Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Lịch sử của vấn đề nghiên cứu Nhiều nghiên cứu khoa học đã trình bày về cách dạy môn Mĩ thuật ở trình độ phổ thông. Trong Luật Giáo dục năm 2005 (được sửa đổi và bổ sung vào năm 2009) của Việt Nam, Chương 2, Điều 28, về “Yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục phổ thông” đã đề cập rõ: “Phương pháp giáo dục phổ thông cần thúc đẩy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; phát triển phương pháp tự học, khả năng làm việc nhóm; rèn luyện kỹ năng ứng dụng kiến thức vào thực tế; ảnh hưởng đến tâm trạng, mang lại niềm vui, đam mê học tập cho học sinh” Đây là nền tảng pháp lý cho ngành Giáo dục triển khai một cách hiệu quả các phương pháp dạy học tích cực ở mọi cấp độ. Điều cốt lõi mà ý tưởng này nhấn mạnh là tinh thần tự học, tự nghiên cứu và tự chủ của người học, cùng với vai trò của giáo viên, với mục tiêu cuối cùng là giúp học sinh hiểu biết về bản thân và học tập một cách hiệu quả.
Để đạt được điều này, cần sự quan tâm của giáo viên. Đầu tiên, giáo viên cần hiểu rõ mục đích và yêu cầu của môn học, từ đó xác định được hướng đi đúng đắn trong giảng dạy và linh hoạt kết hợp các phương pháp dạy học, tìm ra phương pháp dạy học phù hợp. Chỉ có như vậy, chất lượng dạy học mới có thể đạt được kết quả cao. Cuốn sách “Mĩ thuật” được biên soạn bởi Tác giả Trịnh Thiệp và Ung Thị Châu, được NXB Giáo dục phát hành vào năm 2009, là một tài liệu dành cho các trường sư phạm đào tạo giáo viên tiểu học.
Trong cuốn sách này, các tác giả đã trình bày những khái niệm cơ bản về môn Mĩ thuật, bao gồm phương pháp vẽ tả thực, vẽ tranh theo đề tài. Ngoài ra, sách cũng đề cập đến phương pháp giảng dạy Mĩ thuật ở cấp tiểu học. Vì đối tượng chính của cuốn sách là giáo viên tiểu học, nên nội dung của nó tập trung nhiều vào lí luận và các phương pháp dạy học truyền thống. Cuốn sách “Phương pháp giảng dạy Mĩ thuật: Giáo trình đào tạo giáo viên THCS hệ CĐSP” được viết bởi tác giả Nguyễn Quốc Toản và tái bản lần thứ hai vào năm 2001 bởi NXB Giáo dục.
Cuốn giáo trình này tập trung vào các vấn đề chung về phương pháp giảng dạy mĩ thuật ở trung học cơ sở và thực hành sư phạm môn mĩ thuật. 6 Nguyễn Thu Tuấn đã đưa ra trong sách “Phương pháp dạy học Mĩ thuật” những đánh giá về tình trạng hiện tại cùng với các đề xuất biện pháp để cải thiện quá trình dạy học môn Mĩ thuật, đặc biệt là đối với các học sinh ở trình độ phổ thông. Nguyễn Thị Đông (2016) cũng đã nghiên cứu về phương pháp dạy học Mĩ thuật và đã công bố kết quả trong sách “Phương pháp dạy học Mĩ thuật 1”. Nguyên Thị Nhung (2016) đã chia sẻ những phương pháp dạy học Mĩ thuật theo hướng phát triển năng lực cho học sinh lớp 1 trong cuốn sách “Học Mĩ thuật theo định hướng phát triển năng lực lớp 1”.
Ngoài một số công trình nghiên cứu khoa học nêu trên, còn có một số khoá luận, luận văn của anh chị học viên các khoá có đề cập đến việc giảng dạy phân môn vẽ tranh đề tài quê hương ở bậc Tiểu học. Tuy nhiên theo tìm hiêu của cá nhân em, chưa có tài liệu nào đề cập cụ thê đến đề tài: “Dạy học phát triển năng lực sáng tạo cho hs lớp 4, trường tiểu học Nguyễn Văn Tố, quận Lê Chân, Hải Phòng thông qua chủ đề về quê hương”. Để nâng cao hiệu quả dạy học môn Mĩ thuật và đây cũng là điểm mới về nội dung nghiên cứu luận văn của em. Cơ sở lí luận về việc dạy học phát triển năng lực sáng tạo 1.
