Skkn nâng cao năng lực sử dụng ngôn ngữ trong dạy học môn ngữ văn 11 qua hình thức tổ chức trò chơi ở trường thpt quỳ hợp 2v

Tài liệu nghiên cứu Skkn nâng cao năng lực sử dụng ngôn ngữ trong dạy học môn ngữ văn 11 qua hình thức tổ chức trò chơi, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Trường đại học

Trường THPT Quỳ Hợp 2

Chuyên ngành

Ngữ văn

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

sáng kiến kinh nghiệm

2021-2022

63
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

PHẦN MỞ ĐẦU

1.1. Lí do chọn đề tài

1.2. Mục đích nghiên cứu

1.3. Đối tượng nghiên cứu

1.4. Phương pháp nghiên cứu

1.5. Bố cục của đề tài

1. CƠ SỞ LÍ LUẬN

1.1. Ngôn ngữ

1.2. Năng lực, năng lực ngôn ngữ và năng lực ngôn ngữ trong môn Ngữ văn

1.2.1. Năng lực

1.2.2. Năng lực ngôn ngữ

1.2.3. Năng lực ngôn ngữ trong môn Ngữ văn ở trường THPT

1.3. Trò chơi và vai trò của trò chơi trong dạy học Ngữ văn

1.3.1. Trò chơi

1.3.2. Vai trò của trò chơi trong dạy và học môn Ngữ văn

1.3.3. Các trò chơi thường sử dụng trong môn Ngữ văn

2. CƠ SỞ THỰC TIỄN

2.1. Khảo sát thực trạng sử dụng ngôn ngữ của học sinh

2.2. Những mặt hạn chế

PHẦN KẾT LUẬN

3.1. Đóng góp của đề tài

3.2. Một số kiến nghị và đề xuất

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Nâng cao năng lực ngôn ngữ Thực trạng và mục tiêu

Phần này khảo sát thực trạng năng lực ngôn ngữ của học sinh THPT Quỳ Hợp 2. Dữ liệu thu thập từ việc dự giờ, khảo sát học sinh và trao đổi với giáo viên cho thấy sự cần thiết phải nâng cao năng lực ngôn ngữ. Nhiều học sinh sử dụng ngôn ngữ chưa chuẩn xác, lạm dụng từ lóng, tiếng địa phương và từ mượn. Mục tiêu của đề tài là đề xuất giải pháp nâng cao năng lực sử dụng ngôn ngữ trong dạy học ngữ văn 11, tập trung vào ba năng lực chính: làm chủ ngôn ngữ, giao tiếp và tạo lập văn bản. Đề tài hướng tới việc cải thiện năng lực ngôn ngữ thông qua phương pháp dạy học tích cực, cụ thể là sử dụng trò chơi giáo dục.

1.1. Thực trạng năng lực ngôn ngữ học sinh THPT Quỳ Hợp 2

Kết quả khảo sát cho thấy học sinh THPT Quỳ Hợp 2 có kỹ năng giao tiếp còn hạn chế. Nhiều em sử dụng ngôn ngữ chưa chuẩn, lạm dụng từ lóng, tiếng địa phương và từ vay mượn. Năng lực đọc hiểunăng lực viết cũng cần được cải thiện. Việc sử dụng cổng nghệ thông tin trong giảng dạy chưa được khai thác triệt để. Giáo viên ngữ văn cần tìm kiếm giải pháp dạy học mới để khắc phục những hạn chế này. Mục tiêu giáo dụcphát triển năng lực ngôn ngữ toàn diện cho học sinh, bao gồm cả kỹ năng nói, kỹ năng nghe, kỹ năng đọckỹ năng viết. Phương pháp dạy học truyền thống chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển năng lực ngôn ngữ hiện đại. Do đó, việc đổi mới phương pháp dạy học là cần thiết, đặc biệt là việc ứng dụng trò chơi trong giáo dục.

