Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện trong bối cảnh toàn ngành giáo dục Việt Nam đẩy mạnh đổi mới căn bản và toàn diện theo tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW (Hội nghị Trung ương 8 khóa XI) và Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII, khẳng định giáo dục là quốc sách hàng đầu. Sự ra đời của Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 đánh dấu bước chuyển trọng tâm từ truyền thụ kiến thức sang hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh. Ở bậc tiểu học, Tiếng Việt là môn học cốt lõi, đóng vai trò nền tảng ngôn ngữ giúp học sinh tiếp nhận tri thức và phát triển kỹ năng giao tiếp. Trong đó, phân môn Luyện từ và câu, đặc biệt là nội dung mở rộng vốn từ cho học sinh lớp 3, giữ vị trí then chốt nhằm hoàn thiện năng lực từ ngữ và tư duy biểu đạt.

Thực tiễn dạy học cho thấy giáo viên chủ yếu dựa vào các bài tập trong sách giáo khoa Tiếng Việt 3. Dù đảm bảo chuẩn kiến thức, các bài tập trong sách giáo khoa còn lặp lại về dạng thức, số lượng hạn chế do dung lượng trang sách có hạn, thiếu sự tương tác đa phương thức và chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu phân hóa năng lực học sinh. Xuất phát từ thực tế đó, đề tài “Xây dựng hệ thống bài tập phát triển năng lực mở rộng vốn từ cho học sinh lớp 3 (Sách Kết nối tri thức với cuộc sống)” được thực hiện nhằm đề xuất giải pháp bổ trợ tài liệu thực hành có tính khả thi cao.

Mục đích nghiên cứu của khóa luận là nghiên cứu cách thức xây dựng hệ thống bài tập mở rộng vốn từ có cấu trúc, có mục tiêu rõ ràng nhằm giúp học sinh lớp 3 phát triển toàn diện năng lực từ vựng, đồng thời cung cấp công cụ hỗ trợ giáo viên tiểu học thiết kế hoạt động giảng dạy.

Nhiệm vụ nghiên cứu được tác giả xác định và đánh số gồm 4 nhiệm vụ:

  1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về mảng kiến thức mở rộng vốn từ, các năng lực chung và năng lực đặc thù của môn Tiếng Việt.
  2. Khảo sát thực trạng xây dựng hệ thống bài tập mở rộng vốn từ theo hướng phát triển năng lực cho học sinh lớp 3 và phân tích nguyên nhân của thực trạng.
  3. Trên cơ sở phân tích thực trạng và nguyên nhân, đề xuất cách thức xây dựng một số hệ thống bài tập mở rộng vốn từ nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng dạy học phát triển năng lực mở rộng vốn từ cho học sinh lớp 3.
  4. Tổ chức thực nghiệm sư phạm để kiểm nghiệm tính khả thi của hệ thống bài tập mở rộng vốn từ đã đề xuất xây dựng và điều chỉnh nếu cần.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống bài tập phát triển năng lực mở rộng vốn từ cho học sinh lớp 3.
  • Phạm vi nghiên cứu: Tập trung vào nội dung mở rộng vốn từ trong chương trình Tiếng Việt lớp 3 thuộc bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống; địa bàn khảo sát thực trạng và thử nghiệm sư phạm được tiến hành đối với học sinh khối 3 (cụ thể là hai lớp 3A1 và 3A2) và các giáo viên tại Trường Tiểu học Đinh Tiên Hoàng, thành phố Hải Phòng trong năm học 2023 – 2024.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận thiết lập nền tảng lý luận dựa trên các văn bản quy phạm pháp luật giáo dục, các lý thuyết giáo dục quốc tế và các công trình ngôn ngữ học tiếng Việt:

