CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Năng lực và năng lực tiếng Việt 1. Khái niệm năng lực Năng lực là khả năng hoặc khả năng của một cá nhân hoặc tổ chức để thực hiện các nhiệm vụ, hoàn thành các mục tiêu hoặc giải quyết các vấn đề. Nó thường được xem xét từ nhiều góc độ khác nhau, bao gồm kỹ năng, kiến thức, kinh nghiệm, tư duy logic, sự sáng tạo, sự lãnh đạo, khả năng làm việc nhóm và nhiều yếu tố khác.
Năng lực không chỉ là về khả năng cá nhân, mà còn liên quan đến cách tổ chức tập hợp và sử dụng tài nguyên (nhân lực, vật lý, tài chính, v.) để đạt được mục tiêu và thành công trong môi trường cụ thể. Các nghiên cứu về năng lực thường tập trung vào việc đánh giá, phát triển và tối ưu hóa các yếu tố này để tăng cường hiệu suất và thành công cá nhân hoặc tổ chức. Trong lĩnh vực giáo dục, khái niệm về năng lực thường liên quan đến khả năng của HS để học và thành thạo các kỹ năng, kiến thức và phẩm chất cần thiết để thực hiện thành công một loạt hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn cụ thể trong cuộc sống và trong các lĩnh vực khác nhau. Một số điểm cơ bản về năng lực có thể kể đến như: Năng lực học tập: Đây là khả năng của HS để hiểu, hấp thụ và áp dụng kiến thức và kỹ năng mới.
Năng lực học tập bao gồm cả khả năng tư duy phản biện, giải quyết vấn đề và sáng tạo. Năng lực xã hội và giao tiếp: Đây là khả năng của HS để tương tác và hợp tác với người khác trong môi trường học tập và xã hội. Nó bao gồm kỹ năng giao tiếp, làm việc nhóm, giải quyết xung đột và lãnh đạo. Năng lực tự quản lý: Năng lực này liên quan đến khả năng của HS để tự tổ chức, lên kế hoạch và duy trì một phong cách sống và học tập lành mạnh và hiệu quả.
Điều này bao gồm kỹ năng quản lý thời gian, tự điều khiển, tự động lực và phản hồi tích cực. Năng lực nghề nghiệp: Trong một khía cạnh rộng hơn, năng lực nghề nghiệp đề cập đến khả năng của HS để áp dụng kiến thức và kỹ năng trong các bối cảnh nghề nghiệp cụ thể. Điều này có thể bao gồm khả năng phát triển sự nghiệp, hòa nhập vào thị trường lao động và phát triển các kỹ năng và phẩm chất cần thiết cho sự nghiệp của họ. Căn cứ theo quy định tại Chương trình GDPT ban hành kèm theo Thông tư 32/2018/TT-BGDĐT có nêu rõ khái niệm năng lực: “Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép 10 con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,.
thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể. Theo đó Chương trình GDPT 2018 hình thành và phát triển cho HS 5 phẩm chất và 10 năng lực: 5 phẩm chất chủ yếu là yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm, 10 năng lực cốt lõi bao gồm cả 3 năng lực chung và 7 năng lực đặc thù. Những tiêu chí này hướng đến việc phát triển toàn diện HS cả về thể chất, tinh thần, kiến thức và cả kỹ năng thực hành cần có. 10 năng lực cốt lõi của HS trong chương trình giáo dục tổng thể được chia ra thành 2 nhóm năng lực chính là năng lực chung và năng lực chuyên môn.