1.2. Mục tiêu và phương pháp nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu là tìm ra giải pháp nâng cao chất lượng dạy học ngữ văn 11 tại trường THPT Quỳ Hợp 2. Đề tài tập trung vào việc phát triển ngôn ngữ của học sinh thông qua việc sử dụng trò chơi trong dạy học. Phương pháp nghiên cứu bao gồm cả nghiên cứu lý thuyết và nghiên cứu thực tiễn. Nghiên cứu lý thuyết bao gồm phân tích, tổng hợp và so sánh các tài liệu liên quan đến giáo dục ngữ văn, phát triển năng lực ngôn ngữtrò chơi giáo dục. Nghiên cứu thực tiễn bao gồm dự giờ, khảo sát học sinh và thực nghiệm sư phạm. Dữ liệu thu thập được được phân tích định lượng và định tính để đánh giá hiệu quả của giải pháp đề xuất. Đề tài đưa ra giải pháp dạy học cụ thể, khả thi, góp phần nâng cao năng lực ngôn ngữ cho học sinh. Việc đánh giá năng lực ngôn ngữ được thực hiện dựa trên các tiêu chí đánh giá cụ thể.

II. Ứng dụng trò chơi trong dạy học Ngữ văn 11

Phần này trình bày vai trò của trò chơi giáo dục trong việc phát triển năng lực ngôn ngữ của học sinh. Trò chơi được xem là một phương pháp dạy học tích cực, tạo hứng thú học tập, giúp học sinh ghi nhớ kiến thức hiệu quả hơn. Các loại trò chơi được lựa chọn phù hợp với nội dung bài học ngữ văn 11, tập trung vào việc rèn luyện các kỹ năng ngôn ngữ như kỹ năng nói, kỹ năng viết, kỹ năng đọc hiểukỹ năng thuyết trình. Việc lồng ghép trò chơi vào bài giảng cần được tổ chức bài bản, đảm bảo tính khoa học và hiệu quả.

2.1. Vai trò của trò chơi trong việc phát triển năng lực ngôn ngữ

Trò chơi tạo môi trường học tập hộc tập tích cực, khơi gợi sự tham gia tích cực của học sinh. Trò chơi giúp học sinh rèn luyện kỹ năng giao tiếp, sử dụng ngôn ngữ linh hoạt và hiệu quả trong nhiều ngữ cảnh giao tiếp khác nhau. Trò chơi giúp học sinh rèn luyện kỹ năng tư duy, phát triển tư duy sáng tạo và khả năng giải quyết vấn đề. Việc thiết kế trò chơi cần đảm bảo tính thích hợp với lứa tuổi, nội dung bài họcmục tiêu dạy học. Trò chơi được sử dụng như một công cụ hỗ trợ giáo viên ngữ văn trong việc đánh giá năng lực ngôn ngữ của học sinh. Trò chơi giúp học sinh tự tin thể hiện bản thân, cải thiện kỹ năng thuyết trình và khả năng tương tác. Ứng dụng công nghệ thông tin trong thiết kế và tổ chức trò chơi cũng góp phần nâng cao hiệu quả dạy học.

2.2. Lựa chọn và tổ chức trò chơi hiệu quả

Việc lựa chọn trò chơi cần dựa trên nội dung bài học ngữ văn 11. Trò chơi phải phù hợp với trình độ và khả năng của học sinh. Giáo viên cần chuẩn bị kỹ lưỡng các vật liệu và hướng dẫn chơi rõ ràng. Việc tổ chức trò chơi cần tạo không khí vui vẻ, thoải mái, khuyến khích sự tham gia của tất cả học sinh. Giáo viên cần có vai trò điều khiển, hướng dẫn và tạo điều kiện cho học sinh phát huy năng lực. Đánh giá kết quả của trò chơi cũng là một phần quan trọng trong quá trình dạy học. Trò chơi không chỉ giúp học sinh rèn luyện kỹ năng ngôn ngữ mà còn góp phần xây dựng môi trường học tập tích cực và phát triển toàn diện cho học sinh. Môi trường học tập tích cực sẽ thúc đẩy học sinh chủ động học tập và phát triển năng lực. Học sinh sẽ có kinh nghiệm học tập phong phú và năng lực ngôn ngữ được cải thiện rõ rệt.