  • Văn bản pháp lý: Chương trình Giáo dục phổ thông ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo, quy định định hướng phát triển 5 phẩm chất chủ yếu (yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm) và 10 năng lực cốt lõi (3 năng lực chung: Tự chủ và tự học, Giao tiếp và hợp tác, Giải quyết vấn đề và sáng tạo; 7 năng lực đặc thù: Ngôn ngữ, Tính toán, Tin học, Thể chất, Thẩm mỹ, Công nghệ, Tìm hiểu tự nhiên và xã hội).
  • Lý thuyết giáo dục và tâm lý học: Khái niệm "Tư duy phát triển" (Growth Mindset) của Carol S. Dweck; khung 9 cách tiếp cận năng lực của Franz E. Weinert (1999); nghiên cứu về bài tập phát triển kỹ năng từ vựng thông qua bản đồ từ và trò chơi ngôn ngữ của Sarkadi Ágnes (2009); quan điểm về động lực và phương pháp dạy học của Khoirudin Asfani và cộng sự (2016).
  • Lý luận phương pháp dạy học tiếng Việt: Quan điểm của tác giả Mai Ngọc Chừ về định nghĩa và đặc trưng ngữ âm, ngữ pháp của từ tiếng Việt; quan điểm của tác giả Lê Phương Nga về 3 nhiệm vụ mở rộng vốn từ ở tiểu học (dạy nghĩa từ, hệ thống hóa hay trật tự hóa vốn từ, sử dụng từ hay tích cực hóa vốn từ); quan điểm của Hoàng Tuyết về cơ chế liên tưởng các trường nghĩa; quan điểm của Phan Thiều và Lê Hữu Tỉnh về cực thu (nghe, đọc) và cực phát (nói, viết) trong thực hành từ ngữ.

Tác giả đã kết hợp hai nhóm phương pháp nghiên cứu chính:

  • Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích và tổng hợp lý thuyết từ các văn kiện, chương trình giáo dục, giáo trình và tài liệu tham khảo chuyên ngành nhằm xây dựng khung khái niệm và luận điểm khoa học.
  • Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
    • Phương pháp quan sát sư phạm: Ghi nhận hành vi, thái độ tiếp thu và thao tác giải bài tập của học sinh trong các tiết học Tiếng Việt.
    • Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Thu thập dữ liệu khảo sát từ 6 giáo viên và 214 học sinh khối 3 Trường Tiểu học Đinh Tiên Hoàng; dự giờ trực tiếp 2 tiết học ("Mở rộng vốn từ về nhà trường" và "Mở rộng vốn từ về thư viện" thuộc chủ điểm "Cổng trường rộng mở").
    • Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: Tham khảo ý kiến đóng góp từ các giảng viên Khoa Giáo dục Tiểu học và Mầm non (Trường Đại học Hải Phòng) và các giáo viên dạy giỏi tại Trường Tiểu học Đinh Tiên Hoàng.
    • Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Áp dụng hệ thống bài tập thiết kế mới trên nhóm lớp thực nghiệm và nhóm lớp đối chứng nhằm đo lường sự biến đổi về mặt định tính và định lượng.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Cơ sở lí luận và thực tiễn

Chương I phân tích các khái niệm nền tảng về năng lực, năng lực tiếng Việt và năng lực mở rộng vốn từ. Vốn từ của cá nhân được nhìn nhận như một hệ thống liên tưởng trong trí nhớ, đòi hỏi việc dạy học phải tác động đồng thời vào việc nhận diện cấu trúc nghĩa và rèn luyện kỹ năng kết hợp từ trong giao tiếp. Về mặt tâm lý học lứa tuổi, học sinh lớp 3 có bước chuyển biến từ nhận thức trực quan hành động sang tư duy trừu tượng sơ giản; khả năng phân loại, so sánh, phân tích đã hình thành nhưng sự chú ý có chủ định chưa bền vững, các em vẫn ghi nhớ máy móc và nhanh quên nếu không được thực hành thường xuyên.

Tác giả thống kê toàn bộ nội dung mở rộng vốn từ trong 35 tuần học của sách giáo khoa Tiếng Việt 3 (bộ Kết nối tri thức với cuộc sống), bao gồm các chủ điểm lớn:

  • Học kì I: Những trải nghiệm thú vị, Cổng trường rộng mở, Mái nhà yêu thương, Cộng đồng gắn bó.
  • Học kì II: Những màu sắc thiên nhiên, Bài học từ cuộc sống, Đất nước ngàn năm, Trái Đất của chúng mình.

