Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong tiến trình đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, việc chuyển đổi từ phương thức truyền thụ kiến thức một chiều sang phát triển phẩm chất, năng lực người học là định hướng cốt lõi của Chương trình giáo dục phổ thông 2018. Ở cấp tiểu học, Mĩ thuật là môn học bắt buộc nhằm trang bị cho học sinh những kiến thức thẩm mỹ cơ bản, hình thành năng lực quan sát, tư duy hình tượng và khả năng cảm thụ cái đẹp. Trong các mạch nội dung của môn Mĩ thuật, phân môn Vẽ tranh giữ vai trò trọng tâm trong việc khơi gợi cảm xúc thẩm mỹ và rèn luyện kỹ năng biểu đạt thị giác. Tuy nhiên, thực tế dạy học tại các trường tiểu học cho thấy nội dung vẽ tranh phong cảnh, đặc biệt là chủ đề về quê hương, còn lặp lại những khuôn mẫu có sẵn, thiếu sự đa dạng trong cách thức biểu đạt và chưa phát huy được tính sáng tạo cá nhân của học sinh. Xuất phát từ thực tiễn giảng dạy và yêu cầu đổi mới phương pháp sư phạm, tác giả Hoàng Minh Phương (sinh viên lớp ĐHGD Tiểu học 3 - K21, Khoa Giáo dục Tiểu học và Mầm non, Trường Đại học Hải Phòng) đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp với đề tài: "Dạy học phát triển năng lực sáng tạo mĩ thuật cho HS lớp 4, trường Tiểu học Nguyễn Văn Tố, Lê Chân, Hải Phòng thông qua chủ đề về quê hương" dưới sự hướng dẫn khoa học của ThS. Ngô Đức Cường (hoàn thành tháng 4 năm 2024).
Mục đích nghiên cứu của khóa luận là đưa ra một số phương pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy học theo hướng tích cực, chủ động, sáng tạo qua chủ đề cảnh đẹp quê hương cho học sinh lớp 4.
Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định gồm 3 nội dung:
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về việc dạy học phát huy năng lực sáng tạo thông qua chủ đề quê hương cho học sinh lớp 4.
- Khảo sát và đánh giá thực trạng về việc dạy học phát huy năng lực sáng tạo thông qua chủ đề quê hương cho học sinh lớp 4 tại địa bàn nghiên cứu.
- Đề xuất một số phương pháp nhằm tạo hứng thú và phát huy tính tích cực trong dạy học phát huy năng lực sáng tạo Mĩ thuật cho học sinh lớp 4 tại trường Tiểu học Nguyễn Văn Tố, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là một số phương pháp tạo hứng thú và phát huy năng lực trong phân môn vẽ tranh cảnh đẹp quê hương cho học sinh lớp 4. Khách thể nghiên cứu bao gồm giáo viên dạy Mĩ thuật và học sinh khối 4 tại trường Tiểu học Nguyễn Văn Tố, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng. Giả thuyết khoa học được đặt ra là: Nếu xây dựng và thực hiện được các phương pháp dạy học phát huy năng lực sáng tạo qua chủ đề quê hương cho học sinh lớp 4 một cách khoa học, hợp lí thì sẽ góp phần nâng cao hiệu quả dạy học bộ môn Mĩ thuật nói chung và chủ đề quê hương nói riêng.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài được giới hạn như sau:
- Không gian và nội dung: Khảo sát thực trạng và tổ chức thực nghiệm trên học sinh khối lớp 4 tại trường Tiểu học Nguyễn Văn Tố, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng trong các giờ học chính khóa và ngoại khóa môn Mĩ thuật.
- Thời gian nghiên cứu: Đề tài được triển khai thực hiện từ tháng 10 năm 2023 đến tháng 3 năm 2024.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận thiết lập nền tảng lí luận dựa trên hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của ngành giáo dục, tiêu biểu là Điều 28 Chương 2 Luật Giáo dục năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) về yêu cầu phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; bồi dưỡng phương pháp tự học và rèn luyện kỹ năng ứng dụng kiến thức vào thực tiễn. Bên cạnh đó, tác giả sử dụng khung năng lực của Chương trình giáo dục phổ thông 2018 (ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT), trong đó năng lực mĩ thuật bao gồm ba thành phần cơ bản:
- Quan sát và nhận thức thẩm mĩ: Nhận biết các yếu tố tạo hình (chấm, nét, hình, khối, màu sắc, đậm nhạt, chất cảm, không gian); phân biệt màu nóng, màu lạnh; nhận thức không gian xa - gần; xác định nội dung chủ đề và hình thức thực hành sáng tạo.
