CHƯƠNG 1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Khát quát về hoạt động trải nghiệm 1. Khái niệm trải nghiệm V.Lênin khẳng định: “Thực tiễn cao hơn nhận thức (lý luận) vì nó có ưu điểm không những có tính phổ biến mà của cả tính hiện thực trực tiếp”7.
Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn bắt nguồn từ mối quan hệ giữa con người và thế giới khách quan. Con người luôn tác động tích cực vào thế giới khách quan, tự nhiên và xã hội, cải biến thế giới khách quan bằng thực tiễn. Trong quá trình đó sự phát triển nhận thức của con người và sự biến đổi thế giới khách quan là hai mặt thống nhất. Như vậy có thể thấy, quan điểm về thực tiễn đối với nhận thức của V.Lênin là kim chỉ nam để tổ chức hoạt động trải nghiệm trong dạy học.
Trải nghiệm là nguồn gốc của khoa học phương Tây. Nhiều triết gia, nhà khoa học đã có rất nhiều các phát biểu về vai trò của trải nghiệm. Theo Albert Einstein (1879-1955) cho rằng: “The only source of knowledge is experience” (Nguồn tri thức duy nhất phải tới từ trải nghiệm). Theo Toddthe Fitch và JWatson 2014: “Học trải qua trải nghiệm được xem là nghiên cứu phát triển những năng lực của thế kỷ 21: 4 C: Critial thinking – Communication – Collaboration – Creativity” (Tư duy phản biện – Tiếp xúc – Hợp tác – Sáng tạo).
Như vậy, theo quan điểm của triết học và khoa học, sự trải nghiệm được hiểu là kết quả của sự tương tác giữa con người với thế giới khách quan. Sự tương tác này bao gồm hình thức và kết quả các hoạt động thực tiễn trong xã hội, kỹ thuật và kỹ năng, những nguyên tắc hoạt động và phát triển thế giới khách quan.Lênin, Toàn tập, tập 29, Nxb Tiến bộ Mátxcơva, 1981, 241. 15 Theo nhà triết học vĩ đại người Nga Solovyev V.S: “Trải nghiệm là kiến thức kinh nghiệm thực tế; là thể thống nhất bao gồm kiến thức và kỹ năng. Trải nghiệm là kết quả của sự tương tác giữa con người và thế giới, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác”8.
Trong các nghiên cứu tâm lý học, kinh nghiệm thường được coi là năng lực của cá nhân. nhận định: “Trải nghiệm cũng như sự tích lũy của hiểu biết và năng lực (cá nhân, nhóm) hình thành trong quá trình hoạt động, đào tạo và giáo dục, trong đó tổng hợp những kiến thức, kỹ năng, khả năng và thói quen”. Dưới góc độ của tâm lý học giáo dục, A.Leontiev đã giải quyết được vấn đề trải nghiệm của nhân loại: “Trong cuộc đời mình, con người đã đồng hóa kinh nghiệm của nhân loại, kinh nghiệm của những thế hệ trước. Nó diễn ra dưới hình thức nắm vững kiến thức và ở mức độ làm chủ kiến thức”9.
Trong giáo dục học, lý thuyết về trải nghiệm trở thành đối tượng nghiên cứu. Trải nghiệm dưới góc nhìn sư phạm được hiểu theo một vài ý nghĩa sau: - Trải nghiệm trong đào tạo là một hệ thống kiến thức và kỹ năng có được trong quá trình giáo dục và đào tạo chính quy; - Trải nghiệm là kiến thức, kỹ năng mà trẻ nhận được bên ngoài các cơ sở giáo dục: thông qua sự giao tiếp với nhau, với người lớn, hay qua những tài liệu tham khảo không được giảng dạy trong nhà trường… - Trải nghiệm (qua thực nghiệm, thử nghiệm) là một trong những phương pháp đào tạo, trong điều kiện thực tế hay lý thuyết nhất định, để thiết lập hoặc minh họa cho một quan điểm lý luận cụ thể. - Kinh nghiệm giảng dạy là hệ thống các phương pháp đào tạo được giáo viên đúc kết và cải thiện dần trong quá trình làm việc thực tế của mình. Theo Wikipedia, trải nghiệm là tiến trình hay quá trình hoạt động năng động để thu thập kinh nghiệm, trên tiến trình đó có thể thu thập được những kinh nghiệm tốt hoặc xấu, thu thập được những bình luận, nhận định, rút tỉa 8 Vũ Thị Giang (2015), Quản lí hoạt động trải nghiệm sáng tạo của học sinh ở trường Trung học cơ sở thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh, Luận văn thạc sĩ, ĐH Thái Nguyên, 5.
