chương 1. Tính cá thể Lý thuyết tiếp nhận hiện đại đặc biệt chú ý yếu tố cá nhân của chủ thể tiếp nhận. Đó là những đặc tính riêng, chịu chi phối bởi nhiều yếu tố từ chủ quan đến khách quan. Không có tác phẩm văn học nào tồn tại khép kín, với một vẻ mặt duy nhất dành cho tất cả mọi người đến với nó.
Ở đây năng lực, thị hiếu, tính khuynh hướng trong tư tưởng, tình cảm, thị hiếu thẩm mĩ, sở thích cá nhân đóng vai trò rất quan trọng. Tùy theo lứa tuổi già hay trẻ, trình độ học vấn cao hay thấp, vốn sống nhiều hay ít mà có kết quả tiếp nhận cụ thể, riêng biệt cho mỗi người. Ngoài ra người đọc còn bị chi phối bởi kinh nghiệm sống, văn hóa, thời đại, mục đích tiếp nhận… Chính sự chủ động, tích cực của bạn đọc đã làm tăng thêm sức sống của tác phẩm. Người đọc trong hoạt động văn học thuộc nhiều thời đại còn chịu sự chi phối 22 của yếu tố thời gian văn hóa, không gian văn hóa khác nhau.
Mỗi người đọc bằng kiến thức thời đại mình khi lĩnh hội tác phẩm, góp phần bổ sung làm tác phẩm tỏa sáng theo những điểm nhìn, góc độ khác nhau. Mỗi sáng tạo nghệ thuật mang theo tư tưởng, quan điểm, hiểu biết của người sáng tác về cuộc sống, con người, xã hội. Mỗi người tiếp nhận có một vốn sống, một vốn kiến thức nhất định. Sự hiểu biết hạn hẹp của người đọc có thể dẫn đến hiểu sai tác phẩm văn chương.
Chẳng hạn chuyên Tô Đông Pha sửa thơ Vương An Thạch là một ví dụ tiêu biểu. Tô Đông Pha nổi tiếng là một thi sĩ, đại văn gia. Ông không những chống đối Vương An Thạch về đường lối cải cách chính trị mà còn dám sửa cả văn thơ của Vương tể tướng nữa. Trong một bài thơ Vương An Thạch làm có hai câu như sau: Minh nguyệt sơn đầu khiếu ( khiếu = hót) Hoàng khuyển ngọa hoa tâm ( tâm = chính giữa) Tô Đông Pha chê Vương An Thạch dốt, viết sai vì cho rằng: Trăng sáng làm sao mà hót trên đầu núi được? Con chó vàng làm sao mà nằm trong lòng hoa được? Ông bèn phóng bút sửa hai câu thơ trên lại như sau: Minh nguyệt sơn đầu chiếu (chiếu = sáng) Hoàng khuyển ngọa hoa âm (âm = bóng mát) Dịch nghĩa là: Trăng sáng chiếu trên đầu núi Chó vàng nằm dưới bóng hoa.
Vương An Thạch biết chuyện, chỉ cười. Tô Đông Pha sau bị đổi ra đất Hoàng Châu là nơi hoang dã, xa xôi. Nay là Hoàng Giang thuộc tỉnh Hồ Bắc. ở đây ông được biết đến một loài chim tên là “Minh Nguyệt” có tiếng hót rất hay và một loài sâu tên là "Hoàng khuyển" chuyên ăn nhụy hoa, ăn no rồi nằm ngủ và đẻ trứng ngay chính giữa cái hoa.
Như vậy hai câu thơ : “Minh nguyệt sơn đầu khiếu, Hoàng khuyển ngọa hoa tâm” là rất thực và chính xác một trăm phần trăm. Như vậy, người đọc muốn hiểu đúng một tác phẩm văn chương, trước tiên cần phải có kiến thức, có vốn hiểu biết nhất định. Kiến thức càng sâu rộng, người tiếp nhận càng có điều kiện thâm nhập sâu vào tác phẩm, làm sống dậy thế giới hình 23 tượng một cách sinh động nhất. Trong nhà trường, không ít trường hợp học sinh hiểu sai lệch tác phẩm văn chương do không đủ kiến thức để giải mã lớp vỏ ngữ nghĩa của ngôn ngữ mang lại.