- Sáng tạo và ứng dụng thẩm mĩ: Phối hợp các kĩ năng cắt, xé, dán, vẽ, in, ghép, nặn, uốn; vận dụng độ đậm nhạt, nóng lạnh của màu; tạo mật độ chấm, nét; biến thể hình khối để mô phỏng đối tượng; thể hiện chất cảm bề mặt và sự hài hòa của bố cục.
- Phân tích và đánh giá thẩm mĩ: Sử dụng ngôn ngữ nói hoặc viết để giới thiệu sản phẩm mĩ thuật; nhận biết chủ đề tác phẩm, bước đầu biết đặt câu hỏi và trao đổi tìm hiểu về tác giả, tác phẩm.
Ngoài ra, khóa luận tiếp cận phương pháp dạy học Mĩ thuật Đan Mạch từ Dự án SAEPS (Science and Art Enhancing Primary School) được Bộ Giáo dục và Đào tạo triển khai từ năm học 2014 - 2015, chú trọng dạy học lấy học sinh làm trung tâm và tích hợp liên hoàn 5 nội dung: Vẽ theo mẫu, Vẽ tranh, Tập nặn tạo dáng, Xé dán và Thường thức Mĩ thuật theo các chủ đề kéo dài từ 2 đến 5 tiết. Nghiên cứu cũng kế thừa các công trình lý luận sư phạm mĩ thuật của Trịnh Thiệp và Ung Thị Châu (2009), Nguyễn Quốc Toản (2001), Nguyễn Thu Tuấn, Nguyễn Thị Đông (2016) và Nguyễn Thị Nhung (2016).
Để giải quyết các nhiệm vụ đề ra, tác giả kết hợp 4 phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Phương pháp quan sát: Theo dõi các hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học tập của học sinh trong giờ Mĩ thuật chính khóa và ngoại khóa.
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Thu thập dữ liệu định lượng qua phiếu trưng cầu ý kiến của 40 giáo viên và 50 học sinh khối lớp 4.
- Phương pháp phỏng vấn: Trao đổi trực tiếp với giáo viên chuyên trách môn Mĩ thuật để làm rõ những khó khăn, thuận lợi trong thực tiễn giảng dạy.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức dạy học thực nghiệm theo các biện pháp mới tại lớp thực nghiệm và lớp đối chứng để đánh giá hiệu quả tác động.
Nguồn dữ liệu của nghiên cứu bao gồm số liệu thống kê cơ sở vật chất, nhân sự và kế hoạch năm học 2023 - 2024 của Trường Tiểu học Nguyễn Văn Tố; dữ liệu định lượng trích xuất từ 40 phiếu điều tra giáo viên, 50 phiếu điều tra học sinh và kết quả chấm điểm sản phẩm thực hành của học sinh trước và sau thực nghiệm.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài
Chương 1 hệ thống hóa các khái niệm về năng lực sáng tạo, đặc điểm nhận thức của học sinh tiểu học (chuyển dần từ tư duy trực quan hành động sang tư duy trừu tượng, tưởng tượng sáng tạo phát triển gắn liền với rung động tình cảm) và tổng quan về chương trình môn Mĩ thuật lớp 4 với thời lượng 35 tiết/năm học. Cấu trúc chương trình gồm 8 chủ đề chính, trong đó chủ đề về quê hương chiếm vị trí đáng kể với Chủ đề 3: "Cảnh đẹp quê hương" (4 tiết) và Chủ đề 8: "Quê hương thanh bình" (4 tiết).
Về mặt thực tiễn, nghiên cứu khảo sát bối cảnh Trường Tiểu học Nguyễn Văn Tố, quận Lê Chân, Hải Phòng trong năm học 2023 - 2024 với quy mô 48 lớp học bán trú 2 buổi/ngày, tổng số 2.416 học sinh (bình quân 50,3 em/lớp, gồm 980 học sinh nữ, 58 em có hoàn cảnh khó khăn hoặc mồ côi). Khảo sát định lượng đối với 40 giáo viên cho thấy nhận thức rất cao về vai trò của môn học, song việc đổi mới phương pháp còn nhiều hạn chế do thói quen giảng dạy truyền thống.
