CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Năng lực, năng lực toán học, năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề 1. Năng lực NL là một vấn đề khá trừu tượng của tâm lí học.
Khái niệm này cho đến ngày nay vẫn có nhiều cách tiếp cận và cách diễn đạt khác nhau. Theo quan điểm tâm lí học, NL là “tổng hợp các đặc điểm, thuộc tính tâm lí của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao” (Phạm Minh Hạc, [6]). Tuy nhiên, nếu xét riêng về mặt sinh học, có thể tiếp cận NL từ khía cạnh “tự nhiên” - tức là yếu tố bẩm sinh, di truyền, ta có thể nói đến NL tự nhiên “. là loại NL được nảy sinh trên cơ sở những tư chất bẩm sinh di truyền, không cần đến tác động của giáo dục và đào tạo; cho phép con người giải quyết được những yêu cầu tối thiểu, quen thuộc đặt ra cho mình trong cuộc sống” [6].
Các NL hình thành trên cơ sở của các tư chất tự nhiên của cá nhân mới đóng vai trò quan trọng, NL của con người không phải hoàn toàn do tự nhiên mà có, phần lớn do giáo dục, tập luyện. NL được đào tạo là những phẩm chất trong quá trình hoạt động tâm lí tương đối ổn định và khái quát của con người, nhờ nó chúng ta giải quyết được (ở mức độ này hay mức độ khác) một hoặc một vài yêu cầu mới nào đó trong cuộc sống” X.Rubinxtein cho rằng: “NL là toàn bộ các thuộc tính tâm lí làm cho con người thích hợp với một hoạt động có lợi ích xã hội nhất định”. Tâm lí chia NL thành các dạng khác nhau như NL chung và NL chuyên môn. NL được chia thành ba mức độ: NL, tài năng và thiên tài.
Năng lực toán học NL toán học được hiểu là những đặc điểm tâm lí cá nhân (trước hết là những đặc điểm hoạt động trí tuệ) đáp ứng những yêu cầu của hoạt động toán học, được biểu hiện ở một số mặt: NL thực hiện các thao tác tư duy cơ bản. NL rút gọn quá trình lập luận toán học và hệ thống các phép tính. Sự linh hoạt của quá trình tư duy. Khuynh hướng về sự rõ ràng, đơn giản và tiết kiệm của lời giải các bài toán.
NL chuyển dễ dàng từ tư duy thuận sang tư duy nghịch. Trí nhớ về các sơ đồ tư duy khái quát, các quan hệ khái quát trong lĩnh vực số và dấu. Với mỗi người khác nhau thì NL học tập toán học cũng khác nhau. NL này được hình thành và phát triển trong quá trình học tập và rèn luyện của mỗi HS.
Vì thế việc lựa chọn nội dung và phương pháp thích hợp sao cho mỗi HS đều được nâng cao dần về mặt NL là vấn đề quan trọng trong DH toán. Năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề Căn cứ vào những kết quả nghiên cứu đã có về NL phát hiện và GQVĐ (đã trình bày ở phần tổng quan), đặc biệt là quan niệm của PISA (2015, [31]); Nguyễn Bá Kim (2014, [10]) và Nguyễn Anh Tuấn (2003, [30]),. ở luận văn này, chúng tôi hiểu: “NL phát hiện và GQVĐ là một tổ hợp NL thể hiện ở các kỹ năng (thao tác tư duy và hành động) trong quá trình phát hiện và giải quyết những vấn đề”. Để cụ thể hóa NL GQVĐ trong DH môn Toán ở trường phổ thông, chúng tôi nghiên cứu một số công trình trên thế giới và ở Việt Nam về DH GQVĐ và NL GQVĐ, nhìn chung đều có những nhận định tương đối thống nhất về quan niệm và các thành phần của NL GQVĐ trong DH Toán.
