CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm Về kĩ năng, có rất nhiều tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu và đưa ra những quan điểm khác nhau. Trên thế giới có thể kể đến các nhà nghiên cứu: A.Goolubev,…Một số tác giả trong nước như Trần Trọng Thủy, Nguyễn Quang Uẩn, Ngô Công Hoàn, Nguyễn Ánh Tuyết,…Các tác giả đã đưa ra các vấn đề cơ bản về kĩ năng như khái niệm kỹ năng, các giai đoạn hình thành kỹ năng,.
Về khái niệm kĩ năng có thể nêu một số ý kiến như sau: Theo từ điển Hán Việt: “Kĩ năng là khả năng vận dụng tri thức khoa học vào thực tiễn, trong đó khả năng được hiểu là: Sức đã có (về một mặt nào đó) để thực hiện một việc gì” [11, tr. Từ điển Tiếng Việt khẳng định: “Kĩ năng là khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế” [35, tr. Theo giáo trình tâm lý học đại cương thì: “Kĩ năng là năng lực sử dụng các dữ kiện, các tri thức hay khái niệm đã có, năng lực vận dụng chúng để phát hiện những thuộc tính, bản chất của các sự vật và giải quyết thành công những nhiệm vụ lý luận hay thực hành xác định” [12, tr. Theo giáo trình Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý học Sư phạm thì: “Kĩ năng là khả năng vận dụng kiến thức (khái niệm, cách thức, phương pháp) để giải quyết một nhiệm vụ mới” [19, tr.
Tác giả Đào Thị Hoa và Nguyễn Quang Hưởng đã đưa ra khái niệm: “Kĩ năng là khả năng vận dụng tri thức, khái niệm, định nghĩa, định luật vào thực tiễn” [18]. Những ý kiến này bắt nguồn từ quan điểm nghề nghiệp hoặc quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, hầu hết chúng ta đều nhận ra những kĩ năng đó khi 10 chúng ta áp dụng kiến thức vào thực tế. Kĩ năng là những hành động lặp đi lặp lại.
Tài năng luôn có mục đích và có mục đích rõ ràng. Từ đó về bản chất chúng ta có thể hiểu: “Kĩ năng là khả năng thực hiện có kết quả một hành động nào đó bằng cách vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm đã có để hành động phù hợp với những điều kiện cho phép”. Kĩ năng không chỉ đơn thuần biểu hiện về mặt kĩ thuật của hành động, mà còn là biểu hiện của năng lực con người nhằm tạo ra kết quả mong đợi. Đặc điểm của kĩ năng Kĩ năng phải gắn liền với hành động hay hoạt động cụ thể.Plantonvn thì kĩ năng luôn được nhận thức.
Như vậy, hành động hay hoạt động chưa thể gọi là kĩ năng nếu còn mắc sai lầm, vụng về.Gurvitr thì đặc trưng của kĩ năng là khả năng điều chỉnh hành động của mình trong những hoàn cảnh luôn thay đổi. Có thể nói, kĩ năng được cấu thành dựa trên kiến thức và kỹ thuật, vì vậy chuyên gia không chỉ cần để làm việc hiệu quả trong một tình huống cụ thể mà còn phải đạt được kết quả trong những tình huống khác nhau. Như vậy, khi xem xét kĩ năng, có thể thấy kĩ năng bao gồm bốn đặc điểm sau: - Tính đúng đắn đúng - sai: là sự tuân thủ các yêu cầu khách quan về sự thành thạo trong tất cả các kỹ thuật chức năng và thực hiện chính xác. - Tính thành thục: là sự vận động phù hợp các thao tác của kĩ năng với mục đích và điều kiện của hoạt động.