| Mức độ đánh giá tầm quan trọng của môn Mĩ thuật và dạy học phát triển năng lực qua chủ đề quê hương |
Số phiếu (N = 40) |
Tỉ lệ (%) |
| Rất quan trọng |
30 |
75 |
| Quan trọng |
8 |
20 |
| Bình thường |
2 |
5 |
| Không quan trọng |
0 |
0 |
Thực trạng sử dụng phương pháp và hình thức tổ chức dạy học của giáo viên thể hiện sự chênh lệch rõ rệt giữa các phương pháp thuyết trình, quan sát mẫu có sẵn với các hình thức trải nghiệm, tương tác:
| Phương pháp và hình thức tổ chức dạy học |
Số lượt giáo viên lựa chọn (N = 40) |
| Phương pháp quan sát |
40/40 |
| Phương pháp trực quan |
29/40 |
| Phương pháp vấn đáp |
27/40 |
| Phương pháp luyện tập |
21/40 |
| Phương pháp gợi mở |
20/40 |
| Phương pháp dạy học giải quyết vấn đề |
19/40 |
| Ứng dụng công nghệ thông tin |
15/40 |
| Tổ chức trò chơi học tập |
13/40 |
| Tổ chức lớp học ngoài trời |
9/40 |
Khảo sát trên 50 học sinh khối 4 cho thấy dù có 60% học sinh hứng thú với chủ đề quê hương (30 em), 32% cảm thấy bình thường (16 em) và 8% không hứng thú (4 em), nhưng hoạt động thực tế trong lớp học chủ yếu là nghe giảng và ghi chép (48/50 học sinh xác nhận diễn ra thường xuyên), quan sát tranh trong sách giáo khoa hoặc tranh mẫu trên bảng (40/50 học sinh xác nhận thường xuyên). Hoạt động trò chơi học tập và thảo luận nhóm diễn ra không thường xuyên (chỉ 20/50 em thỉnh thoảng được tham gia trò chơi và 15/50 em thỉnh thoảng thảo luận nhóm). Đánh giá về cảm xúc sau giờ học vẽ tranh chủ đề quê hương, chỉ có 10% học sinh (9/50 em) cảm thấy giờ học lôi cuốn, hấp dẫn; 54% học sinh (27/50 em) đánh giá giờ học ở mức bình thường và 28% học sinh (14/50 em) cảm thấy giờ học tẻ nhạt.
Chương 2: Xây dựng một số biện pháp dạy học phát triển năng lực sáng tạo Mĩ thuật thông qua chủ đề quê hương cho học sinh lớp 4
Trên cơ sở phân tích thực trạng, tác giả xác định 5 nguyên tắc sư phạm làm định hướng xây dựng giải pháp: (1) Đảm bảo sự thống nhất giữa tính khoa học và tính giáo dục; (2) Đảm bảo sự thống nhất giữa tính trực quan và tính khái quát; (3) Đảm bảo sự thống nhất giữa tính vừa sức chung và vừa sức riêng; (4) Đảm bảo sự thống nhất giữa vai trò chủ đạo của người thầy và tính tự giác, tích cực, độc lập của học sinh; (5) Đảm bảo sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn. Từ các nguyên tắc này, tác giả thiết kế 2 nhóm biện pháp chuyên biệt:
Biện pháp 1: Tổ chức lớp học ngoài trời
Biện pháp này chuyển không gian lớp học truyền thống sang không gian ngoại khóa, tạo điều kiện cho học sinh tiếp xúc trực tiếp với cảnh quan thiên nhiên và các di tích văn hóa lịch sử tại địa phương Hải Phòng (như Đảo Hòn Dấu, Núi Voi, Vườn Quốc gia Cát Bà, Đình Hàng Kênh, Khu di tích Bạch Đằng Giang, Bảo tàng Hải Phòng, Trung tâm Triển lãm Mĩ thuật Hải Phòng). Quy trình tổ chức gồm 5 bước chặt chẽ:
- Bước 1: Đặt tên cho hoạt động và xác định yêu cầu giáo dục (rõ ràng về nhận thức, kỹ năng, thái độ).
- Bước 2: Xây dựng nội dung và xác định hình thức tổ chức hoạt động phù hợp với tâm lý lứa tuổi và điều kiện thực tế.
- Bước 3: Chuẩn bị cho hoạt động (phân công nhiệm vụ, dự trù kinh phí, bố trí sân bãi, phương tiện, địa điểm).