Chẳng hạn ở hai câu thơ: Mây giăng ải Bắc trông tin nhạn Ngày xế non Nam bặt tiếng hồng (Ngóng gió đông - Nguyễn Đình Chiểu, SGK Văn 11 cũ) Ở đây tin nhạn, tiếng hồng được chú thích là: “tin tức. Xưa thường dùng chim đưa thư”. Do chú thích sai của SGK đã dẫn đến cách hiểu sai cho HS. Tin nhạn gắn liền với tích Tô Vũ chăn dê.
Ngỗng trời cánh lớn bay cao nên văn học cổ vẫn dùng hình ảnh này để chỉ người tài cao chí lớn (Cánh hồng bay bổng tuyệt vời / Đã mòn con mắt phương trời đăm đăm). Do đó tin nhạn, tiếng hồng phải được chú thích là tiếng tăm của những anh hùng hào kiệt, cụ thể ở đây là tiếng tăm của những thủ lĩnh nghĩa quân chống Pháp ở miền Bắc như Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, ở miền Nam như Thủ khoa Huân, Trương Định. Một trường hợp khác, ở đoạn văn sau: “Chiều, chiều rồi. Một chiều êm ả như ru, văng vẳng tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng ruộng theo gió nhẹ đưa vào”.
Nếu là một em HS chưa từng sống ở miền quê, chưa từng nghe tiếng ếch nhái kêu râm ran vào những buổi chiều tối thì không thể nào cảm nhận được cái buồn thấm thía len lỏi vào tận sâu tâm hồn. Do đó, khi tiếp nhận văn học, người đọc phải có vốn sống, phải hiểu được nghĩa của ngôn từ, điển tích, mô típ của các biểu tượng thẩm mĩ… Khi đến với tác phẩm văn học, chủ thể tiếp nhận không thể tiếp xúc một cách trực tiếp với thế giới, cuộc sống và tình cảm của con người hay của nhà văn được đề cập trong tác phẩm mà chỉ có thể cảm nhận tất cả các điều đó qua ngôn ngữ. Thông qua ngôn ngữ, tác phẩm luôn gợi mở và chứa đựng nhiều ý nghĩa. Mỗi một câu từ, mỗi một biện pháp nghệ thuật chỉ nói lên một phần nhỏ trong mối quan hệ với ý nghĩa nội dung của tác phẩm và mới chỉ là sự diễn đạt bên ngoài của tài năng nghệ sĩ.
Ý nghĩa tiềm tàng của tác phẩm, tài năng thực sự của tác giả luôn nằm trong chiều sâu tư tưởng của ngôn ngữ. Chính vì thế, sự nhạy cảm, trình độ, hứng thú, kinh nghiệm cũng như vốn 24 hiểu biết sẽ tác động đến tư duy của chủ thể (trong việc xây dựng, khám phá ý nghĩa tác phẩm), tạo cho chủ thể những ấn tượng về tác phẩm, mang lại cho tác phẩm những ý nghĩa khác nhau. Yếu tố cá nhân còn thể hiện ở vốn văn hóa khác nhau ở đối tượng tiếp nhận. Mỗi bạn đọc có hành trang văn hóa riêng có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả tiếp nhận trên hành trình khám phá mỗi tác phẩm.
Mỗi cách lí giải tác phẩm đều phản ánh những yếu tố chủ quan trong việc đọc và hiểu tác phẩm. Hoạt động đọc của chủ thể tiếp nhận là hoạt động của ý thức chủ quan hướng tới khách thể là văn bản văn học. Khi nói về cách nhìn, cách cảm khác nhau giữa hai thế hệ nhà thơ cũ và mới, nhà thơ Lưu Trọng Lư nhận xét: “Các cụ ta ưa những màu đỏ choét; ta lại ưa những màu xanh nhạt !. Các cụ bâng khuâng vì tiếng trùng đêm khuya; ta nao nao vì tiếng gà lúc đúng ngọ.
