phần mở đầu, kết luận và phụ lục đề tài tập trung vào các phần chính: - Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiến. - Đề xuất các biện pháp Nâng cao năng lực sử dụng ngôn ngữ trong dạy học môn Ngữ văn 11 qua hình thức tổ chức trò chơi ở trường THPT Quỳ Hợp 2 - Thực nghiệm sư phạm 2 skkn B. CỞ SỞ LÍ LUẬN 1. Ngôn ngữ Ngôn ngữ là hiện tượng lịch sử - xã hội nảy sinh trong hoạt động thực tiễn của con người.
Trong quá trình cùng nhau lao động, loài người cổ xưa có nhu cầu trao đổi ý nghĩ, dự định, nguyện vọng, tâm tư tình cảm. Nhờ đó đến một giai đoạn phát triển nhất định đã xuất hiện những dấu hiệu quy ước chung để giao tiếp, trong đó có những dấu hiệu âm thanh, từ những tín hiệu này dần dần tạo thành từ ngữ và một hệ thống quy tắc ngữ pháp, đó chính là ngôn ngữ. Ngôn ngữ bao gồm ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết. Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt và quan trọng bậc nhất của loài người; là phương tiện giao tiếp của xã hội và là công cụ tư duy của con người.
Trong thời đại hiện nay, ngôn ngữ là công cụ quan trọng nhất của sự trao đổi văn hoá giữa các dân tộc. Trong cuốn “Ngôn ngữ học đại cương” Tác giả Bùi Ánh Tuyết đã nêu: “Ngôn ngữ là một hệ thống những đơn vị vật chất phục vụ cho việc giao tiếp của con người và được phản ánh trong ý thức tập thể, độc lập với ý tưởng, tình cảm và nguyện vọng cụ thể của con người, trừu tượng hóa khỏi những tư tưởng, tình cảm và nguyện vọng đó” 2. Năng lực, năng lực ngôn ngữ và năng lực ngôn ngữ trong môn Ngữ văn a. Năng lực Hiện nay, định nghĩa về năng lực đã được các nhà nghiên cứu trong các lĩnh vực xã hội học, GD học, triết học, kinh tế học đưa ra.
Theo quan điểm của các nhà tâm lí học, năng lực là tổng hợp các đặc điểm, thuộc tính tâm lí của cá nhân phù hợp với các yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định, nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao. Các năng lực hình thành trên cơ sở của các tư chất tự nhiên, năng lực con người không phải hoàn toàn do tự nhiên mà có phần lớn do lao động, học tập, rèn luyện mà thành. Năm 2001 tại Hội nghị chuyên đề về những năng lực cơ bản của con người tại Hội đồng Châu Âu (OECD) trong bản tổng hợp, phân tích nhiều định nghĩa của các thành viên về năng lực, F. Weinert kết luận: Xuyên suốt quá trình dạy học năng lực được thể hiện như một hệ thống, khả năng, sự thành thạo, hoặc những kỷ năng thiết yếu, có thể giúp con người đủ điều kiện vươn tới một mục đích cụ thể.
Cũng tại diễn đàn này, Denyse Tremblay cho rằng, năng lực là khả năng hành động, thành công và tiến bộ dựa vào việc huy động và sử dụng hiệu quả tổng hợp các nguồn lực để đối mặt với các tình huống trong cuộc sống. Trong cuốn chương trình giáo dục trung học (nguyên bản tiếng Pháp đã được dịch sang tiếng Việt), Bộ Giáo dục Quebec Canada định nghĩa năng lực là: “khả năng thực hiện một nhiệm vụ trọn vẹn, đạt chuẩn kỹ năng tương ứng với ngưỡng quy định khi bước vào thực tế lao động”. 3 skkn Tác giả Đặng Thành Hưng cho rằng, về mặt thực hiện, kỹ năng phản ánh năng lực làm cho tri thức phản ánh năng lực nghĩ và thái độ phản ánh năng lực cảm nhận. Năng lực là: “tổ hợp những hành động vật chất và tinh thần tương ứng với dạng hoạt động nhất định dựa vào những thuộc tính cá nhân (sinh học, tâm lý và giá trị xã hội) được thực hiện tự giác và dẫn đến kết quả phù hợp với trình độ thực tế của hoạt động”.
Theo từ điển tiếng Việt (do Hoàng Phê chủ biên ) “Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hành động nào đó. Năng lực là phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao”. Theo Chương trình giáo dục phổ thông, năng lực được quan niệm là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,. thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể; phẩm chất là những tính tốt thể hiện ở thái độ, hành vi ứng xử của con người; cùng với năng lực tạo nên nhân cách con người.
Trong chương trình dạy học định hướng phát triển năng lực, khái niệm năng lực được sử dụng cụ thể như sau: Như vậy, có thể hiểu một cách ngắn gọn năng lực là khả năng vận dụng tất cả những yếu tố chủ quan (mà bản thân có sẵn hoặc được hình thành qua học tập) để giải quyết các vấn đề trong học tập, công tác và cuộc sống. Năng lực ngôn ngữ Năng lực ngôn ngữ chính là các kiến thức về hệ thống ngôn ngữ và khả năng sử dụng tốt có hiệu quả (ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, chính tả, từ ngữ, câu văn, đoạn văn, văn bản.), nó chính là cơ sở để chúng ta thực hiện giao tiếp. “Thế giới ngôn ngữ của con người được hình thành từ hai nửa, một nửa là năng lực ngôn ngữ(competence) thuộc phạm trù tâm lí và một nửa kia là sự vận dụng ngôn ngữ, tức là năng lực giao tiếp (pefomance) thuộc phạm trù xã hội”.Chomsky, người sáng lập ra lý thuyết Ngôn ngữ học tạo sinh, gọi năng lực ngôn ngữ là ngữ năng và năng lực giao tiếp là ngữ thi và ông quan niệm ngữ thi biểu thị cách dùng ngôn ngữ -hệ thống.Chomsky, ngôn ngữ là một hiện tượng tâm lý đặc thù, mang tính phổ quát. Tất cả các ngôn ngữ đều có cấu trúc nội tại giống nhau, chúng chỉ khác nhau ở những chi tiết về cấu trúc bên ngoài.