- Bước 4: Tiến hành hoạt động (giáo viên điều hành, hướng dẫn kỹ năng quan sát, tổ chức tương tác).
- Bước 5: Đánh giá, rút kinh nghiệm sau khi kết thúc hoạt động (phân tích nguyên nhân ưu điểm, hạn chế để điều chỉnh).
Biện pháp 2: Phối hợp giữa phương pháp dạy học với hình thức tổ chức dạy học trong phát triển năng lực sáng tạo Mĩ thuật cho học sinh
Biện pháp này tích hợp đồng bộ 3 kỹ thuật sư phạm bổ trợ lẫn nhau:
- Hướng dẫn học sinh phương pháp quan sát: Hướng dẫn học sinh quan sát tổng thể đối tượng về đường nét, cấu trúc, tỉ lệ mảng chính - mảng phụ, sắc độ đậm nhạt và sự hài hòa của màu sắc thay vì quá chú trọng kỹ thuật vẽ chi tiết cơ học; giúp học sinh ghi nhớ hình ảnh để tái hiện sinh động lên mặt phẳng giấy.
- Sử dụng đồ dùng trực quan theo quy trình 3 bước: Bước 1 - Nghiên cứu kỹ bài dạy và lập giáo án chi tiết; Bước 2 - Chuẩn bị vật mẫu, tranh ảnh minh họa chất lượng cao của họa sĩ và tranh vẽ của học sinh khóa trước; Bước 3 - Lấy trực quan làm trung tâm để gợi mở tư duy, giảm thuyết trình lý thuyết đơn thuần, tránh lạm dụng trực quan sai thời điểm.
- Tổ chức trò chơi học tập kích thích sáng tạo: Triển khai các hình thức trò chơi vận động, trò chơi cá nhân và trò chơi tập thể theo quy trình 4 bước: Bước 1 - Chuẩn bị tài liệu và nghiên cứu thực tế lớp học; Bước 2 - Lựa chọn trò chơi thích hợp với mục tiêu bài học; Bước 3 - Thiết kế mục đích, luật chơi, số lượng người tham gia và cách tính điểm; Bước 4 - Tiến hành phổ biến luật, chơi thử, chơi thật và nhận xét đánh giá; đồng thời kiểm soát các yếu tố tiêu cực phát sinh như chơi gian lận, mất trật tự hoặc hiện tượng học sinh khá lấn át học sinh yếu.
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Chương 3 trình bày việc kiểm chứng tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp đã đề xuất thông qua thực nghiệm sư phạm. Tác giả lựa chọn hai lớp học có điều kiện học tập và năng lực ban đầu tương đương tại Trường Tiểu học Nguyễn Văn Tố:
- Lớp thực nghiệm: Lớp 4A5 (thực hiện giảng dạy theo kế hoạch bài dạy mới, áp dụng Biện pháp 1 và Biện pháp 2).
- Lớp đối chứng: Lớp 4A6 (thực hiện giảng dạy theo phương pháp và hình thức tổ chức truyền thống).
Nội dung thực nghiệm bám sát giáo án bài học thuộc phân môn Vẽ tranh chủ đề quê hương, tiến hành đo lường kết quả trước và sau thực nghiệm (thể hiện qua các bảng danh mục dữ liệu 3.1 đến 3.6 trong khóa luận). Đánh giá sau thực nghiệm được tác giả thực hiện đồng bộ trên 3 phương diện:
- Đánh giá kết quả học tập thông qua sản phẩm mĩ thuật: Xem xét sự tiến bộ về bố cục mảng chính - mảng phụ, cách phối màu nóng - lạnh, độ đậm nhạt và ý tưởng tạo hình mới lạ trong tranh vẽ quê hương của học sinh lớp 4A5 so với lớp 4A6.
- Đánh giá sự chuyển biến về tính chủ động, tích cực và sáng tạo: Ghi nhận mức độ hào hứng, khả năng thảo luận nhóm, tính tự giác khám phá và mức độ tham gia vào các hoạt động ngoài trời, trò chơi học tập.
- Đánh giá sự thay đổi về nhận thức và thái độ của giáo viên: Ghi nhận sự chuyển biến trong quan điểm sư phạm của giáo viên giảng dạy môn Mĩ thuật khi nhận thấy tính hiệu quả của các hình thức dạy học trực quan và tương tác.
