CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Dạy học theo hướng phát triển năng lực 1. Khái niệm Theo Đỗ Hương Trà (2015): “DH phát triển NL là quá trình xây dựng, tổ chức và kết hợp các hoạt động giảng dạy và hoạt động học, chú trọng đến hiệu quả đầu ra của quá trình này.
Trong đó lưu ý người học phải có đc những mức độ NL nhất định sau khi hoàn thành một bước (hay là một quá trình) DH” ([24], trang 11). Lê Đình Trung (Chủ biên) và Phan Thị Thanh Hội (2018) đã định nghĩa: "DH theo hướng phát triển NL là mô hình DH hướng vào mục tiêu phát triển các phẩm chất và NL của người học thông qua việc tổ chức các hình thức hoạt động tự giác, tích cực có hiệu quả của HS dưới sự tổ chức, hướng dẫn và giúp đỡ hợp lý của GV. Trong mô hình này, người học sẽ thể hiện sự phát triển bằng cách chứng tỏ NL của mình. " ([25], trang 6) Theo quan điểm trên cũng có nghĩa là người học cần chứng minh khả năng nắm chắc và việc làm chủ các kiến thức và kĩ năng (có thể coi là NL) và sử dụng hiệu quả tất cả NL (phẩm chất, kiến thức và kỹ năng, thái độ, lòng tự tin và nghị lực, .) trong một môn hay hoàn cảnh cụ thể tuỳ theo vận tốc của chính mình.
Từ các ý kiến của của những nhà giáo nói trên, có thể thấy rằng "DH theo hướng phát triển NL" là mô hình chú trọng đến sự phát triển toàn diện NL của người học. Trong đó, NL là tổng hợp của 3 thành tố: Kiến thức, kĩ năng và phẩm chất. Qua đó, GV tổ chức hoạt động dạy – học có sự tương tác, liên kết,. với nhau để người học chứng minh NL học tập thật sự của mình.
Từ đó, HS sẽ rèn luyện tinh thần tự giác, sáng tạo và chủ động cùng ý thức tự giác học tập để không ngừng nâng cao NL học tập. Đặc điểm Theo Đỗ Hương Trà (chủ biên, 2015), dạy học theo hướng phát triển năng lực có các đặc điểm sau đây: Mục tiêu dạy học tập trung vào việc giúp học sinh giải quyết vấn đề thực tiễn và phát triển phẩm chất cá nhân; nội dung dạy học được xác định dựa trên kết quả cần đạt về năng lực, chú trọng áp dụng bài tập vào từng tình huống; phương pháp dạy học làm cho học sinh trở thành người chủ đạo trong quá trình học, giáo viên chỉ là người tư vấn và giúp đỡ khi cần; giáo án được soạn riêng biệt cho 10 từng nhóm học sinh thay vì sử dụng một giáo án chung; tổ chức hoạt động trong lớp tập trung vào việc giải quyết các tình huống để khuyến khích việc tự tìm hiểu và khám phá của người học. Môi trường học tập không gian tự do và thoải mái, có thể diễn ra ở ngoài trời hoặc trong các không gian chuyên biệt như lab hoặc thư viện. Đánh giá kết quả dựa trên chuẩn đầu ra môn học và mức độ ứng dụng vào thực tế, người học được tự do đánh giá và nhận xét theo các tiêu chí rõ ràng cũng như từ phía giáo viên.