Khóa luận phân loại hệ thống bài tập trong sách giáo khoa hiện hành thành 7 dạng cơ bản: (1) Nhận dạng từ rời; (2) Nhận dạng từ có ngữ cảnh; (3) Tìm từ trái nghĩa, đồng nghĩa, gần nghĩa; (4) Tìm từ cùng trường nghĩa; (5) Tìm từ dựa vào khả năng kết hợp của từ; (6) Điền từ vào chỗ trống; (7) Dùng từ đặt câu hoặc viết đoạn văn.

Kết quả khảo sát thực trạng tại Trường Tiểu học Đinh Tiên Hoàng cho thấy sự chênh lệch rõ rệt giữa nhận thức và thực tiễn triển khai:

Nội dung khảo sát Đối tượng Số lượng và tỷ lệ ghi nhận
Mục tiêu dạy mở rộng vốn từ (đạt cả 3 mục tiêu) 6 Giáo viên 6/6 giáo viên (100%)
Đánh giá tầm quan trọng của phát triển năng lực mở rộng vốn từ 6 Giáo viên 6/6 giáo viên đánh giá "Rất quan trọng" (100%)
Mức độ khó của việc dạy kiến thức mở rộng vốn từ 6 Giáo viên 1/6 "Khó" (16,67%); 5/6 "Phụ thuộc vào từng chủ điểm" (83,33%)
Khó khăn: Học sinh ít được thực hành, thiếu hệ thống bài tập 6 Giáo viên 6/6 giáo viên đồng thuận (100%)
Khó khăn: Bài tập mở rộng vốn từ trong SGK còn hạn hẹp 6 Giáo viên 5/6 giáo viên đồng thuận (83,33%)
Nhu cầu xây dựng hệ thống bài tập mở rộng vốn từ bổ trợ 6 Giáo viên 6/6 giáo viên đánh giá "Rất cần thiết" (100%)
Mức độ soạn thêm bài tập theo hướng phát triển năng lực 6 Giáo viên 3/6 "Thường xuyên" (50%); 3/6 "Thỉnh thoảng" (50%)
Mức độ ham thích biết thêm từ mới của học sinh 214 Học sinh 155/214 "Rất thích" (72,43%); 59/214 "Thích" (27,57%)
Thái độ học tập trong giờ mở rộng vốn từ 214 Học sinh 70/214 phát biểu (32,71%); 144/214 chỉ nghe (67,29%)
Đánh giá độ khó của việc học mở rộng vốn từ 214 Học sinh 94/214 "Khó" (43,96%); 97/214 "Tùy chủ điểm" (45,33%)
Thời gian tự học mở rộng vốn từ ở nhà hàng tuần 214 Học sinh 130/214 dành 15–20 phút (60,75%); 64/214 không dành thời gian (29,91%)

Qua dự giờ, tác giả phát hiện hiện tượng học sinh tiếp thu nhanh nhưng thụ động trong diễn đạt; giáo viên chủ yếu phụ thuộc vào ngữ liệu có sẵn trong sách giáo khoa, chưa có hệ thống bài tập phân hóa kích thích tính tích cực ngôn ngữ của học sinh.

Chương II: Cách thức xây dựng hệ thống bài tập phát triển năng lực mở rộng vốn từ cho học sinh lớp 3 trường Tiểu học Đinh Tiên Hoàng

Chương II xác lập ba nguyên tắc chỉ đạo việc biên soạn bài tập:

  1. Đảm bảo yêu cầu cần đạt: Bám sát các chỉ số hành vi về năng lực ngôn ngữ và phẩm chất quy định trong Chương trình Giáo dục phổ thông 2018.
  2. Đảm bảo nội dung của Chương trình Giáo dục phổ thông 2018: Đa dạng hóa hình thức (trắc nghiệm, tự luận, hoạt động nhóm), tích hợp công nghệ thông tin và kích thích tư duy phân tích, phản biện.
  3. Đảm bảo tính vừa sức và phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh: Phân hóa các mức độ nhận thức (dễ, trung bình, khó), tạo cơ hội cho học sinh tự nhận xét và vận dụng vào thực tế giao tiếp.