Kết quả và đóng góp
Nghiên cứu đạt được các kết quả và đóng góp chuyên môn cụ thể:
- Làm rõ bức tranh thực trạng dạy học Mĩ thuật lớp 4 tại địa bàn nghiên cứu: Kết quả khảo sát chỉ ra sự mâu thuẫn giữa nhận thức của giáo viên (75% cho rằng môn học rất quan trọng) với hành vi sư phạm thực tế (100% dùng phương pháp quan sát mẫu đơn thuần; chỉ 22,5% từng tổ chức học ngoài trời và 32,5% sử dụng trò chơi học tập). Số liệu học sinh phản ánh hệ quả trực tiếp của phương pháp thụ động khi có tới 28% học sinh đánh giá giờ học tẻ nhạt và 48/50 em chủ yếu chỉ nghe giảng và chép bài.
- Đề xuất hệ thống giải pháp sư phạm có quy trình thao tác rõ ràng: Đóng góp thực tiễn lớn nhất của tác giả là đã cụ thể hóa hai biện pháp dạy học mang tính hành động cao: quy trình 5 bước tổ chức lớp học ngoài trời gắn với cảnh quan địa phương tại Hải Phòng; quy trình 3 bước sử dụng đồ dùng trực quan và quy trình 4 bước thiết kế trò chơi học tập chuyên biệt cho phân môn Vẽ tranh lớp 4.
- Đóng góp về mặt lí luận và tài liệu chuyên môn: Khóa luận góp phần bổ sung, hệ thống hóa các nguyên tắc tổ chức dạy học phát triển năng lực thẩm mỹ cho học sinh cuối cấp tiểu học theo yêu cầu của Chương trình giáo dục phổ thông 2018; đồng thời cung cấp tư liệu tham khảo phục vụ quá trình học tập, rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp cho sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận chỉ ra một số hạn chế khách quan bắt nguồn từ phạm vi và điều kiện nghiên cứu thực tế:
- Địa bàn khảo sát và thực nghiệm chỉ giới hạn tại một đơn vị trường học (Trường Tiểu học Nguyễn Văn Tố, quận Lê Chân, Hải Phòng) với khoảng thời gian nghiên cứu trong 6 tháng (từ tháng 10 năm 2023 đến tháng 3 năm 2024), do đó phạm vi khái quát hóa của số liệu cần được kiểm chứng thêm ở các mô hình trường học khác.
- Điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường còn gặp khó khăn: sĩ số học sinh trên một lớp rất đông (bình quân 50,3 em/lớp), diện tích phòng học chật hẹp, thiếu không gian cất giữ đồ dùng mỹ thuật để dạy học các chủ đề dài hơi xuyên suốt 2 đến 4 tiết theo phương pháp Đan Mạch.
- Khung thời khóa biểu của trường tiểu học chưa thể bố trí các tiết học Mĩ thuật liền mạch trong một buổi, gây khó khăn cho việc triển khai trọn vẹn các hoạt động trải nghiệm ngoài trời quy mô lớn.
Hướng mở nghiên cứu tiếp theo được văn bản gợi mở là tiếp tục mở rộng quy mô thực nghiệm sư phạm sang các khối lớp khác (lớp 1, 2, 3 và 5); đồng thời thử nghiệm linh hoạt việc lồng ghép các quy trình của phương pháp Đan Mạch sang các chủ đề tạo hình, nặn dáng và xé dán khác trong chương trình.
Giá trị tham khảo
Khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng chuyên môn:
- Sinh viên chuyên ngành Giáo dục Tiểu học và Sư phạm Mĩ thuật: Tài liệu là mẫu hình nghiên cứu khóa luận tốt nghiệp ứng dụng phương pháp định lượng và thực nghiệm sư phạm; giúp sinh viên nắm vững cấu trúc một đề tài nghiên cứu phương pháp dạy học tiểu học.
- Giáo viên Mĩ thuật tiểu học: Cung cấp tài liệu tham khảo trực tiếp về cách xây dựng kế hoạch bài dạy phân môn Vẽ tranh chủ đề quê hương; đặc biệt là hướng dẫn chi tiết quy trình 5 bước đưa lớp học ra không gian ngoài trời và ngân hàng phương pháp thiết kế trò chơi học tập.
- Phần nội dung đáng tham khảo nhất: Bảng thống kê phân phối chương trình Mĩ thuật lớp 4 (35 tiết), hệ thống chỉ báo yêu cầu cần đạt về 3 thành phần năng lực mĩ thuật theo Chương trình giáo dục phổ thông 2018 và hệ thống bảng hỏi khảo sát thực trạng dành cho giáo viên và học sinh.
