CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Một số vấn đề về dạy học theo quan điểm phát triển năng lực 1. Khái niệm năng lực Theo Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê (chủ biên), năng lực được hiểu theo hai nét nghĩa: (1) Khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó; (2) Phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một hoạt động nào đó với chất lượng cao [16]. Hiểu theo nét nghĩa thứ nhất, năng lực là một khả năng có thực, được bộc lộ ra thông qua việc thành thạo một hoặc một số kĩ năng nào đó của người học.
Hiểu theo nét nghĩa thứ hai, năng lực là một cái gì đó sẵn có ở dạng tiềm năng của người học có thể giúp họ giải quyết những tình huống có thực trong cuộc sống. Chương trình giáo dục phổ thông của New Zealand nêu một cách ngắn gọn: “Năng lực là một khả năng hành động hiệu quả hoặc là sự phản ứng thích đáng trong các tình huống phức tạp nào đó” [dẫn theo 21, tr.Weinert cho rằng: “Năng lực được thể hiện như một hệ thống khả năng, sự thành thạo hoặc những kĩ năng thiết yếu, có thể giúp con người đủ điều kiện vươn tới một mục đích cụ thể”. [dẫn theo 21, tr. Có thể thấy dù cách phát biểu (câu chữ) có khác nhau nhưng các cách hiểu trên đều khẳng định: “nói đến năng lực là phải nói đến khả năng thực hiện là phải biết làm, chứ không chỉ biết và hiểu.
Tất nhiên hành động (làm) hay thực hiện ở đây phải gắn với ý thức và thái độ; phải có kiến thức và kĩ năng, chứ không phải làm một cách “máy móc”, “mù quáng” [dẫn theo 21, tr. Tiếp thu quan niệm về năng lực của các nước phát triển, Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể của Việt Nam (2017) đã xác định: “Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến 9 thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,.thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể.” [dẫn theo 21, tr.12] Trong luận văn này, người viết lựa chọn cách giải thích về năng lực của tác giả Lê Phương Nga. Theo tác giả Lê Phương Nga, năng lực được hiểu là khả năng huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính tâm lí cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí…, để thực hiện thành công một loại công việc trong một bối cảnh nhất định. Khái niệm phát triển năng lực Từ khái niệm năng lực, chúng tôi xác định rằng phát triển năng lực nghĩa là người giáo viên tổ chức các hoạt động giáo dục nhằm giúp học sinh phát triển những tố chất sẵn có, những năng lực khác còn đang tiềm ẩn trong mỗi HS.
Ở Tiểu học, trừ phần học vần lớp 1, các em được học rất nhiều môn học như: Tập đọc, Tập làm văn, Luyện từ và câu, Chính tả, Kể chuyện và Tập viết. Mỗi phân môn bên cạnh chức năng chung của môn học thường đảm nhận một mục đích chính. Phân môn Tập đọc nhằm phát triển kĩ năng đọc – hiểu; phân môn Luyện từ và câu trên cơ sở cung cấp kiến thức sơ giản về từ và câu nhằm giúp học sinh dùng từ, viết câu, viết đoạn văn đúng quy tắc ngữ pháp tiếng Việt, phân môn Tập làm văn là phân môn thực hành tổng hợp nhằm rèn luyện kĩ năng tạo văn bản nói và viết cho học sinh… Đối với mỗi phân môn, mục tiêu cuối cùng cần hướng tới đó là phát triển năng lực sử dụng tiếng Việt cho người học – năng lực tiếp nhận lời nói và năng lực sản sinh lời nói. Dạy tiếng Việt theo hướng phát triển năng lực chính là quá trình dạy học hướng tới hình thành và phát triển các năng lực sử dụng tiếng Việt cho người học trong môi trường học tập và đời sống theo lứa tuổi.
Muốn phát triển năng lực đọc hiểu, trước hết các nhà giáo dục phải dạy cho học sinh kỹ năng đọc thành tiếng với các yêu cầu học sinh phải đọc tròn vành rõ tiếng các âm tiếng Việt, đọc đúng tốc độ để có thể lĩnh hội được nội 10 dung của văn bản và biết ngắt nghỉ đúng chỗ. Đối với văn bản nghệ thuật lớp 4,5 có thể dạy các em làm quen với cách đọc diễn cảm ở những đoạn giàu cảm xúc. Dạy học phát triển năng lực Trong nhiều năm trước kia, vai trò của việc dạy học là hướng vào nội dung. Mục tiêu của việc dạy học là người giáo viên sẽ cung cấp cho học sinh nhiều lượng kiến thức, nhiều nội dung với mục tiêu càng cung cấp nhiều lượng kiến thức cho học sinh càng tốt.
Học sinh càng biết nhiều càng tốt. Với cách dạy này, học sinh được cung cấp nhiều về kiến thức nhưng lại lúng túng không biết vận dụng những kiến thức đó vào thực hành, vào cuộc sống thực tế. Và như vậy, năng lực tiềm ẩn của mỗi học sinh chưa được phát huy, bộc lộ. Hiện nay, dạy học theo hướng phát triển năng lực đang được nhiều tác giả đề cập đến.