Cụ thể: 8 Trong chương trình giáo dục phổ thông tổng thể (ban hành 2018), NL GQVĐ và sáng tạo được xác định gồm 6 thành phần: “1. Nhận ra ý tưởng mới; 2. Phát hiện và làm rõ vấn đề; 3. Hình thành và triển khai ý tưởng mới; 4.
Đề xuất, lựa chọn giải pháp; 5. Thiết kế và tổ chức hoạt động; 6. Tư duy độc lập” [2]. Triển khai cụ thể đối với môn Toán, khi xác định mục tiêu phát triển NL toán học, chương trình môn Toán 2018 đã làm rõ 4 thành phần của NL GQVĐ toán học “Nhận biết, phát hiện được vấn đề cần giải quyết bằng toán học; Lựa chọn, đề xuất được cách thức, giải pháp GQVĐ; Sử dụng được các kiến thức, kĩ năng toán học tương thích (bao gồm các công cụ và thuật toán) để GQVĐ đặt ra; Đánh giá được giải pháp đề ra và khái quát hoá được cho vấn đề tương tự” [3].
Như vậy, có thể thấy NL GQVĐ là mục tiêu quan trọng trong giáo dục con người; là NL trung tâm trong 3 NL chung đối với mọi môn học “NL tự chủ và tự học; NL giao tiếp và hợp tác; NL giải quyết vấn đề và sáng tạo” [2]. Với môn Toán, NL GQVĐ toán học gắn liền với những tình huống học khái niệm, tính chất, định lý, quy tắc, phương pháp toán học, nhất là giải bài tập toán. Bởi lẽ bài tập toán là một VĐ điển hình cần được giải quyết khi học toán, ở đó HS vận dụng tổng hợp những kiến thức, KN môn Toán. Dựa trên kết quả nghiên cứu của Nguyễn Anh Tuấn (2003, [30]); đối chiếu với bốn thành phần NL GQVĐ toán học trong chương trình môn Toán 2018 ([3]), trong phạm vi DH Toán, tác giả luận văn quan niệm: “NL GQVĐ toán học là tổ hợp những NL của HS nhằm thực hiện quá trình phát hiện và GQVĐ nảy sinh trong học Toán”.
NL GQVĐ của HS thể hiện qua những KN thực hiện 4 nhóm HĐ 1. Nhận biết, phát hiện được VĐ; 2. Lựa chọn, đề xuất được hướng GQVĐ; 3. Sử dụng kiến thức, kĩ năng toán học để GQVĐ; 4.
Đánh giá quá trình GQVĐ. 9 Như vậy, trong học Toán, GQVĐ không chỉ là giải bài tập toán, mà còn là khám phá được khái niệm, tính chất, quy tắc, công thức toán học khi HS học kiến thức lý thuyết. Tuy nhiên, có thể thấy: Giải bài tập toán là môi trường tổng hợp để HS tiến hành các HĐ phát hiện và GQVĐ toán học. Chính vì vậy, ngay trong khi học lý thuyết, HS cũng thường được luyện tập vận dụng kiến thức để trả lời câu hỏi, giải bài tập ngắn thông qua những HĐ phát hiện và GQVĐ.1 (HS lớp 6) Cho một hình chữ nhật có chu vi là 40 cm, chiều dài của hình chữ nhật đó là 12 cm.