Nhóm 3 năng lực chung là: Tự chủ và tự học; Kỹ năng giao tiếp và hợp tác nhóm với các thành viên khác; Giải quyết vấn đề theo nhiều cách khác nhau một cách sáng tạo và triệt để. Năng lực chung là những năng lực cơ bản, thiết yếu hoặc cốt lõi, làm nền tảng cho mọi hoạt động của con người trong cuộc sống và lao động nghề nghiệp. Các năng lực này được hình thành và phát triển dựa trên bản năng di truyền của con người, quá trình giáo dục và trải nghiệm trong cuộc sống; đáp ứng yêu cầu của nhiều loại hình hoạt động khác nhau. Nhưng năng lực chung sẽ được nhà trường và GV giúp các em HS phát triển trong chương trình GDPT.
11 Nhóm 7 năng lực đặc thù hay còn gọi là năng lực chuyên môn: Ngôn ngữ; Tính toán; Tin học; Thể chất; Thẩm mỹ; Công nghệ; Tìm hiểu tự nhiên và xã hội. Năng lực chuyên môn là những năng lực được hình thành và phát triển trên cơ sở các năng lực chung theo định hướng chuyên sâu, riêng biệt trong các loại hình hoạt động, công việc hoặc tình huống, môi trường đặc thù, cần thiết cho những hoạt động chuyên biệt, đáp ứng yêu cầu hạn hẹp hơn của một hoạt động. Đây cũng được xem như một năng khiếu, giúp các em mở rộng và phát huy bản thân mình nhiều hơn. Đối với đề tài này, chúng tôi tập trung nghiên cứu về năng lực chuyên môn Tiếng Việt, từ đó nghiên cứu phát triển được năng lực MRVT cho HS.
Tìm hiểu về năng lực mở rộng vốn từ tiếng Việt Năng lực tiếng Việt được hiểu là năng lực tiếp nhận văn bản và năng lực sản sinh văn bản (bao gồm văn bản nói và văn bản viết). Năng lực tiếp nhận văn bản bao gồm nghe - hiểu và đọc - hiểu. Tuy nhiên, vì quan niệm cho rằng HS học tiếng Việt với tư cách là tiếng mẹ đẻ nên chúng ta thường nặng về phát triển khả năng đọc - hiểu văn bản của HS; trong khi năng lực nghe - hiểu (như nghe để có ý kiến phản hồi hay nghe người khác đọc, kể câu chuyện và kể lại hoặc tìm hiểu nội dung câu chuyện chẳng hạn) nhiều khi xuất hiện với tần suất khá lớn trong cuộc sống mỗi người nhưng lại chưa được chú ý, kể cả trong dạy học và đánh giá. Năng lực sản sinh văn bản bao gồm năng lực nói, trình bày một vấn đề trước người khác hay thuyết trình trước đông người và năng lực viết (viết đúng chính tả, đúng ngữ pháp và trình bày được một văn bản viết có nội dung đúng mục đích hoặc theo yêu cầu của người khác như một đề tập làm văn chẳng hạn).
Năng lực tiếp nhận văn bản và sản sinh văn bản thường có quan hệ nhân quả: người hay chú ý lắng nghe người khác nói hay tập trung đọc văn bản viết thường có khả năng nói, viết tốt hơn và ngược lại. Căn cứ vào những đặc trưng của dạy học Tiếng Việt, người dạy phải hướng đến phát triển cho HS các năng lực chung (giao tiếp và hợp tác, tự chủ và tự học, giải quyết vấn đề sáng tạo) và năng lực đặc thù (Năng lực ngôn ngữ, Năng lực văn học) bên cạnh đó phát triển 5 phẩm chất (Yêu nước, nhân ái, trung thực, trách nhiệm, chăm chỉ). Môn Tiếng Việt ở trường tiểu học hướng tới mục tiêu hình thành năng lực hoạt động ngôn ngữ (bao gồm cả năng lực tiếp nhận văn bản và năng lực sản sinh văn bản) cho HS với bốn kĩ năng: nghe, nói, đọc và viết. Trong đó, kiến thức tiếng Việt về từ và câu có nhiệm vụ hình thành và phát triển cho HS năng lực sử dụng từ và câu trong học 12 tập và giao tiếp, được dạy học dựa trên quan điểm giao tiếp.