Gần đây (năm 2018), công trình Dạy học phát triển năng lực môn Tiếng Việt Tiểu học, do Đỗ Ngọc Thống (Tổng chủ biên) Đỗ Xuân Thảo (Chủ biên)- Phan Thị Hồ Điệp – Lê Phương Nga đã nêu rõ: mục tiêu cuối cùng của việc dạy học theo hướng phát triển năng lực không phải là cung cấp thật nhiều kiến thức, nhiều nội dung cho học sinh mà là năng lực cần có để sống tốt hơn, làm việc hiệu quả hơn, đáp ứng được những nhu cầu của xã hội đang thay đổi từng ngày. Và như vậy, nội dung, kiến thức chính là phương tiện để đạt được mục đích cuối cùng là năng lực. Với mục tiêu phát triển năng lực cho người học nhưng không có nghĩa là coi nhẹ kiến thức. Bởi lẽ không có kiến thức thì sẽ không có năng lực.
Kiến thức là cái cốt lõi để tạo ra năng lực. Dạy học phát triển năng lực không chỉ quan tâm đến kiến thức, kĩ năng, thái độ…mà còn rất quan tâm đến các hình thức tổ chức, các phương pháp dạy học. Trong mỗi tiết học, người giáo viên cần giúp học sinh cách tiếp cận những kiến thức mới, cách tìm ra những kiến thức mới, cách tự học bằng những hình thức, phương pháp dạy học. Đồng thời học sinh hiểu rằng những 11 tri thức mà mình tìm tòi, khám phá ấy sẽ giúp gì cho mình trong cuộc sống hàng ngày.
Và như vậy, người giáo viên giữ một vai trò vô cùng quan trọng trong việc nêu vấn đề, giao nhiệm vụ, tổ chức cho học sinh các hoạt động dạy học….cùng tham gia với học sinh trong việc tổ chức nhận xét, đánh giá các cá nhân, các tổ nhóm khi trình bày, báo cáo. Để giúp hiểu rõ hơn bản chất của dạy học phát triển năng lực, chúng tôi xin làm phép so sánh giữa dạy học định hướng nội dung với dạy học phát triển năng lực như sau: Bảng 1. Dạy học định hướng nội dung với dạy học phát triển năng lực (Xin xem phụ lục 1) Từ bảng so sánh trên ta có thể rút ra nhận xét sau: Dạy học định hướng nội dung đề cao mặt “Học để nắm tri thức”; dạy học phát triển năng lực cho học sinh đề cao mặt “Học để phát triển những năng lực người học”, giúp cho HS phát triển những năng lực cần có. Nếu như dạy học định hướng nội dung chú trọng đến việc truyền thụ hệ thống tri thức khoa học theo các môn học được quy định trong chương trình dạy học, việc quản lý chất lượng giáo dục tập trung vào “điều khiển đầu vào” là nội dung dạy học thì dạy học định hướng phát triển năng lực tập trung vào việc mô tả chất lượng đầu ra, có thể coi là “sản phẩm cuối cùng” của quá trình dạy học.
Việc quản lý chất lượng dạy học chuyển từ việc điều khiển “đầu vào” sang điều khiển “ đầu ra”, tức là kết quả học tập của học sinh. Có thể nói dạy học định hướng nội dung lấy khối lượng kiến thức, kĩ năng làm mục tiêu hướng tới; do đó càng cung cấp nhiều nội dung, học sinh biết càng nhiều càng tốt. Cách dạy này không quan tâm nhiều đến việc học sinh vận dụng những kiến thức đã học vào việc thực hành, liên hệ hay ứng dụng trong cuộc sống. Hệ quả là học sinh biết rất nhiều nhưng làm không được bao nhiêu, các em rất lúng túng, vụng về khi thực hành.
Dạy học định hướng phát triển năng lực nhằm khắc phục những hạn chế của dạy học theo nội dung. Chính vì vậy, mục tiêu cuối cùng của dạy học 12 phát triển năng lực không phải là hệ thống kiến thức, là khối lượng nội dung, là biết thật nhiều mà là năng lực cần có để làm việc hiệu quả hơn, đáp ứng được những yêu cầu ngày càng cao của xã hội. Tuy nhiên, chú ý mục tiêu phát triển năng lực không có nghĩa là xem nhẹ kiến thức. Bởi lẽ, không có kiến thức thì không có kĩ năng và không có kiến thức, kĩ năng và thái độ thì không có năng lực.
Kiến thức vẫn là cốt lõi để tạo ra năng lực. Dạy học phát triển năng lực quan tâm không chỉ đến các chất liệu ( kiến thức, kĩ năng, thái độ…) mà rất cần chú ý đến cách thức, phương pháp. Sau mỗi giờ học, học sinh không chỉ được mở mang kiến thức mà còn hiểu biết và biết cách tìm ra những tri thức ấy, biết tri thức đó giúp được gì cho mình trong cuộc sống hàng ngày và để đi xa hơn trong tương lai. Tóm lại, dạy học phát triển năng lực vẫn coi trọng nội dung kiến thức.
Tuy nhiên chỉ nội dung, kiến thức thì chưa đủ; cần thay đổi cách dạy, cách học theo hướng học sinh chủ động tham gia kiến tạo nội dung kiến thức, vận dụng kiến thức vào cuộc sống và hình thành phương pháp tự học để có thể học suốt đời. Đọc hiểu và dạy đọc hiểu ở tiểu học 1. Khái niệm đọc hiểu Quan niệm thứ nhất, đọc hiểu là khả năng nhận biết, thấu hiểu, giải thích, sáng tạo, trao đổi, tính toán và sử dụng những tài liệu viết hoặc in kết hợp với những bối cảnh khác nhau. Kĩ năng đọc hiểu (literacy) đòi hỏi sự học hỏi liên tục cho phép một cá nhân đạt được mục đích của mình, phát triển kiến thức, tiềm năng và tham gia một cách đầy đủ trong xã hội rộng lớn.
[Unesco- Dẫn theo Trần Đình Sử 17, tr.