III. Kết quả thực nghiệm và đánh giá

Phần này trình bày kết quả thực nghiệm sư phạm của đề tài. Kết quả cho thấy việc ứng dụng trò chơi trong dạy học ngữ văn 11 đã góp phần nâng cao năng lực ngôn ngữ của học sinh. Học sinh tham gia tích cực hơn, hứng thú học tập tăng lên và kỹ năng ngôn ngữ được cải thiện rõ rệt. Đề tài cũng đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng trò chơi trong dạy học.

3.1. Kết quả thực nghiệm

Thực nghiệm được tiến hành tại trường THPT Quỳ Hợp 2 với sự tham gia của học sinh lớp ngữ văn 11. Dữ liệu được thu thập thông qua các phương pháp như quan sát, phỏng vấn, bài kiểm tra và phiếu khảo sát. Kết quả cho thấy việc sử dụng trò chơi đã giúp học sinh tăng cường hứng thú học tập, cải thiện khả năng giao tiếp, nâng cao năng lực đọc hiểunăng lực viết. Kỹ năng thuyết trình của học sinh cũng được cải thiện đáng kể. Mục tiêu phát triển năng lực ngôn ngữ đã đạt được kết quả khả quan. Giáo viên ngữ văn có thể sử dụng trò chơi như một công cụ hỗ trợ hiệu quả trong việc dạy học. Việc đánh giá năng lực ngôn ngữ của học sinh cần được thực hiện một cách toàn diện, không chỉ dựa trên điểm số mà còn dựa trên sự tham gia tích cực của học sinh trong các hoạt động trò chơi.

3.2. Đánh giá và đề xuất

Đề tài đã đạt được các mục tiêu đề ra. Việc sử dụng trò chơi trong dạy học ngữ văn 11 được chứng minh là hiệu quả trong việc nâng cao năng lực ngôn ngữ của học sinh. Tuy nhiên, việc triển khai còn gặp một số khó khăn. Giáo viên cần được tập huấn về phương pháp sử dụng trò chơi trong dạy học. Nhà trường cần tạo điều kiện về cơ sở vật chất để hỗ trợ việc tổ chức trò chơi. Đề tài đề xuất một số giải pháp nhằm khắc phục các khó khăn và phát huy tối đa hiệu quả của việc sử dụng trò chơi trong dạy học. Giải pháp bao gồm việc đa dạng hoá các loại trò chơi, thiết kế trò chơi phù hợp với từng bài học và từng đối tượng học sinh. Giáo viên cần linh hoạt điều chỉnh trò chơi sao cho phù hợp với tình hình thực tế của lớp học. Học sinh cũng cần được hướng dẫn cách tham gia trò chơi hiệu quả.

31/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận và phụ lục đề tài tập trung vào các phần chính: - Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiến. - Đề xuất các biện pháp Nâng cao năng lực sử dụng ngôn ngữ trong dạy học môn Ngữ văn 11 qua hình thức tổ chức trò chơi ở trường THPT Quỳ Hợp 2 - Thực nghiệm sư phạm 2 skkn B. CỞ SỞ LÍ LUẬN 1. Ngôn ngữ Ngôn ngữ là hiện tượng lịch sử - xã hội nảy sinh trong hoạt động thực tiễn của con người.

Trong quá trình cùng nhau lao động, loài người cổ xưa có nhu cầu trao đổi ý nghĩ, dự định, nguyện vọng, tâm tư tình cảm. Nhờ đó đến một giai đoạn phát triển nhất định đã xuất hiện những dấu hiệu quy ước chung để giao tiếp, trong đó có những dấu hiệu âm thanh, từ những tín hiệu này dần dần tạo thành từ ngữ và một hệ thống quy tắc ngữ pháp, đó chính là ngôn ngữ. Ngôn ngữ bao gồm ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết. Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt và quan trọng bậc nhất của loài người; là phương tiện giao tiếp của xã hội và là công cụ tư duy của con người.