Ngôn ngữ và khả năng sử dụng ngôn ngữ có tính bẩm sinh như các năng lực khác của con người. Nó là năng lực bí ẩn mà con người nhờ đó có được cấu trúc nội tại của ngôn ngữ và di truyền (truyền thụ) từ thế hệ này sang thế hệ khác. 4 skkn Năng lực ngôn ngữ rất quan trọng trong cách tiếp cận giao tiếp, hướng tới mục đích đạt được trình độ hiểu và sử dụng chính xác các diễn đạt ngôn ngữ. Trong giao tiếp, ngoài hành động “biểu đạt các ý định bằng hình thái ngôn ngữ thích hợp dựa trên kiến thức và kĩ năng về ngôn ngữ phù hợp với các ngữ cảnh giao tiếp” (tạo lập lời nói) còn phải bao gồm hành động nghe và đọc (tiếp nhận lời nói).
Năng lực ngôn ngữ cũng được hiểu là khả năng sử dụng hệ thống kiến thức ngôn ngữ, hay “bộ mã ngôn ngữ” trong hoạt động thực tế. Năng lực ngôn ngữ trong môn Ngữ văn ở trường THPT. Năng lực ngôn ngữ của học sinh trung học gồm ba năng lực chủ yếu sau đây: năng lực làm chủ ngôn ngữ (tiếng Việt); năng lực sử dụng ngôn ngữ (tiếng Việt) để giao tiếp; năng lực sử dụng ngôn ngữ (tiếng Việt) để tạo lập văn bản. Năng lực làm chủ ngôn ngữ đòi hỏi học sinh phải có một vốn từ ngữ nhất định, hiểu và cảm nhận được sự giàu đẹp của tiếng Việt, nắm được các quy tắc về từ ngữ, ngữ pháp, chính tả để sử dụng tốt tiếng Việt.
Năng lực giao tiếp ngôn ngữ đòi hỏi học sinh phải biết sử dụng thuần thục tiếng mẹ đẻ (tiếng Việt) để giao tiếp trong nhiều tình huống khác nhau với những đối tượng khác nhau trong gia đình, nhà trường và xã hội. Năng lực sử dụng ngôn ngữ để tạo lập văn bản là một năng lực đặc trưng rất quan trọng của năng lực ngôn ngữ học sinh trong nhà trường. Bởi mục đích cuối cùng của nó là để tạo ra được những văn bản chuẩn mực và đẹp. Đó là những văn bản nghị luận (gồm nghị luận chính trị xã hội và nghị luận văn học), những văn bản nghệ thuật (kể chuyện, tả cảnh, tả người,…) và những văn bản khác (viết báo, viết đơn, làm báo cáo,…).
Để tạo lập được các văn bản trên, học sinh phải biết tạo lập ý, sắp xếp ý thành dàn bài, và viết thành bài văn hoàn chỉnh. Trong Chương trình GDPT tổng thể 2018, cũng đưa ra yêu cầu cần đạt về năng lực ngôn ngữ ở cấp trung học phổ thông là: Biết vận dụng kiến thức tiếng Việt và kiến thức về bối cảnh lịch sử, xã hội, tư tưởng, triết học và quan niệm thẩm mĩcủa các thời kì để hiểu các văn bản khó hơn (thể hiện qua dung lượng, độ phức tạp và yêu cầu đọc hiểu). Biết phân tích, đánh giá nội dung và đặc điểm nổi bật về hình thức biểu đạt của văn bản, nhất là những tìm tòi sáng tạo về ngôn ngữ, cách viết và kiểu văn bản. Học sinh có cách nhìn, cách nghĩ về con người và cuộc sống theo cảm quan riêng; thấy được vai trò và tác dụng của việc đọc đối với bản thân.
Trò chơi và vai trò của trò chơi trong dạy học Ngữ văn a. Trò chơi Trò chơi là một loại hình giải trí, thư giãn, là món ăn tinh thần không thể thiếu trong cuộc sống của mỗi con người. Đây là hoạt động vui chơi giải trí của con người với mục đích “học mà chơi, chơi mà học”. Trò chơi sẽ lôi cuốn, hấp dẫn các em tham gia các hoạt động chủ yếu nhằm mục vui chơi giải trí và thư giãn sau 5 skkn những giờ làm việc căng thẳng mệt mỏi.
Thông qua hoạt động trò chơi các học sinh sẽ được rèn luyện trí lực, thể chất và tạo cơ hội cho các em giao lưu hợp tác cùng nhau tham gia các hoạt động. Vai trò của trò chơi trong dạy và học môn Ngữ văn Trong môn Ngữ văn, trò chơi sẽ giúp các em thay đổi hình thức hoạt động, để tạo bầu không khí thoải mái, giảm bớt căng thẳng cho các em học sinh, từ đó tạo cho các em tính tự giác, tính tích cực và phát triển các năng lực tư duy sáng tạo, giải quyết vấn đề, góp phần nâng cao hiệu quả và chất lượng trong dạy học bộ môn Ngữ văn.