So sánh DH truyền thống và DH phát triển NL Nhìn chung, DH phát triển NL theo hướng đổi mới giáo dục phổ thông có những ưu điểm nổi trội và khác biệt so với DH truyền thống, chúng tôi đã tổng hợp cụ thể trong bảng 1.1 như sau: Bảng 1. So sánh DH truyền thống và DH phát triển năng lực Tiêu chí DH truyền thống DH phát triển NL so sánh - Cụ thể, có thể quan sát và đánh giá được - Chung chung, không chi tiết - Kiến thức đến từ việc tự rèn luyện - Kiến thức chủ yếu từ sách giáo của HS thông qua nhiều loại tư liệu khoa Mục tiêu và sách báo tham khảo khác - Tập trung vào thành tích thay vì DH - Tập trung vào khả năng thay vì NL thành tích - Hướng tới việc tiếp thu kiến thức - Hướng về vấn đề chung sinh sống, về mặt lý thuyết si h hoạt và xử lý tình huống thực tiễn. - Gắn với thực tế, các xu hướng hiện - Gắn liền với khoa học chuyên đại ngành - Thiết kế theo mô hình phân hoá - Thiết kế chung cho mọi đối tượng phẩm chất và NL của người HS. HS Nội dung - Bài học được thiết kế theo hai - Nội dung giảng dạy được thiết kế DH chiều, có độ khó và thứ tự cụ thể, mô theo một chiều qua sách dành cho hình DH phù hợp NL hiện nay của tất cả đối tượng HS.
- HS có hiểu biết nhưng không có - HS vừa phải có NL vận dụng cao điều kiện vận dụng thực tiễn. vừa phải tiếp thu tốt kiến thức. - GV là trung tâm - HS là trung tâm PPDH - HS tiếp thu thụ động, phụ thuộc - HS chủ động nghiên cứu dự án vào GV 11 Tiêu chí DH truyền thống DH phát triển NL so sánh - GV sử dụng PP truyền thống là - GV chú trọng PP, kỹ thuật DH tích thuyết trình cực như thực hành, trải nghiệm, tự học,… Hình thức Thiên về lý thuyết cho quy mô toàn Thiên về thực hành theo nhóm nhỏ DH lớp hoặc dự án cá nhân Đánh giá - Dựa trên khả năng thuộc bài - Dựa trên khả năng vận dụng kết quả - Quá trình đánh giá độc lập với DH - Quá trình đánh giá tích hợp với DH học tập - Đánh giá định kỳ - Đánh giá ở mọi thời điểm Quản lý Chất lượng chú trọng vào nội dung - Chất lượng chú trọng vào khả năng DH bài dạy của HS Sản phẩm HS thụ động và ít có tư duy phản HS trở nên năng động và tự tin nhờ của DH biện và sáng tạo có tư duy phản biện và sáng tạo. NL giao tiếp toán học 1.
NL giao tiếp Khái niệm năng lực Khái niệm “NL” có nguồn gốc Latinh là: “competentia”. Trong văn bản trên, người viết đưa ra các khái niệm và định nghĩa về "năng lực" từ các tác giả khác nhau. Weinert (2001) năng lực là những kỹ năng và kiến thức đã học hoặc sẵn có của cá nhân để giải quyết các tình huống xác định, cũng như sự sẵn sàng về động cơ xã hội và khả năng áp dụng cách tiếp cận phù hợp trong các tình huống linh hoạt. Phạm Thị Hiền (Chủ biên, 2015) cho rằng năng lực của học sinh được biểu hiện qua khả năng thực hiện các công việc cá nhân trong việc giải quyết bài toán học tập hoặc khả năng tiến hành các hoạt động liên quan đến học tập.
Các năng lực này luôn được xem xét trong mối quan hệ với các hoạt động và quan hệ cụ thể. Trong chương trình GDPT 2018 [2], năng lực được hiểu là thuộc tính cá nhân được phát triển thông qua các tố chất và quá trình học tập, rèn luyện để con người có thể kết hợp các kinh nghiệm, kỹ năng và thuộc tính cá nhân khác nhau để thực hiện 12 thành công các hoạt động trong điều kiện cụ thể. Chúng tôi đã lựa chọn khái niệm "năng lực" theo chương trình GDPT 2018 cho đề tài này. Khái niệm giao tiếp Theo Hoàng Phê (Chủ biên) cùng các đồng nghiệp (1997): Giao tiếp là quá trình tạo ra hoặc chia sẻ thông tin và cảm xúc giữa các bên tham gia nhằm đạt được mục đích giao tiếp.