Trong thời đại hiện nay, ngôn ngữ là công cụ quan trọng nhất của sự trao đổi văn hoá giữa các dân tộc. Trong cuốn “Ngôn ngữ học đại cương” Tác giả Bùi Ánh Tuyết đã nêu: “Ngôn ngữ là một hệ thống những đơn vị vật chất phục vụ cho việc giao tiếp của con người và được phản ánh trong ý thức tập thể, độc lập với ý tưởng, tình cảm và nguyện vọng cụ thể của con người, trừu tượng hóa khỏi những tư tưởng, tình cảm và nguyện vọng đó” 2. Năng lực, năng lực ngôn ngữ và năng lực ngôn ngữ trong môn Ngữ văn a. Năng lực Hiện nay, định nghĩa về năng lực đã được các nhà nghiên cứu trong các lĩnh vực xã hội học, GD học, triết học, kinh tế học đưa ra.

Theo quan điểm của các nhà tâm lí học, năng lực là tổng hợp các đặc điểm, thuộc tính tâm lí của cá nhân phù hợp với các yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định, nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao. Các năng lực hình thành trên cơ sở của các tư chất tự nhiên, năng lực con người không phải hoàn toàn do tự nhiên mà có phần lớn do lao động, học tập, rèn luyện mà thành. Năm 2001 tại Hội nghị chuyên đề về những năng lực cơ bản của con người tại Hội đồng Châu Âu (OECD) trong bản tổng hợp, phân tích nhiều định nghĩa của các thành viên về năng lực, F. Weinert kết luận: Xuyên suốt quá trình dạy học năng lực được thể hiện như một hệ thống, khả năng, sự thành thạo, hoặc những kỷ năng thiết yếu, có thể giúp con người đủ điều kiện vươn tới một mục đích cụ thể.

Cũng tại diễn đàn này, Denyse Tremblay cho rằng, năng lực là khả năng hành động, thành công và tiến bộ dựa vào việc huy động và sử dụng hiệu quả tổng hợp các nguồn lực để đối mặt với các tình huống trong cuộc sống. Trong cuốn chương trình giáo dục trung học (nguyên bản tiếng Pháp đã được dịch sang tiếng Việt), Bộ Giáo dục Quebec Canada định nghĩa năng lực là: “khả năng thực hiện một nhiệm vụ trọn vẹn, đạt chuẩn kỹ năng tương ứng với ngưỡng quy định khi bước vào thực tế lao động”. 3 skkn Tác giả Đặng Thành Hưng cho rằng, về mặt thực hiện, kỹ năng phản ánh năng lực làm cho tri thức phản ánh năng lực nghĩ và thái độ phản ánh năng lực cảm nhận. Năng lực là: “tổ hợp những hành động vật chất và tinh thần tương ứng với dạng hoạt động nhất định dựa vào những thuộc tính cá nhân (sinh học, tâm lý và giá trị xã hội) được thực hiện tự giác và dẫn đến kết quả phù hợp với trình độ thực tế của hoạt động”.

Theo từ điển tiếng Việt (do Hoàng Phê chủ biên ) “Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hành động nào đó. Năng lực là phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao”. Theo Chương trình giáo dục phổ thông, năng lực được quan niệm là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,. thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể; phẩm chất là những tính tốt thể hiện ở thái độ, hành vi ứng xử của con người; cùng với năng lực tạo nên nhân cách con người.