9 Tài liệu tập huấn trải nghiệm sáng tạo 16 tích cực hay tiêu cực, không rõ ràng, còn tùy theo nhiều yếu tố khác như môi trường sống và tâm địa mỗi người.10 Trong từ điển Tiếng Việt, tác giả Hoàng Phê định nghĩa: “Trải nghiệm được hiểu đơn giản nhất là những gì con người từng kinh qua thực tế, từng biết, từng chịu”11. Hoạt động trải nghiệm là các hoạt động giáo dục thực tiễn được tiến hành song song với hoạt động dạy học trong nhà trường phổ thông. Hoạt động trải nghiệm là một bộ phận của quá trình giáo dục, được tổ chức ngoài giờ học các môn văn hóa ở trên lớp và có mối quan hệ bổ sung, hỗ trợ cho hoạt động dạy học. Như vậy, có thể hiểu: Trải nghiệm là hoạt động giáo dục, trong đó, dưới sự hướng dẫn của nhà giáo dục, từng học sinh được tham gia trực tiếp vào các hoạt động khác nhau của đời sống nhà trường cũng như ngoài xã hội với tư cách là chủ thể của hoạt động, qua đó phát triển năng lực thực tiễn, phẩm chất nhân cách và phát huy tiềm năng sáng tạo của cá nhân mình, có thể thu thập được những kinh nghiệm tốt hoặc xấu, thu thập được những bình luận, nhận định tích cực hay tiêu cực, không rõ ràng, còn tùy theo nhiều yếu tố khác như môi trường sống và bản chất mỗi người.
Đặc điểm của hoạt động trải nghiệm Mang tính định hướng: Hoạt động trải nghiệm tạo cơ hội cho học sinh tiếp cận thực tế, thể nghiệm cảm xúc tích cực, khai thác những kinh nghiệm đã có và huy động tổng hợp kiến thức, kĩ năng của các môn học để thể hiện những nhiệm vụ được giao hoặc giải quyết những vấn đề thực tiễn đời sống nhà trường, gia đình, xã hội phù hợp với lứa tuổi. Thông qua đó, chuyển hóa những kinh nghiệm đã trải qua thành tri thức mới, hiểu biết mới, kĩ năng mới góp phần phát huy tiềm năng sáng tạo và khả năng thích ứng với cuộc sống, môi trường và nghề nghiệp tương lai. Góp phần hình thành, phát triển các phẩm chất chủ yếu, năng lực chung và các năng lực đặc thù cho học sinh: Nội dung hoạt động được xây dựng dựa 10 Dương Giáng Thiên Hương (2017), Hoạt động trải nghiệm sáng tạo – Lí thuyết và vận dụng trong dạy học Tiểu học, Tạp chí khoa học, 3. 17 trên các mối quan hệ của cá nhân học sinh với bản thân, với xã hội, với tự nhiên và với nghề nghiệp.
Nội dung hoạt động trải nghiệm được phân chia theo hai giai đoạn: giai đoạn giáo dục cơ bản và giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp. Ở cấp Tiểu học, hoạt động trải nghiệm tập trung vào các hoạt động khám phá bản thân, hoạt động rèn luyện bản thân, hoạt động phát triển quan hệ với bạn bè, thầy cô và người thân trong gia đình. Các hoạt động xã hội và tìm hiểu một số nghề nghiệp gần gũi với học sinh cũng được tổ chức thực hiện với nội dung, hình thức phù hợp với lứa tuổi. Giúp học sinh khám phá bản thân và thế giới xung quanh: Hoạt động trải nghiệm giúp phát triển đời sống tâm hồn phong phú, biết rung cảm trước cái đẹp của thiên nhiên và tình người, có quan niệm sống và ứng xử đúng đắn, đồng thời bồi dưỡng cho học sinh tình yêu đối với quê hương, đất nước, ý thức về cội nguồn và bản sắc của dân tộc để góp phần giữ gìn, phát triển các giá trị tốt đẹp của con người Việt Nam trong một thế giới hội nhập.