[20] Giao tiếp cũng được hiểu là sự tiếp xúc tâm lý giữa con người thông qua ngôn từ, cử chỉ và điệu bộ để thiết lập và quản lý các mối quan hệ với nhau hoặc với yếu tố xã hội khác nhằm thỏa mãn nhu cầu của mỗi cá nhân - Nguyễn Trung Kiên (2019) [13, trang 1] Các yếu tố giao tiếp, bao gồm: trao đổi thông tin, kiến thiết kế kế hoạch, hoạt động giải trí, phối hợp công việc và khám phá người khác. Có ba góc nhìn chính trong giao tiếp: giao lưu, ảnh hưởng tác động qua lại và tri giác. Góc nhìn của giao tiếp liên quan đến việc hiểu và khám phá các yếu tố riêng biệt trong quy trình trao đổi thông tin giữa hai bên. Quá trình này không chỉ mang lại kiến thức mới cho các thành viên tham gia mà còn nâng cao kỹ năng và kinh nghiệm của họ.
Trong giao tiếp có nhiều kiểu tác động khác nhau như sự hợp tác và cạnh tranh đối đầu, đi kèm theo sự ưng ý hoặc xung đột. Góc nhìn cuối cùng của giao tiếp là tri giác, nơi mà chúng ta xây dựng hình ảnh về người khác và xác lập các phẩm chất tâm lí và hành vi của họ. Trong quá trình này, chú ý quan tâm và hiểu biết với các hiện tượng kỳ lạ như ấn tượng ban đầu, hiệu ứng cái mới hay điển hình hoá là rất quan trọng. Có thể dễ nhận thấy, giao tiếp không chỉ liên quan đến việc truyền thông tin mà còn thể hiện qua cách chúng ta diễn giải thông tin bằng ngôn từ hoặc cử chỉ, điệu bộ.
Nó liên quan vào việc thiết lập mối quan hệ giữa con người trong các tình huống khác nhau và đáp ứng các nhu cầu xã hội của mỗi cá nhân. Năng lực giao tiếp Khoảng năm 1970, nhà ngôn ngữ Hymes có khái niệm sơ khai đầu tiên về NL giao tiếp, tác giả đã phân chia hai dạng NL là "NL ngữ pháp" và "NL sử dụng". Theo Hymes thì NL giao tiếp là NL sẵn có của người nói nhằm hiểu một trường hợp sử 13 dụng ngôn ngữ và phản hồi cho phù hợp dù sử dụng ngôn ngữ hay là không dùng ngôn ngữ. Hiểu tại đây tương đương với khả năng truyền đạt một thông điệp không những dưới dạng qui chiếu về ý nghĩa của nó và còn có khi là một hành động [33].
Từ đó, thuật ngữ "NL giao tiếp" được ra đời. Từ những quan điểm trên, tác giả kết luận rằng: NL giao tiếp là sự thể hiện và biểu đạt các tư tưởng, ý kiến, nguyện vọng, thái độ và tình cảm của mình dưới dạng nói, chữ viết hoặc bằng ngôn ngữ thân thể một cách thích hợp với mục tiêu giao tiếp, bối cảnh giao tiếp và ngôn ngữ; có thể đọc hiểu, sẵn sàng tiếp thu và chấp nhận quan điểm của người đối diện ngay kể cả khi bất đồng ý kiến. NL giao tiếp toán học 1. Khái niệm NL giao tiếp trong Toán học là một trong các vấn đề băn khoăn của mọi HS trên thế giới.
Brandee Wilson đã đề xuất GV nên tạo điều kiện giúp HS rèn luyện NL giao tiếp bằng cả cách nói chuyện và viết lách: "Sự hiểu biết của HS sẽ nâng dần nếu họ có thể truyền đạt ý tưởng của bản thân theo những cách thức khác nhau.