CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỢP TÁC CHO HỌC SINH TIỂU HỌC 1. Năng lực và năng lực hợp tác của học sinh tiểu học 1. Khái niệm năng lực Khái niệm năng lực (competency) có nguồn gốc tiếng La tinh “competentia”. Các tác giả đã đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về năng lực.
Theo Bend Meier: Năng lực là một thuộc tính tâm lý phức hợp, là điểm hội tụ của nhiều yếu tố như tri thức, kỹ năng, kĩ xảo, kinh nghiệm, sự sẵn sàng hành động và trách nhiệm đạo đức.[4] Theo từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên có giải thích năng lực là: “khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó. Phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao”. Khái niệm của tác giả cho thấy năng lực là yếu tố thuộc về bản chất của con người, nhờ có năng lực mà con người mới có thể hoàn thành được các công việc có chất lượng cao cũng như những công việc đòi hỏi phải có trình độ, kỹ năng, phẩm chất tương xứng mới có thể thực hiện. Theo tác giả Đinh Quang Báo: “Năng lực là một thuộc tính tích hợp nhân cách, tổ hợp các đặc tính tâm lý của cá nhân, phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động xác định, đảm bảo cho hoạt động đó có kết quả tốt đẹp” [6].
Theo quan điểm của tác giả, năng lực bao gồm các đặc điểm tâm lý của mỗi người bao gồm kiến thức, kỹ năng, phẩm chất, thái độ và những yếu tố này cần thiết để đảm nhận những công việc, nhiệm vụ được giao. Năng lực cũng giúp cá nhân hoàn thành công việc với kết quả đảm bảo yêu cầu. Theo tài liệu tập huấn dạy học và kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển năng lực của học sinh do Bộ giáo dục và đào tạo phát hành năm 2014 cho rằng: “Năng lực được quan niệm là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiến thức, kỹ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân,. nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định”.
Theo Bern Meier và Nguyễn Văn Cường, “Năng lực được coi là khả năng thực hiện có trách nhiệm và đạt được hiệu quả các hành động giải quyết nhiệm vụ, vấn đề trong những tình huống thay đổi thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân khác nhau trên cơ sở hiểu biết kỹ năng, kỹ xảo và kinh nghiệm cũng như khả năng sẵn sàng hành động” [4]. 10 Theo tâm lý học, năng lực là những thuộc tính tâm lý riêng của mỗi cá nhân, nhờ những thuộc tính này mà con người có thể hoàn thành một loạt hoạt động nào đó với kết quả cao. Người có năng lực về một mặt nào đó thì có thể khắc phục được những khó khăn nhanh chóng và dễ dàng hơn so với những người khác. Mặc dù các định nghĩa khác nhau về năng lực, nhưng chúng đều chung quan điểm rằng năng lực liên quan đến khả năng thực hiện và cần có kỹ năng thực tiễn, không chỉ dừng lại ở mức hiểu biết.
Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu, năng lực được hình thành dựa trên kiến thức, kỹ năng, thái độ và trách nhiệm để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Vì vậy, chúng ta có thể hiểu năng lực là khả năng mà con người có thể vận dụng những yếu tố chủ quan (là yếu tố bản thân sẵn có hoặc được hình thành qua quá trình học tập) để giải quyết vấn đề trong học tập, công việc cũng như trong cuộc sống. Hiện nay, các nước thành viên của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế Thế giới (OECD) cũng áp dụng một mô hình đơn giản hơn trong các chương trình giảng dạy, chia năng lực thành hai nhóm chính bao gồm năng lực chung và năng lực chuyên biệt. Một số những năng lực cần thiết cho nhiều hoạt động trong cuộc sống hay còn gọi là năng lực chung, bao gồm: - Nhóm năng lực làm chủ và phát triển bản thân + Năng lực tự học.
+ Năng lực giải quyết vấn đề. + Năng lực tư duy. + Năng lực tự quản lý. - Nhóm năng lực về quan hệ xã hội + Năng lực giao tiếp.
+ Năng lực hợp tác. - Nhóm năng lực công cụ + Năng lực sử dụng các thiết bị công nghệ thông tin và truyền thông. + Năng lực sử dụng ngôn ngữ. + Năng lực tính toán.
Năng lực chuyên biệt là những năng lực thuộc về chuyên môn của mỗi vị trí, công việc. Năng lực này cần phải có để đáp ứng được đòi hỏi bắt buộc của một ngành nghề chuyên biệt nào đó. Cụ thể: 11 - Năng lực sử dụng ngôn ngữ khoa học. - Năng lực thực hành khoa học.
- Năng lực tính toán liên quan đến khoa học. - Năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề thông qua môn khoa học. - Năng lực vận dụng kiến thức khoa học vào cuộc sống. Từ đó có thể thấy, năng lực của con người được hình thành từ sự kết hợp hài hòa giữa năng lực tự nhiên và năng lực trải qua thời gian đào tạo.
Đây là một hệ thống làm nền tảng bên trong và bên ngoài để phát triển thành tài năng cá nhân. Tóm lại, năng lực có thể được định nghĩa là khả năng thực hiện một cách hiệu quả và chịu trách nhiệm các hành động, giải quyết các nhiệm vụ hoặc vấn đề trong lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hoặc cá nhân ở các tình huống khác nhau. Điều này được xây dựng dựa trên sự kết hợp của hiểu biết, kỹ năng, kinh nghiệm, kỹ thuật và thái độ của con người. Cấu trúc và đặc điểm chung của năng lực 1.