Ở bậc Tiểu học, mục tiêu chính của hoạt động trải nghiệm là giúp hình thành cho học sinh thói quen tích cực trong cuộc sống hằng ngày, chăm chỉ lao động; thực hiện trách nhiệm của người học sinh ở nhà, ở trường và địa phương; biết tự đánh giá và tự điều chỉnh bản thân; hình thành những hành vi giao tiếp, ứng xử có văn hoá; có ý thức hợp tác nhóm và hình thành được năng lực giải quyết vấn đề. Văn miêu tả và việc dạy văn miêu tả ở trường Tiểu học Miêu tả là dùng ngôn ngữ hoặc màu sắc, đường nét, nhạc điệu để cho người khác hình dung được hình thức các sự vật hoặc hình dáng, tâm trạng của con người trong khung cảnh nào đó12. Như vậy có thể hiểu miêu tả là kết tinh của những nhận xét tinh tế, những rung động sâu sắc mà người miêu tả thu nhận được khi quan sát cuộc sống. Để miêu tả cuộc sống một cách sinh động và sáng tạo, người miêu tả cần có phương tiện, có vốn sống, có cảm xúc.
Có nhiều 12 Nguyễn Như Ý (Chủ biên) – Nguyễn Văn Khang – Phan Xuân Thành (2005), Từ điển tiếng Việt thông dung, NXB Giáo dục, 445. 18 phương tiện để miêu tả sự vật, sự việc hoặc thế giới nội tâm của con người như ngôn ngữ, hình ảnh, âm thanh, ánh sáng… Văn miêu tả vẽ những sự vật, sự việc hoặc thế giới nội tâm con người bằng ngôn ngữ. Văn miêu tả có ba đặc điểm lớn: Mang tính thông báo, thẩm mỹ, chứa đựng tình cảm của người viết; có tính sinh động và tạo hình; giàu cảm xúc và hình ảnh13. Trong văn miêu tả, yếu tố miêu tả đóng vai trò quan trọng.
Yếu tố miêu tả giúp người đọc, người nghe hình dung ra những đặc điểm, tính chất nổi bật của sự vật, sự việc, thế giới nội tâm con người…, làm cho chúng hiện lên trước mắt người đọc, người nghe hình dung ra những đặc điểm như vốn có của chúng. Yếu tố miêu tả trong văn miêu tả có tính thẩm mĩ cao, chứa đựng cảm xúc, tình cảm chủ quan của người viết; tính sinh động và tạo hình thể hiện qua từng chi tiết, ngôn ngữ miêu tả giàu cảm xúc và hình ảnh, đa nghĩa. Văn miêu tả ở trường Tiểu học được hiểu là một kiểu văn bản sử dụng phương thức biểu đạt miêu tả. Dạy học văn miêu tả ở trường Tiểu học yêu cầu học sinh học làm những bài tập để hoàn chỉnh một bài văn miêu tả.
Khác với các tác phẩm văn học (thường đan xen miêu tả với tường thuật, với kể chuyện…), bài văn miêu tả ở trường Tiểu học thường rạch ròi giữa miêu tả và kể chuyện, được chia thành nhiều kiểu bài căn cứ vào đối tượng miêu tả (đồ vật, con vật, cây cối, phong cảnh, con người). Các bài văn miêu tả ở trường Tiểu học mang tính quy phạm về độ dài, bố cục, cách tả,…14. Với những lí luận đã phân tích ở trên về văn miêu tả có thể thấy tổ chức các hoạt động trải nghiệm rất phù hợp trong dạy học văn miêu tả.