Tác giả đề xuất quy trình 4 bước xây dựng hệ thống bài tập mở rộng vốn từ theo chủ điểm:

  • Bước 1: Lựa chọn chủ điểm và xác định yêu cầu cần đạt (về kiến thức, kỹ năng, năng lực).
  • Bước 2: Tìm kiếm và tuyển chọn từ vựng tương ứng từ từ điển, ngữ liệu văn bản và đời sống thực tiễn.
  • Bước 3: Thiết kế các dạng bài tập cụ thể với hướng dẫn thao tác tường minh, hấp dẫn.
  • Bước 4: Kiểm tra, đối chiếu yêu cầu cần đạt và hiệu chỉnh hệ thống bài tập.

Hệ thống bài tập do tác giả thiết kế được chia thành các nhóm cấu trúc:

  • Nhóm bài tập mở rộng vốn từ theo chủ điểm.
  • Nhóm bài tập luyện tập mở rộng vốn từ.
  • Nhóm bài tập phát huy vốn sống của học sinh.
  • Nhóm bài tập phát huy năng lực từ.
  • Nhóm bài tập tích cực hóa vốn từ.
  • Nhóm bài tập vận dụng sáng tạo.

Trong khuôn khổ đề tài, tác giả minh họa chi tiết hệ thống bài tập cho chủ điểm "Trường học":

  • Bài tập nhận biết từ vựng:
    • Bài 1 (Loại trừ từ không cùng nhóm): Yêu cầu gạch chân từ khác biệt trong các dãy từ: a) Lớp, trường, giường, bảng, bàn, ghế (từ khác: giường); b) Cô giáo, học sinh, em nhỏ, bạn bè (từ khác: em nhỏ); c) Dạy học, nghe giảng, đọc bài, quét nhà, thảo luận (từ khác: quét nhà).
    • Bài 2 (Xác định từ chỉ hoạt động học tập): Lựa chọn từ ngữ chỉ hoạt động học tập của học sinh giữa các từ gây nhiễu: Vẽ, đọc truyện, hát, giảng bài, giải bài tập, phát biểu, nghe giảng, ghi bài, trò chuyện, múa. Đáp án xác định các từ học tập: vẽ, hát, giải bài tập, phát biểu, nghe giảng, ghi bài; loại trừ các từ chỉ hoạt động của giáo viên (giảng bài) hoặc hoạt động giải trí (đọc truyện, trò chuyện, múa).
  • Bài tập phân loại từ vựng:
    • Bài 3: Yêu cầu phân loại 19 từ ngữ cho sẵn vào 3 cột tương ứng:
      • Từ chỉ sự vật: cô giáo, phượng vĩ, học sinh, trống trường, sân trường, bài tập.
      • Từ chỉ hoạt động: nghe giảng, làm bài, đọc bài, thảo luận, ghi bài, chấm bài, phát biểu.
      • Từ chỉ đặc điểm: chăm chỉ, hiền lành, ngoan ngoãn, thông minh, siêng năng, vui vẻ.

Tác giả phân tích rõ: bài tập nhận diện giúp học sinh hình thành hệ thống trường nghĩa vi mô trong chủ điểm, trong khi bài tập phân loại rèn luyện khả năng gắn kết giữa tri thức từ loại và ngữ nghĩa thực tiễn.

Chương III: Thử nghiệm sư phạm

Chương III triển khai thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm tra tính khả thi và đo lường hiệu quả của hệ thống bài tập đã biên soạn:

  • Mục đích: Đánh giá tác động của hệ thống bài tập mở rộng vốn từ đối với việc nâng cao năng lực sử dụng từ và mức độ hứng thú học tập của học sinh lớp 3.
  • Đối tượng: Thực hiện trên học sinh hai lớp 3A1 và 3A2 thuộc Trường Tiểu học Đinh Tiên Hoàng, thành phố Hải Phòng (được phân chia thành nhóm thử nghiệm và nhóm đối chứng).
  • Nội dung và phương pháp: Triển khai dạy thực nghiệm các bài học mở rộng vốn từ có sử dụng hệ thống bài tập thiết kế mới; quan sát tiến trình làm việc của học sinh; tổ chức kiểm tra đầu vào và đầu ra để thu thập dữ liệu so sánh.
  • Các chỉ số đo nghiệm:
    • Đánh giá định lượng: Phân tích phổ điểm kiểm tra đầu vào và đầu ra giữa nhóm đối chứng và nhóm thử nghiệm (trình bày qua Bảng 3.1a và Biểu đồ 3.1a).
    • Đánh giá định tính: Đánh giá sự chuyển biến về độ tích cực ngôn ngữ, mức độ hiểu nghĩa và khả năng đặt câu (Bảng 3.1b và Biểu đồ 3.1b).
    • Khảo sát phản hồi sau thử nghiệm: Đo lường mức độ vừa sức của bài tập (Bảng 3.1c), mức độ mong muốn tiếp cận thêm các dạng bài tập tương tự (Bảng 3.1d), và mức độ cải thiện hiệu quả mở rộng vốn từ của học sinh (Bảng 3.1e).