Nhìn một cô gái xinh xắn, ngây thơ các cụ coi như đã làm một điều tội lỗi; ta thì ta cho là mát mẻ như đứng trước một cánh đồng xanh. Cái ái tình của các cụ thì chỉ là sự hôn nhân, nhưng đối với ta thì trăm hình muôn trạng: cái tình say đắm, cái tình thoảng qua, cái tình gần gụi, cái tình xa xôi… cái tình trong giây phút, cái tình ngàn thu, …” [dẫn theo 59,17]. Ý thức hệ của hai thời đại khác nhau đã chi phối cách nhìn, cách nghĩ, cách cảm của họ. Một bên là những nhà Nho chịu ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo mang tính khuôn phép chuẩn mực, một bên là thế hệ những nhà thơ trẻ mang tư tưởng phương Tây mới mẻ, tiến bộ, đã làm nên sự phong phú và đa dạng cho cả sáng tác và tiếp nhận.
Người đọc bị quy định bởi kinh nghiệm tiếp nhận do truyền thống văn học và sự tiếp nhận các tác phẩm trước đó. Bên cạnh đó, đặc điểm lứa tuổi, thị hiếu thẩm mỹ cũng chi phối không nhỏ đến hoạt động tiếp nhận của người đọc. Cùng là tác phẩm văn học nhưng do những lứa tuổi khác nhau (trẻ em, thiếu niên, thanh niên, lứa tuổi trưởng thành), mỗi người sẽ tìm ra những gì mình cần, giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm sẽ được tiếp nhận ở những góc độ thích hợp với năng lực và mục đích từng chủ thể. Ngay cả trong bản thân người đọc, ở những thời điểm khác nhau, tâm trạng khác nhau thì sự tiếp nhận đôi khi cũng không giống nhau.
Từ tác phẩm “Dế mèn phiêu lưu kí” (Tô Hoài), người đọc lúc nhỏ có thể tìm thấy ở đó một thế giới loài vật vui nhộn, thú vị, 25 nhưng ở một lúc khác, người đọc có thể tìm triết lí nhân sinh sâu sắc được gửi gắm qua thế giới hình tượng ấy. Qua mỗi lần tiếp nhận, người đọc đã thổi suy nghĩ, tình cảm của mình vào tác phẩm, đã khám phá lại, phát hiện lại, làm cho chúng không bao giờ cũ mà luôn mới mẻ. Qua cách thưởng thức của riêng mình, mỗi cá nhân sẽ qui định sự tồn tại của tác phẩm theo mỗi ý nghĩa khác nhau. Giá trị của tác phẩm có phong phú hay không là phụ thuộc phần lớn vào sự phong phú của cá nhân người tiếp nhận.
Tính cá thể còn thể hiện ở động cơ tiếp nhận trong hoạt động tiếp nhận. Yếu tố này thể hiện ở hiệu quả tác động của tác phẩm với mỗi chủ thể khi tiếp nhận. Sau quá trình tiếp nhận, tác phẩm có ảnh hưởng gì đối với mỗi chủ thể? Đó có thể là đáp ứng nhu cầu hưởng thụ và bồi đắp tình cảm thẩm mĩ hoặc để mở mang trí tuệ, bồi dưỡng thêm về tư tưởng, đạo đức, lí tưởng hoặc để tích lũy thêm nhiều kinh nghiệm hay rèn luyện kĩ năng phâm tích, nhận xét và đánh giá… Xuất phát từ đặc trưng về tính cá thể dẫn đến tác phẩm văn chương có nhiều cách tiếp nhận khác, có nhiều cách hiểu, làm nên sự đa dạng và không thống nhất trong tiếp nhận. Chính vì ở mỗi người đọc có vốn sống khác nhau, vốn văn hóa khác nhau, cá tính thẩm mỹ khác nhau, quan điểm sống khác nhau… nên khả năng tiếp nhận văn học của họ cũng đa dạng, phong phú và đầy sáng tạo.
Đó là nhân tố cần thiết và thuận lợi cho quá trình phát huy và phát triển của nền văn học dân tộc, kích thích chủ thể sáng tạo liên tục tìm tòi, đổi mới. Cùng một tác phẩm nhưng sự cảm nhận và đánh giá của công chúng có thể rất khác nhau, thậm chí là đối nghịch. Chẳng hạn, ở tác phẩm “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố, hình ảnh chị Dậu đau đớn bán con, bán chó để cứu chồng đã gây xúc động và cảm thông cho biết bao thế hệ người đọc. Thế nhưng ngày nay, không ít HS lại có cách nhìn khác hẳn.