Cấu trúc của năng lực Năng lực phát triển, sáng tạo Năng lực trí tuệ Năng lực làm Năng lực cảm Tư duy, tri thức Kỹ năng, kỹ xảo Tình cảm, giá trị Kinh nghiệm thực tiễn của cá nhân Hình 1. Cấu trúc chung của năng lực Qua hình 1.1 có thể nhận thấy, mọi năng lực của con người đều dựa trên nền tảng trực tiếp là trí tuệ, các kỹ năng, kỹ thuật và khả năng cảm nhận logic hoặc phi logic. Năng lực trí tuệ được hình thành từ sự phát triển tư duy, từ khả năng nhận thức và vốn hiểu biết, trình độ học vẫn của từng cá nhân. Năng lực hành động (làm) 12 chủ yếu được hình thành thông qua thời gian với việc rèn luyện nhiều các thao tác, kỹ thuật từ đó con người sẽ có các kỹ năng, kỹ xảo và thói quen.
Năng lực cảm xúc xuất phát từ sự cảm nhận và tình cảm đối với thế giới quan, năng lực này được chỉ dẫn bởi thang giá trị nhất định (thái độ). Nhưng mọi thứ trên gộp lại chưa phải là năng lực. Chúng phải trải qua rèn luyện mới thành năng lực. Năng lực là thuộc tính mới ở cá nhân và có tính ổn định tương đối.
Một khi năng lực đã được hình thành, rất khó có thể phân biệt rõ ràng giữa tri thức, kỹ năng và cảm nhận bởi vì chúng đã được tích hợp lại thành một chất mới trong cá nhân, đó là năng lực 1. Đặc điểm năng lực Theo Đinh Quang Báo [6], năng lực của con người có thể được định nghĩa bằng nhiều quan điểm khác nhau nhưng năng lực về cơ bản có một số đặc điểm nhất định, đó là: - Thứ nhất, năng lực thể hiện khả năng đạt được kết quả nhất định của một công việc hay nhiệm vụ cụ thể và do một người cụ thể tiến hành, ví dụ có thể kể đến như năng lực tư duy, năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực nghiên cứu, năng lực hợp tác…Do đó, không có năng lực không rõ ràng tồn tại. - Thứ hai, đi kèm với năng lực là phải có sự tác động của cá nhân nào đó đến một đối tượng (ví dụ như kiến thức, kỹ năng, thái độ, phẩm chất nghề nghiệp…) để hình thành một sản phẩm nhất định, đó là nền tảng để đánh giá sự khác biệt giữa các cá nhân với nhau. - Năng lực là một yếu tố cấu thành trong một hoạt động cụ thể.
Năng lực chỉ tồn tại trong quá trình vận động, phát triển của một hoạt động cụ thể. Vì vậy, năng lực vừa là mục tiêu, vừa là kết quả hoạt động, nó là điều kiện của hoạt động, nhưng cũng phát triển trong chính hoạt động đó. - Bản chất của năng lực là khả năng của chủ thể kết hợp một cách linh hoạt, có tổ chức hợp lí các kiến thức, kĩ năng với thái độ, giá trị, động cơ, nhằm đáp ứng những yêu cầu phức hợp của một hoạt động, bảo đảm cho hoạt động đó đạt kết quả tốt đẹp trong một bối cảnh (tình huống) nhất định. Biểu hiện của năng lực là biết sử dụng các nội dung và các kĩ năng trong một tình huống có ý nghĩa, chứ không ở tiếp thu lượng tri thức rời rạc.
13 Với những đặc điểm chung rút ra trên đây có tác dụng chỉ đạo quá trình dạy học, giáo dục là muốn hình thành, rèn luyện, đánh giá năng lực ở cá nhân tất yếu phải đưa cá nhân tham gia vào hoạt động làm ra sản phẩm. Năng lực hợp tác 1. Hợp tác Hợp tác là một hoạt động không thể thiếu trong cuộc sống lao động của con người và diễn ra thường xuyên trong cuộc sống hàng ngày của mỗi cá nhân. Hợp tác mang bản chất sinh học tự nhiên của mỗi con người trong xã hội, bởi vì con người là động vật xã hội và cần phải hợp tác với nhau để đạt được mục tiêu chung.
Hợp tác giúp cho việc làm việc trở nên hiệu quả hơn và giúp giải quyết các vấn đề phức tạp một cách dễ dàng hơn. Theo từ điển tiếng Việt: “Hợp tác là cùng chung sức giúp nhau trong một công việc, trong một lĩnh vực hoạt động nào đó nhằm đạt được mục đích chung".[30] Tác giả Nguyễn Thanh Bình cho rằng nếu so sánh các thuật ngữ gần nhau như: hợp tác, hợp lực, cộng tác, phối hợp,. hợp tác được cho là thuật ngữ rộng nhất, bao hàm các nghĩa cơ bản của các từ ngữ còn lại. Hợp tác chứa đựng sự chung sức của “hợp lực” và “cộng tác” để đạt được mục tiêu chung.
Các khái niệm về hợp tác có thể được đưa ra khác nhau, nhưng về nội hàm thì đều thống nhất với những biểu hiện hiệu cụ thể sau đây: - Hoạt động với mục đích chung trên cơ sở mọi người cùng có lợi. - Các cá nhân có năng lực tương ứng sẽ được phân chia nhiệm vụ sao cho phù hợp.