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu mang lại các kết quả thực nghiệm và học thuật cụ thể:

  • Dữ liệu thực trạng phản ánh chính xác điểm nghẽn: 100% giáo viên thừa nhận sự thiếu hụt hệ thống bài tập thực hành bổ trợ; 67,29% học sinh chỉ thụ động nghe giảng trong giờ mở rộng vốn từ; 29,91% học sinh hoàn toàn không dành thời gian tự học từ vựng tại nhà.
  • Giải pháp đề xuất: Xây dựng quy trình 4 bước khoa học và phân loại 6 nhóm bài tập mở rộng vốn từ theo hướng tiếp cận năng lực, kết hợp các hình thức học tập qua trò chơi, phân loại bảng và liên hệ ngữ cảnh thực tế.
  • Đóng góp về mặt lý luận: Hệ thống hóa các luận điểm về năng lực tiếng Việt và mở rộng vốn từ theo Chương trình Giáo dục phổ thông 2018; làm rõ đặc điểm nhận thức của học sinh lớp 3 làm căn cứ cho việc thiết kế bài tập từ ngữ.
  • Đóng góp về mặt thực tiễn: Cung cấp tài liệu tham khảo trực tiếp gồm các hệ thống bài tập theo chủ điểm (điển hình là chủ điểm Trường học) có thể ứng dụng trong kế hoạch bài dạy của giáo viên tiểu học đang giảng dạy bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận chỉ ra một số giới hạn thực tiễn:

  • Khảo sát thực trạng và thử nghiệm sư phạm chỉ mới được thực hiện trong phạm vi một trường tiểu học (Trường Tiểu học Đinh Tiên Hoàng, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng) với quy mô 6 giáo viên và 214 học sinh, chưa có điều kiện đối sánh với các trường thuộc địa bàn ngoại thành hoặc vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau.
  • Ngữ liệu nghiên cứu giới hạn trên hệ thống chủ điểm của một bộ sách giáo khoa duy nhất (Kết nối tri thức với cuộc sống), chưa mở rộng so sánh với các bộ sách giáo khoa khác như Cánh Diều hay Chân trời sáng tạo.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng địa bàn thử nghiệm trên nhiều nhóm trường khác nhau; xây dựng hệ thống bài tập mở rộng vốn từ trọn vẹn cho tất cả các chủ điểm của cả năm học; nghiên cứu tích hợp các bài tập từ vựng dưới dạng học liệu điện tử và ứng dụng tương tác đa phương tiện.

Giá trị tham khảo

Tài liệu này hữu ích cho:

  • Sinh viên chuyên ngành Giáo dục Tiểu học: Tham khảo khung lý thuyết về năng lực từ ngữ, phương pháp khảo sát thực trạng bằng bảng hỏi và mô hình thiết kế nghiên cứu thực nghiệm sư phạm.
  • Giáo viên giảng dạy khối lớp 3 tại các trường tiểu học: Trực tiếp sử dụng quy trình 4 bước và hệ thống bài tập mẫu theo chủ điểm để bổ sung vào ngân hàng bài tập thực hành, nâng cao hứng thú học tập và khắc phục tình trạng thiếu hụt bài tập mở rộng vốn từ trong sách giáo khoa.
  • Cán bộ quản lý chuyên môn tổ khối 3: Dùng làm cơ sở thảo luận trong các buổi sinh hoạt chuyên môn về đổi mới phương pháp dạy học phân môn Luyện từ và câu theo định hướng phát triển năng lực.