Nếu kĩ năng luyện câu hướng tới các nhiệm vụ: hệ thống lại những kiến thức sơ giản về ngữ pháp mà HS đã tự tích lũy, hình thành các quy tắc dùng từ, đặt câu và tạo lập văn bản trong giao tiếp, thì kĩ năng luyện từ có các nhiệm vụ: làm giàu vốn từ, mở rộng, phát triển vốn từ (phong phú hóa vốn từ), nắm nghĩa của từ (chính xác hóa vốn từ) và luyện tập sử dụng từ (tích cực hóa vốn từ). Như vậy, một trong các nhiệm vụ của việc dạy học kiến thức Tiếng Việt về từ và câu ở trường tiểu học là MRVT. Năng lực MRVT của HS là khả năng HS có thể hiểu, sử dụng và mở rộng vốn từ vựng của mình một cách tự chủ và có định hướng. Điều này bao gồm khả năng nhận biết, ghi nhớ và sử dụng các từ vựng mới trong các ngữ cảnh khác nhau.
Năng lực này không chỉ giúp HS hiểu và giao tiếp một cách hiệu quả hơn, mà còn tạo ra cơ sở cho sự phát triển về kỹ năng đọc, viết và ngôn ngữ nói. Việc MRVT của HSTH là một phần quan trọng của quá trình học tập tiếng Việt ở các trường tiểu học. Nó giúp HS xây dựng nền tảng vững chắc cho việc tiếp thu tri thức mới sau này và cũng là yếu tố quan trọng trong việc phát triển các kỹ năng ngôn ngữ khác. Năng lực này không chỉ đòi hỏi khả năng ghi nhớ từ vựng, mà còn đòi hỏi khả năng sử dụng từ vựng đó trong các ngữ cảnh thực tế.
Điều này có thể bao gồm việc hiểu nghĩa của từ, biết cách sắp xếp từ vựng vào câu hoặc đoạn văn, và khả năng sử dụng từ vựng đó để diễn đạt ý kiến hoặc ý tưởng của bản thân. Để hoàn thành nhiệm vụ này, GV tiểu học có thể lựa chọn nhiều phương pháp dạy học khác nhau. Đề tài này hướng tới nghiên cứu phát triển năng lực MRVT cho HS lớp 3 thông qua xây dựng một số hệ thống BT MRVT đem tới hiệu quả và phản hồi tích cực hơn. Từ tiếng Việt và bài tập mở rộng vốn từ cho học sinh lớp 3 1.
Tìm hiểu về từ tiếng Việt a. Từ vựng Từ vựng là một phần thiết yếu trong ngôn ngữ. Trong tất cả các loại ngôn ngữ hiện nay, nhằm mục đích để có thể sử dụng thành thạo ngôn ngữ đó thì mỗi người sẽ đều cần phải có một lượng từ vựng nhất định. Từ vựng trên thực tế cũng chính là nguyên liệu được sử dụng rất nhiều và có ý nghĩa quan trọng nhất để giúp con người có thể giao tiếp và truyền đạt thông tin".
Vốn từ của cá nhân là toàn bộ các từ và các đơn vị tương đương từ của ngôn ngữ được lưu giữ trong trí óc của cá nhân và được cá nhân đó sử dụng trong hoạt động giao tiếp" [5]. Về mặt tâm lý nhận thức, vốn từ tích lũy trong đầu 13 óc con người được tổ chức thành những hệ thống liên tưởng nhất định. Hệ thống này gồm nhiều đơn vị từ ngữ có những nét chung về hình thức hoặc ý nghĩa được sắp xếp theo tầng bậc và trong tương quan nghĩa với nhau. Nhờ vậy khi đứng trước một đơn vị ngôn ngữ nào đó thì con người dễ dàng nghĩ, liên tưởng đến các đơn vị khác cùng hệ thống.