Tính diện tích của hình chữ nhật? Từ đây, HS có thể đặt ra một bài toán khác mà gần giống như bài toán trên như sau: Cho một hình vuông có diện tích là 64 cm2. So sánh chu vi của hình vuông với hình chữ nhật có chiều dài 40 cm và chiều rộng 6 cm. Yêu cầu học sinh cắt giấy và gấp lại để được hình hộp chữ nhật như hình vẽ Từ đây HS có thể đặt ra bài toán khác mà nó Hình 1.3 (HS lớp 7): Vẽ tam giác đều GV: Đưa ra cho HS yêu cầu “Em hãy dựa vào dấu hiệu nhận biết tam giác đều (ba cạnh bằng nhau, ba góc bằng nhau) để nêu cách vẽ một tam giác đều” HS: Cách 1: Dựa vào tam giác đều phải có 3 cạnh bằng nhau, ta dùng thước kẻ và compa để vẽ tam giác đều. Các bước sử dụng thước kẻ và compa vẽ tam giác đều Tương tự, để vẽ tam giác có 3 góc bằng nhau tạo thành tam giác đều, ta cũng có thể dùng thước đo góc như sau: Cách 2: Dựa vào tính chất tam giác đều có 3 góc bằng nhau và bằng 600, ta dùng thước kẻ và thước đo góc để vẽ tam giác đều như sau: Bước 1: Vẽ cạnh AB của tam giác đều ABC bằng thước kẻ.
[A2] Bước 2: Tại A dùng thước đo góc vẽ góc Ax sao cho góc Bước 3: Trên cùng nửa mặt phẳng bờ AB, tại B dùng thước đo góc vẽ góc By sao cho góc Bước 4 ; Ax và By cắt nhau tại C, ta được tam giác ABC đều.4 (HS lớp 7): Cho HS tìm sai lầm trong lời giải sau: Một quyển lịch để bàn gồm các tờ lịch được đặt trên một giá đỡ bằng bìa có dạng hình lăng trụ đứng tam giác kích thước như hình vẽ. Tính diện tích bìa dùng để làm giá đỡ của quyển lịch. 5 Có một lời giải như sau: Do quyển lịch có dạng là một hình lăng trụ đứng nên diện tích để làm giá đỡ của tấm bìa cũng là diện tích xung quanh của hình lăng trụ đứng. Do đáy của lăng trụ đứng là hình chữ nhật, nên ta tính chiều cao của tam giác cân với kích thước 3 cạnh lần lượt là 20, 20, 7; tìm được kết quả chiều cao của tam giác cân (đồng thời cũng là chiều cao của lăng trụ đứng) bằng 19,7 cm.
Theo công thức diện tích xung quanh, ta có: Phân tích sai lầm: Trong lời giải trên HS đã hiểu không đúng bản chất về diện tích của hình lăng trụ đứng tam giác. Hình lăng trụ đứng tam giác có hai mặt đáy là hai tam giác bằng nhau và các mặt bên là các hình chữ nhật. Cách làm của HS ở trên cho thấy HS đã áp dụng công thức “Chu vi đáy nhân chiều cao” một cách máy móc. Trong hình vẽ hình lăng trụ đứng được đặt nằm làm cho học sinh nhầm lẫn nghĩ mặt đáy nằm ở dưới và là hình chữ nhật nên nghĩ đến việc lấy chu vi của hình chữ nhật nhân với chiều cao của tam giác cân tính được là 19,7 cm.
GV lưu ý HS quan sát kỹ hình vẽ để hiểu đúng bản chất của lăng trụ đứng “có 2 đáy là hai đa giác bằng nhau”, “các mặt bên đều là những hình chữ nhật bằng nhau”. Để tránh được việc nhầm lẫn, ngộ nhận, khi quan sát 12 hình vẽ một cách trực quan, các em cần đối chiếu với những dấu hiệu đã nêu trong định nghĩa khái niệm lăng trụ đứng. Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề Trong [11], Nguyễn Bá Kim đã trình bày và phân tích kỹ về DH GQVĐ Xem như một trong những xu hướng DH không truyền thống giữ vị trí “trung tâm”, làm cơ sở cho những kiểu DH khác. Có thể hiểu một cách vắn tắt “DH phát hiện và GQVĐ là một xu hướng DH không truyền thống mà ở đó người GV tạo ra cho HS những tình huống gợi vấn đề, tổ chức HS chủ động, tích cực suy nghĩ để giải quyết vấn đề”.
DH GQVĐ có cơ sở khoa học rất vững chắc, dựa trên những quy luật cơ bản trong Triết học, Tâm lý học, Giáo dục học.