc tính, quan hệ mới, không được phát hiện một cách trực tiếp trong tri giác.
Tư duy cũng bao hàm cả việc biến đổi những dữ liệu đã có mà nhờ sự biến đổi đó con người đạt được mục đích đề ra. Tính trừu tượng hóa và tính khái quát hóa a. Tính trừu tượng hóa Là khả năng con người dùng trí óc để gạt bỏ những liên hệ, những mặt, những thuộc tính không cần thiết mà chỉ giữ lại yếu tố nào cần thiết để tư duy. Tính khái quát hóa Khả năng con người hợp nhất nhiều đối tượng khác nhau nhưng có chung những thuộc tính, những mối liên hệ thành một nhóm.
Tư duy gắn liền với ngôn ngữ Tư duy của động vật bao giờ cũng chỉ dừng lại ở tư duy hành động trực giác mà không vượt quá giới hạn đó. Còn ở con người tư duy mang tính gián tiếp trừu tượng hóa và khái quát hóa, mối liên hệ giữa tư duy và ngôn ngữ là mối liên hệ biện chứng, nó là mối liên hệ giữa nội dung và hình thức. Tư duy bao giờ cũng liên hệ gắn bó mật thiết với nhận thức cảm tính. Nhận thức cảm tính là cửa ngõ của tư duy liên hệ với thế giới bên ngoài, nhận thức cảm tính cung cấp chất liệu cho tư duy và cuối cùng toàn bộ sản phẩm của tư duy được kiểm nghiệm trong hoạt động thực tiễn.
Tư duy có mối quan hệ mật thiết với nhận thức cảm tính Mặc dù ở mức độ nhận thức cao hơn nhưng tư duy phải dựa vào nhận thức cảm tính. Tư duy thường bắt đầu từ nhận thức cảm tính, tiến hành trên cơ sở những tài liệu nhận thức cảm tính mang lại. Ngược lại, tư duy với những kết quả của nó ảnh hưởng mạnh mẽ, chi phối khả năng phản ánh của nhận thức cảm tính, làm cho khả năng cảm giác của con người tinh vi, nhạy bén hơn, làm cho tri giác con người mang tính chọn lọc và tính ý nghĩa. Xem xét những đặc điểm cơ bản của tư duy, có thể thấy tư duy là sản phẩm của sự phát triển lịch sử - xã hội, mang bản chất xã hội.
Các giai đoạn của tư duy 9 1. Các thao tác tư duy cơ bản Quá trình tư duy diễn ra bằng cách chủ thể tiến hành các thao tác trí tuệ ( thao tác là hoạt động theo trình tự và yêu cầu kĩ thuật nhất định) nhằm giải quyết vấn đề ( hoặc lĩnh hội, tiếp thu tri thức). Có nhiều thao tác tư duy cụ thể tham gia vào một quá trình tư duy với tư cách là một hành động trí tuệ. Theo Nguyễn Bá Kim (2015) [9]: Các thao tác tư duy cơ bản gồm: dự đoán, so sánh, phân tích, tổng hợp, đặc biệt hóa, khái quát hóa, trừu tượng hóa,.
- Phân tích – tổng hợp: + Phân tích là một thao tác tư duy diễn ra trong đầu của chủ thể nhận thức dùng trí óc nhằm tách ra những thuộc tính, những bộ phận, những đặc điểm, tính chất của đối tượng được tư duy để nhận thức sâu sắc hơn. Ví dụ 1: Khi học sinh làm bài tập về so sánh các số có nhiều chữ số: Bài tập 1/13 SGK Toán 4: Điền dấu >,<,= 9999.693530 Khi làm bài tập này học sinh sẽ phải dùng thao tác phân tích để tách đối tượng thành hai vế là 9999 và 10 000, 693251 và 693530. Sau đó học sinh phân tích bài toán thành dạng bài tập so sánh các số có nhiều chữ số đã được học để tìm ra cách giải: - 9999 và 10 000. Số 9999 có ít chữ số hơn số 10 000 nên 9999 < 10 000 - 693251 và 693500, hai số có số chữ số bằng nhau nên ta so sánh từng hàng, đến hàng trăm có 2<5.
Vậy 693251 < 693500 + Tổng hợp là một thao tác tư duy trong đó chủ thể tư duy dùng trí óc gộp những thuộc tính, những thành phần của đối tượng tư duy thành một chỉnh thể, từ đó nhận thức về đối tượng được bao quát hơn. Phân tích và tổng hợp có liên quan mật thiết với nhau, bổ sung cho nhau trong một quá trình tư duy thống nhất. Phân tích là cơ sở để tổng hợp, tổng hợp diễn ra trên kết quả của phân tích. Để kích thích các thao tác tư duy phân tích- tổng hợp diễn ra ở học sinh, GV có thể đặt câu hỏi gợi mở, hoặc sử dụng các phương tiện trực quan giúp học sinh tách bạch hay hợp nhất các yếu tố đã cho và yếu tố phải tìm của bài toán, từ đó thấy được mối liên hệ biện chứng và dẫn tới cách giải.