Nguyễn Đức Hưởng cho rằng: “Mức độ hiểu biết về hành động và các thao tác cấu thành hành động; Tốc độ thực hiện hành động, thực hiện các thao tác cấu thành hành động; Tính nhịp nhàng trong phối hợp các thao tác hành động” [18]. Đồng thời, tác giả cũng khẳng định “Việc đánh giá mức độ thuần thục của kĩ năng sẽ dễ nhầm lẫn và sai định hướng nếu chỉ đánh giá ở một khía cạnh đơn lẻ” [7]. 11 - Tính linh hoạt: Đây chính là khả năng thực hiện các hoạt động mà không có thao tác dư thừa. Các hoạt động có tính ổn định, bền vững và sáng tạo.
- Tính hiệu quả: Đây là biểu hiện cao nhất của kĩ năng. Bởi tất cả các hoạt động đều hướng đến đích cuối cùng là thực hiện mục đích, nhằm tới hiệu quả của hoạt động Sự kết hợp giữa tính đúng đắn, thành thục, linh hoạt tạo nên tính hiệu quả của kĩ năng. Các đặc điểm của các kĩ năng được liệt kê ở trên sẽ tạo cơ sở cho việc xây dựng các tiêu chí đánh giá kĩ năng. Kĩ năng vận dụng Toán học vào thực tiễn cho học sinh Tiểu học * Vận dụng Theo từ điển tiếng Việt, “vận dụng và đem tri thức, lí luận dùng vào thực tiễn” [35, tr.1105] * Thực tế, thực tiễn Theo từ điển Tiếng Việt [35, tr.
957]: “Thực tế là nói chung, những gì tồn tại, xảy ra trong tự nhiên và xã hội, trên mọi phương diện liên quan đến đời sống con người; Thực tiễn là hoạt động của con người, trước hết là lao động sản xuất nhằm tạo ra những điều kiện cần thiết cho sự tồn tại của xã hội (nói chung)”. Do đó, thực tế là thực tế nhưng không chỉ tồn tại khách quan. Chúng tôi cũng thấy rằng nó liên quan đến các hành động của con người nhằm định hình lại và thay đổi thực tại có mục đích. * Bài toán thực tiễn Theo Bùi Huy Ngọc: “Bài toán mà trong giả thuyết hay kết luận có chứa nội dung liên quan thực tiễn là bài toán thực tiễn” [34,tr.
Dựa trên quan niệm về thực tiễn, thực hành Bùi Huy Ngọc cũng đưa ra khái niệm “Bài toán thực tiễn là bài toán mà trong giả thiết hay kết luận có chứa đựng nội dung liên quan đến các hoạt động thực tiễn”. Cùng bàn về khái niệm này, Phan Thị Tình cho rằng “Nội dung giả thiết hay kết luận của bài toán có chứa yếu tố thực tiễn thì đó chính là bài toán thực tiễn” [39]. 12 * Vận dụng toán học vào thực tiễn Vận dụng những tri thức toán học vào thực tiễn “là một công cụ quan trọng kết nối các ý tưởng từ các ngành toán học khác để đảm bảo rằng học sinh sử dụng toán học như một cách tiếp cận để hiểu thế giới. Việc vận dụng Toán học vào thực tiễn bao gồm “Kiến thức kết nối về các thủ tục và khái niệm, việc sử dụng toán học trong các chương trình giảng dạy khác, sử dụng toán học trong cuộc sống hàng ngày, một cái nhìn tổng quát về toán học, sử dụng các khái niệm và mô hình toán học trong việc giải quyết các vấn đề trong thế giới thực và các mối liên hệ giữa các biểu diễn toán học của cùng một vấn đề ý tưởng” [tr.