Trong chương trình dạy học định hướng phát triển năng lực, khái niệm năng lực được sử dụng cụ thể như sau: Như vậy, có thể hiểu một cách ngắn gọn năng lực là khả năng vận dụng tất cả những yếu tố chủ quan (mà bản thân có sẵn hoặc được hình thành qua học tập) để giải quyết các vấn đề trong học tập, công tác và cuộc sống. Năng lực ngôn ngữ Năng lực ngôn ngữ chính là các kiến thức về hệ thống ngôn ngữ và khả năng sử dụng tốt có hiệu quả (ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, chính tả, từ ngữ, câu văn, đoạn văn, văn bản.), nó chính là cơ sở để chúng ta thực hiện giao tiếp. “Thế giới ngôn ngữ của con người được hình thành từ hai nửa, một nửa là năng lực ngôn ngữ(competence) thuộc phạm trù tâm lí và một nửa kia là sự vận dụng ngôn ngữ, tức là năng lực giao tiếp (pefomance) thuộc phạm trù xã hội”.Chomsky, người sáng lập ra lý thuyết Ngôn ngữ học tạo sinh, gọi năng lực ngôn ngữ là ngữ năng và năng lực giao tiếp là ngữ thi và ông quan niệm ngữ thi biểu thị cách dùng ngôn ngữ -hệ thống.Chomsky, ngôn ngữ là một hiện tượng tâm lý đặc thù, mang tính phổ quát. Tất cả các ngôn ngữ đều có cấu trúc nội tại giống nhau, chúng chỉ khác nhau ở những chi tiết về cấu trúc bên ngoài.

Ngôn ngữ và khả năng sử dụng ngôn ngữ có tính bẩm sinh như các năng lực khác của con người. Nó là năng lực bí ẩn mà con người nhờ đó có được cấu trúc nội tại của ngôn ngữ và di truyền (truyền thụ) từ thế hệ này sang thế hệ khác. 4 skkn Năng lực ngôn ngữ rất quan trọng trong cách tiếp cận giao tiếp, hướng tới mục đích đạt được trình độ hiểu và sử dụng chính xác các diễn đạt ngôn ngữ. Trong giao tiếp, ngoài hành động “biểu đạt các ý định bằng hình thái ngôn ngữ thích hợp dựa trên kiến thức và kĩ năng về ngôn ngữ phù hợp với các ngữ cảnh giao tiếp” (tạo lập lời nói) còn phải bao gồm hành động nghe và đọc (tiếp nhận lời nói).

Năng lực ngôn ngữ cũng được hiểu là khả năng sử dụng hệ thống kiến thức ngôn ngữ, hay “bộ mã ngôn ngữ” trong hoạt động thực tế. Năng lực ngôn ngữ trong môn Ngữ văn ở trường THPT. Năng lực ngôn ngữ của học sinh trung học gồm ba năng lực chủ yếu sau đây: năng lực làm chủ ngôn ngữ (tiếng Việt); năng lực sử dụng ngôn ngữ (tiếng Việt) để giao tiếp; năng lực sử dụng ngôn ngữ (tiếng Việt) để tạo lập văn bản. Năng lực làm chủ ngôn ngữ đòi hỏi học sinh phải có một vốn từ ngữ nhất định, hiểu và cảm nhận được sự giàu đẹp của tiếng Việt, nắm được các quy tắc về từ ngữ, ngữ pháp, chính tả để sử dụng tốt tiếng Việt.

Năng lực giao tiếp ngôn ngữ đòi hỏi học sinh phải biết sử dụng thuần thục tiếng mẹ đẻ (tiếng Việt) để giao tiếp trong nhiều tình huống khác nhau với những đối tượng khác nhau trong gia đình, nhà trường và xã hội. Năng lực sử dụng ngôn ngữ để tạo lập văn bản là một năng lực đặc trưng rất quan trọng của năng lực ngôn ngữ học sinh trong nhà trường. Bởi mục đích cuối cùng của nó là để tạo ra được những văn bản chuẩn mực và đẹp. Đó là những văn bản nghị luận (gồm nghị luận chính trị xã hội và nghị luận văn học), những văn bản nghệ thuật (kể chuyện, tả cảnh, tả người,…) và những văn bản khác (viết báo, viết đơn, làm báo cáo,…).