Trên cơ sở sử dụng các sơ đồ tóm tắt bài toán (trong tình huống giải toán có lời văn), GV có thể đặt câu hỏi để kích thích các thao tác tư duy phân tích như: 10 + Yếu tố nào đã cho, yếu tố nào phải tìm? Yếu tố nào đã biết từ thực tiễn có thể sử dụng? Yếu tố nào có thể suy ra được hoặc tính toán được? Rồi đặt câu hỏi để kích thích các thao tác tư duy tổng hợp như: + Hãy nêu ra thứ tự các phép tính phải thực hiện trong bài giải? + Hãy nhận xét mối liên hệ giữa các yếu tố đã cho và phải tìm? + Hãy nói lại các bước giải của bài toán thuộc dạng này? Nêu nhận xét chung về cách giải?. - So sánh là thao tác tư duy trong đó chủ thể tư duy dùng trí óc để xác định sự giống nhau và khác nhau giữa các sự vật, hiện tượng (hoặc giữa các thuộc tính, các quan hệ, các bộ phận của một số sự vật, hiện tượng). So sánh có quan hệ chặt chẽ và dựa trên cơ sở phân tích, tổng hợp, nó có vai trò quan trọng trong việc nhận thức thế giới, nhờ so sánh chủ thể nhận thức phân biệt được các sự vật, hiện tượng của thế giới hiện thực. Ví dụ 2: Khi học về phép trừ phân số cùng mẫu số (SGK/129), HS sẽ tự so sánh điểm giống và khác nhau của phép trừ phân số có cùng mẫu số và phép cộng phân số có cùng mẫu số.
+ Điểm giống nhau là: Đều thực hiện phép toán trên tử số, giữ nguyên mẫu số + Điểm khác nhau là: - Phép cộng phân số cùng mẫu số: Ta lấy 2 tử số cộng với nhau - Phép trừ phân số cùng mẫu số: Ta lấy tử số thứ nhất trừ đi tử số thứ hai. - Trừu tượng hóa: là thao tác tư duy, trong đó chủ thể tư duy dùng trí óc gạt bỏ những thuộc tính, những bộ phận, những quan hệ.không cần thiết và chỉ giữ lại những yếu tố bản chất, dấu hiệu chung đặc trưng về một đối tượng được tư duy. - Khái quát hóa: là thao tác tư duy, trong đó chủ thể tư duy dùng trí óc để bao quát một số thuộc tính chung và bản chất, những mối quan hệ có tính qui luật của nhiều đối tượng khác nhau thành một nhóm hoặc một loại.Kết quả của khái quát hóa cho nhận thức về đặc tính chung của hàng loạt sự vật, hiện tượng cùng loại. Trừu tượng hóa và khái quát hóa là hai thao tác tư duy cơ bản đặc trưng cho tư duy con người.
Hai thao tác này có quan hệ mật thiết với nhau, chi phối và bổ sung cho nhau. Trừu tượng hóa ở mức độ cao, lược bỏ những yếu tố riêng lẻ của sự vật, hiện tượng đạt được sự khái quát hóa. Khái quát hóa chỉ thực hiện được trên cơ sở trừu tượng hóa. Đặc biệt các câu hỏi của GV hướng vào các quá trình trừu tượng hóa- khái quát hóa thường là: 11 + Qua cách giải của các ví dụ trên ta rút ra mấy bước để giải các bài toán thuộc dạng này? (Tình huống dạy giải toán có lời văn).
+ Vậy cách thường dùng để có thể tính nhanh kết quả của dạng bài kiểu này là gì? (Tình huống rèn kĩ năng tính giá trị biểu thức). Ví dụ 3: Khi học về tính chất giao hoán của phép cộng (SGK/42). Bài 1/43: Nêu kết quả tính: a, 468 + 379 = 847 379 + 468 =. Sau khi làm bài tập này HS có thể rút ra được kiến thức: 468 + 379 = 379 + 468 =847 Từ đó khái quát lên công thức: a + b = b + a Có thể phát biểu thành lời: Khi đổi chỗ các số hạng trong một tổng thì tổng không thay đổi.
Như vậy các tác động như trên không chỉ những thao tác tư duy của học sinh được hình thành phát triển, mà cả những kĩ năng diễn đạt, trình bày, suy luận logic cũng có nhiều cơ hội để tập dượt.