Câu hỏi thường gặp

1. Khảo sát thực trạng chỉ ra khó khăn lớn nhất của giáo viên khi dạy học mở rộng vốn từ lớp 3 là gì? Theo Bảng khảo sát 1.2d, khó khăn lớn nhất được 100% giáo viên (6/6 người) đồng thuận là học sinh ít được thực hành làm những bài tập nhằm mở rộng vốn từ và nhà trường chưa có hệ thống bài tập bổ trợ phù hợp. Ngoài ra, 83,33% giáo viên nhận định bài tập mở rộng vốn từ trong sách giáo khoa còn hạn hẹp, và 50% cho rằng vốn từ tiếng Việt có tính chất phức tạp.

2. Học sinh lớp 3 tại trường khảo sát dành bao nhiêu thời gian cho việc tự mở rộng vốn từ tại nhà? Theo số liệu Bảng 1.2o từ 214 học sinh: đa số học sinh chỉ dành từ 15 đến 20 phút mỗi tuần cho việc tự học mở rộng vốn từ (chiếm 60,75% với 130 em); có tới 29,91% (64 em) hoàn toàn không dành thời gian tự học; và chỉ có 9,34% (20 em) dành từ 1 giờ trở lên mỗi tuần cho việc tự trau dồi từ ngữ.

3. Khóa luận phân chia nội dung mở rộng vốn từ trong sách giáo khoa Tiếng Việt 3 (Kết nối tri thức với cuộc sống) thành những nhóm dạng bài nào? Tác giả đã rà soát và phân loại các bài tập trong sách giáo khoa thành 7 kiểu dạng chính: bài tập nhận dạng từ rời; bài tập nhận dạng từ có ngữ cảnh; bài tập tìm từ trái nghĩa, đồng nghĩa, gần nghĩa; bài tập tìm từ cùng trường nghĩa; bài tập tìm từ dựa vào khả năng kết hợp của từ; bài tập điền từ vào chỗ trống; và bài tập dùng từ đặt câu hoặc viết đoạn văn.

4. Quy trình xây dựng hệ thống bài tập mở rộng vốn từ theo chủ điểm được tác giả đề xuất gồm những bước nào? Quy trình gồm 4 bước nối tiếp: Bước 1 - Lựa chọn chủ điểm và xác định yêu cầu cần đạt; Bước 2 - Tìm kiếm, chọn lọc từ vựng phù hợp với trình độ học sinh; Bước 3 - Thiết kế bài tập cụ thể (nhận biết, phân loại, đặt câu...) kèm hướng dẫn chi tiết; Bước 4 - Kiểm tra, đánh giá mức độ tương thích với mục tiêu giáo dục và điều chỉnh ngữ liệu.

5. Vì sao nghiên cứu lại chọn đối tượng học sinh lớp 3 để xây dựng hệ thống bài tập mở rộng vốn từ? Theo lý giải của tác giả, học sinh lớp 3 đã vượt qua giai đoạn làm quen ban đầu ở lớp 1 và lớp 2, tư duy phân tích và so sánh bắt đầu phát triển rõ nét, giúp các em có khả năng tiếp nhận hệ thống từ vựng đa dạng hơn. Tuy nhiên, ở lứa tuổi này các em ghi nhớ nhanh nhưng cũng nhanh quên, vốn từ còn hạn chế và dễ thụ động trong giao tiếp nếu không có hệ thống bài tập luyện tập thường xuyên để củng cố.

Kết luận

Khóa luận của sinh viên Tô Thị Lê Minh đã giải quyết một vấn đề cấp thiết trong dạy học Tiếng Việt lớp 3 theo Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 bằng cách xác lập cơ sở khoa học và khảo sát thực trạng toàn diện tại Trường Tiểu học Đinh Tiên Hoàng. Tác giả đã đề xuất thành công quy trình thiết kế cùng hệ thống bài tập mở rộng vốn từ theo chủ điểm có tính phân hóa, chú trọng phát triển đồng bộ kỹ năng nhận diện, phân loại và sử dụng từ ngữ trong giao tiếp thực tiễn. Kết quả thử nghiệm sư phạm bước đầu khẳng định tính khả thi của hệ thống bài tập, đóng góp một nguồn tư liệu chuyên môn hữu ích cho sinh viên sư phạm và giáo viên tiểu học.