Để tạo lập được các văn bản trên, học sinh phải biết tạo lập ý, sắp xếp ý thành dàn bài, và viết thành bài văn hoàn chỉnh. Trong Chương trình GDPT tổng thể 2018, cũng đưa ra yêu cầu cần đạt về năng lực ngôn ngữ ở cấp trung học phổ thông là: Biết vận dụng kiến thức tiếng Việt và kiến thức về bối cảnh lịch sử, xã hội, tư tưởng, triết học và quan niệm thẩm mĩcủa các thời kì để hiểu các văn bản khó hơn (thể hiện qua dung lượng, độ phức tạp và yêu cầu đọc hiểu). Biết phân tích, đánh giá nội dung và đặc điểm nổi bật về hình thức biểu đạt của văn bản, nhất là những tìm tòi sáng tạo về ngôn ngữ, cách viết và kiểu văn bản. Học sinh có cách nhìn, cách nghĩ về con người và cuộc sống theo cảm quan riêng; thấy được vai trò và tác dụng của việc đọc đối với bản thân.

Trò chơi và vai trò của trò chơi trong dạy học Ngữ văn a. Trò chơi Trò chơi là một loại hình giải trí, thư giãn, là món ăn tinh thần không thể thiếu trong cuộc sống của mỗi con người. Đây là hoạt động vui chơi giải trí của con người với mục đích “học mà chơi, chơi mà học”. Trò chơi sẽ lôi cuốn, hấp dẫn các em tham gia các hoạt động chủ yếu nhằm mục vui chơi giải trí và thư giãn sau 5 skkn những giờ làm việc căng thẳng mệt mỏi.

Thông qua hoạt động trò chơi các học sinh sẽ được rèn luyện trí lực, thể chất và tạo cơ hội cho các em giao lưu hợp tác cùng nhau tham gia các hoạt động. Vai trò của trò chơi trong dạy và học môn Ngữ văn Trong môn Ngữ văn, trò chơi sẽ giúp các em thay đổi hình thức hoạt động, để tạo bầu không khí thoải mái, giảm bớt căng thẳng cho các em học sinh, từ đó tạo cho các em tính tự giác, tính tích cực và phát triển các năng lực tư duy sáng tạo, giải quyết vấn đề, góp phần nâng cao hiệu quả và chất lượng trong dạy học bộ môn Ngữ văn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nâng cao năng lực ngôn ngữ trong dạy học ngữ văn 11 qua trò chơi tại THPT Quỳ Hợp 2" tập trung vào việc sử dụng trò chơi như một phương pháp giảng dạy hiệu quả để nâng cao năng lực ngôn ngữ cho học sinh lớp 11. Tác giả chỉ ra rằng việc áp dụng các trò chơi trong quá trình học không chỉ giúp học sinh tiếp thu kiến thức một cách tự nhiên mà còn kích thích sự sáng tạo và hứng thú trong học tập. Bài viết nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tạo ra môi trường học tập tích cực, nơi học sinh có thể giao tiếp và tương tác với nhau, từ đó phát triển kỹ năng ngôn ngữ một cách toàn diện.

Để mở rộng thêm kiến thức về các phương pháp dạy học và phát triển năng lực ngôn ngữ, bạn có thể tham khảo bài viết "Luận án tiến sĩ quản lý dạy học môn ngữ văn trường trung học cơ sở thành phố hà nội theo hướng phát triển năng lực người học", nơi cung cấp cái nhìn sâu sắc về quản lý dạy học ngữ văn. Ngoài ra, bài viết "Luận văn vận dụng hình thức nhật kí đọc sách vào việc dạy đọc hiểu văn bản thơ ở trường phổ thông" sẽ giúp bạn khám phá thêm về phương pháp dạy đọc hiểu văn bản. Cuối cùng, bài viết "Skkn rèn năng lực giao tiếp cho học sinh qua hai kĩ năng nói viết trong dạy học tiếng việt môn ngữ văn thpt" sẽ cung cấp những chiến lược hữu ích để cải thiện kỹ năng giao tiếp cho học sinh. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về việc nâng cao năng lực ngôn ngữ trong giáo dục.