Câu hỏi thường gặp
Khóa luận xác định mục tiêu và phạm vi nghiên cứu cụ thể như thế nào?
Mục đích nghiên cứu là đề xuất các phương pháp nâng cao chất lượng dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo cho học sinh lớp 4 qua chủ đề cảnh đẹp quê hương. Đề tài được giới hạn nghiên cứu trên đối tượng học sinh và giáo viên khối 4 tại Trường Tiểu học Nguyễn Văn Tố, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng trong thời gian từ tháng 10 năm 2023 đến tháng 3 năm 2024.
Yêu cầu cần đạt về năng lực mĩ thuật ở học sinh lớp 4 đối với chủ đề quê hương gồm những gì?
Theo Chương trình giáo dục phổ thông 2018 được tác giả trích dẫn, yêu cầu cần đạt gồm: nhận biết yếu tố tạo hình (chấm, nét, hình, khối, màu nóng/lạnh, đậm nhạt, không gian); phối hợp được các kĩ năng cắt, xé, dán, vẽ, in, nặn; thể hiện được sự biến thể hình khối, khoảng cách xa - gần và chất cảm bề mặt; biết sử dụng ngôn ngữ nói hoặc viết để giới thiệu sản phẩm và trao đổi về tác phẩm.
Dữ liệu khảo sát thực trạng dạy học Mĩ thuật tại Trường Tiểu học Nguyễn Văn Tố phản ánh những con số nào?
Khảo sát 40 giáo viên cho thấy: 75% đánh giá môn học rất quan trọng, nhưng 100% giáo viên sử dụng phương pháp quan sát truyền thống, trong khi chỉ có 9/40 người tổ chức lớp học ngoài trời và 13/40 người dùng trò chơi. Khảo sát 50 học sinh cho thấy 48/50 em thường xuyên chỉ nghe giảng - ghi chép, và có tới 28% học sinh cảm thấy giờ học tẻ nhạt, chỉ 10% thấy giờ học lôi cuốn, hấp dẫn.
Tác giả đề xuất những bước nào để tổ chức lớp học ngoài trời môn Mĩ thuật?
Quy trình tổ chức lớp học ngoài trời gồm 5 bước: Bước 1 - Đặt tên cho hoạt động và xác định yêu cầu giáo dục (nhận thức, kỹ năng, thái độ); Bước 2 - Xây dựng nội dung và xác định hình thức tổ chức; Bước 3 - Chuẩn bị phương tiện, địa điểm, kinh phí và phân công nhân lực; Bước 4 - Tiến hành hoạt động; Bước 5 - Đánh giá và rút kinh nghiệm sau hoạt động.
Quá trình thực nghiệm sư phạm trong khóa luận được bố trí như thế nào?
Thực nghiệm sư phạm được tiến hành so sánh giữa hai lớp: lớp thực nghiệm 4A5 (áp dụng các biện pháp tổ chức ngoài trời, phối hợp trực quan và trò chơi học tập) và lớp đối chứng 4A6 (học theo phương pháp thông thường). Kết quả được đánh giá toàn diện qua 3 phương diện: chất lượng sản phẩm học tập của học sinh, sự chuyển biến về tính tích cực sáng tạo của học sinh và sự thay đổi nhận thức của giáo viên.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của Hoàng Minh Phương đã giải quyết một cách có hệ thống cơ sở lí luận và khảo sát sâu sắc thực trạng dạy học phân môn Vẽ tranh lớp 4 tại Trường Tiểu học Nguyễn Văn Tố, quận Lê Chân, Hải Phòng. Thông qua việc đề xuất hai nhóm biện pháp sư phạm trọng tâm là tổ chức lớp học ngoài trời và phối hợp phương pháp dạy học với trực quan, trò chơi học tập, nghiên cứu đã đưa ra giải pháp cụ thể giúp học sinh phát triển năng lực sáng tạo mĩ thuật qua chủ đề quê hương. Kết quả nghiên cứu và quy trình thực nghiệm tại lớp 4A5 và 4A6 khẳng định tính khả thi của đề tài, cung cấp nguồn tư liệu tham khảo hữu ích cho công tác đổi mới phương pháp giảng dạy môn Mĩ thuật ở bậc tiểu học hiện nay.