“Việc vận dụng Kiến thức Toán học từ việc dạy học trong nhà trường vào các tình huống thực tế chính là vận dụng tri thức toán học với thực tế” [tr. Từ việc phân tích các khái niệm ở trên, chúng tôi nhận thấy “Kĩ năng vận dụng Toán học vào thực tiễn là khả năng, năng lực của HS huy động và vận dụng các kiến thức, kĩ năng toán học đã học trên lớp hoặc thông qua kinh nghiệm thực tiễn cuộc sống để giải quyết các vấn đề nảy sinh trong các tình huống phức tạp, khác nhau của cuộc sống”. Vậy, kĩ năng vận dụng Toán học vào thực tiễn cho HS Tiểu học “là khả năng vận dụng các kiến thức và phương pháp toán học vào các tình huống thực tiễn hàng ngày”. * Nội dung thực tiễn trong toán học Từ những phân tích trên, chúng tôi kết luận rằng nội dung thực tiễn trong toán học là nội dung phản ánh các tình huống đang tồn tại, diễn ra trong tự nhiên và xã hội, có liên hệ với các sự kiện trong đời sống.
Các tình huống thực tế bao gồm các tình huống trong các lĩnh vực phi toán học và các sự kiện trong các phép toán. Ngoài ra, cũng xem xét mối quan hệ giữa toán học và thực tiễn, Nguyễn Bá Kim nhấn mạnh “mối quan hệ giữa toán học và thực tiễn có tính toàn bộ, tính phổ dụng và tính nhiều tầng” [25, tr. 13 Bằng cách này, chúng tôi thấy rằng tất cả toán học phản ánh thực tế ở một mức độ nào đó. Trong bối cảnh này, chúng tôi chủ yếu quan tâm đến các ứng dụng thực tế trực tiếp (ở mức độ gần đúng và thực tế nhất) và các chủ đề này chủ yếu được phản ánh dưới dạng các bài toán với các yếu tố.
Để làm rõ ý nghĩa cần vận dụng kiến thức toán học để giải quyết vấn đề. Vai trò của toán học đối với đời sống con người, xã hội và sự phát triển cụ thể của toán học có nguồn gốc thực tiễn và cơ bản. Rèn luyện kĩ năng vận dụng Toán học vào thực tiễn cho HS Tiểu học * Rèn luyện Theo từ điển Tiếng Việt, “Rèn luyện là luyện tập nhiều trong thực tế để đạt tới những phẩm chất hay trình độ vững vàng, thông thạo” [35, tr.826] Trên cơ sở nghiên cứu các khái niệm rèn luyện, thực tiễn, bài học thực tiễn, kĩ năng vận dụng toán học vào thực tiễn của các tác giả đi trước, chúng tôi cho rằng: “rèn luyện kĩ năng vận dụng Toán học vào thực tiễn cho HS Tiểu học là việc sử dụng các phương pháp sư phạm để rèn luyện cho HS Tiểu học khả năng vận dụng những kiến thức toán học đã được học để giải quyết các vấn đề toán học trong thực tiễn cuộc sống hàng ngày của HS” 1. Thiết kế và tổ chức hoạt động dạy học * Hoạt động dạy học Theo tác giả Nguyễn Thị Hằng Nga “Hoạt động dạy học của GV mang ý nghĩa là phương tiện, là công cụ hỗ trợ thúc đẩy hoạt động học của HS đúng hướng và hiệu quả” [32].
Tác giả Lê Văn Hồng “Các hoạt động dạy học là các hoạt động cùng nhau của thầy và trò” [tr. Theo Quang Báo và Nguyễn Đức Thành “Các hoạt động học tập được thực hiện theo một chiến lược và chương trình đã định nhằm tác động vào học sinh để hình thành và phát triển các kỹ năng, phẩm chất nhằm hoàn thiện nhân cách của học sinh. 14 Trên cơ sở nghiên cứu các khái niệm của các tác giả đi trước, chúng tôi cho rằng “Hoạt động học tập là mọi hành động có sự phối hợp, tương tác giữa thầy và trò, HS tự giác, tích cực, chủ động trải nghiệm kiến thức, kỹ năng, phát triển năng lực nhận thức, năng lực hành động, hình thành thế giới quan khoa học và các phẩm chất nhân cách”.