Đặc điểm nhận thức của học sinh Tiểu học 1. Nhận thức cảm tính - Các cơ quan cảm giác: Thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác, xúc giác đều phát triển và đang trong quá trình hoàn thiện. - Tri giác: Tri giác của học sinh tiểu học mang tính đại thể, ít đi vào chi tiết và mang tính không ổn định: ở đầu tuổi tiểu học tri giác thường gắn với hành động trực quan, đến cuối tuổi tiểu học tri giác bắt đầu mang tính xúc cảm, trẻ thích quan sát các sự vật hiện tượng có màu sắc sặc sỡ, hấp hẫn, tri giác của trẻ đã mang tính mục đích, có phương hướng rõ ràng - tri giác có chủ định 1. Nhận thức lý tính - Tư duy: + Tư duy mang đậm màu sắc xúc cảm và chiếm ưu thế ở tư duy trực quan hành động.
Các phẩm chất tư duy chuyển dần từ tính cụ thể sang tư duy trừu tượng khái quát. 7 Khả năng khái quát hóa phát triển dần theo lứa tuổi, lớp 4, 5 bắt đầu biết khái quát hóa lý luận. Tuy nhiên, hoạt động phân tích, tổng hợp kiến thức còn sơ đẳng ở phần đông HSTH. - Tưởng tượng: Tưởng tượng của HSTH đã phát triển phong phú hơn so với trẻ mầm non nhờ có bộ não phát triển và vốn kinh nghiệm ngày càng dầy dạn.
Tuy nhiên, tưởng tượng của các em vẫn mang một số đặc điểm nổi bật sau: + Ở đầu tuổi tiểu học thì hình ảnh tưởng tượng còn đơn giản, chưa bền vững và dễ thay đổi. + Ở cuối tuổi tiểu học, tưởng tượng tái tạo đã bắt đầu hoàn thiện, từ những hình ảnh cũ trẻ đã tái tạo ra những hình ảnh mới. Tưởng tượng sáng tạo tương đối phát triển ở giai đoạn cuối tuổi tiểu học. Đặc biệt, tưởng tượng của các em trong giai đoạn này bị chi phối mạnh mẽ bởi các xúc cảm, tình cảm, những hình ảnh, sự việc, hiện tượng đều gắn liền với các rung động tình cảm của các em.
Tổng quan về dạy học phát triển năng lực * Khái niệm: Dạy học phát triển năng lực: “Là cách tiếp cận đảm bảo cho dạy học vừa tập trung vào phát triển năng lực, phẩm chất của học sinh vừa dựa vào năng lực nền tảng và tố chất của học sinh. Dạy học phát triển năng lực có những đặc trưng sau: Phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực; nội dung và hoạt động trong các môn học được liên kết với nhau, gắn với tình huống thực tiễn; người dạy tổ chức, tư vấn, hỗ trợ giúp người học tự lực, tích cực và sáng tạo trong học tập. Chú trọng sử dụng các quan điểm, phương pháp, kỹ thuật, thủ thuật dạy học tích cực giúp người học trải nghiệm thực tế, tìm kiếm và vận dụng kiến thức; hình thức học cá nhân, học hợp tác với các hoạt động đa dạng; đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin; dựa vào tiêu chí hoặc bộ công cụ chủ yếu hướng vào năng lực đầu ra; tính đến sự tiến bộ, tư vấn cho người học phương thức học tập hiệu quả; chú trọng vào các sản phẩm học tập và khả năng vận dụng trong thực tiễn. Chương trình giáo dục phổ thông cũng xác định: năng lực thẩm mĩ của học sinh bao gồm năng lực âm nhạc, năng lực mĩ thuật, năng lực văn học; mỗi năng lực được thể hiện qua các hoạt động: Trong đó, năng lực mĩ thuật gồm: cảm thụ thẩm mĩ; sáng tạo; giao tiếp nghệ thuật; phân tích, đánh giá; quan sát, khám phá; tạo hình kỹ thuật số.
Theo Chương trình giáo dục phổ thông 2018, năng lực mĩ thuật gồm các thành phần: quan sát và nhận thức thẩm mĩ, sáng tạo và ứng dụng thẩm mĩ, phân tích và đánh giá thẩm mĩ. 8 Đối với chủ đề về quê hương cho học sinh lớp 4, có những yêu cầu cần đạt như sau: Quan sát và nhận thức thẩm mĩ: - Nhận biết được yếu tố tạo hình: chấm, nét, hình, khối, màu sắc, đậm nhạt, chất cảm, không gian. - Nhận biết được màu nóng, màu lạnh; không gian xa, gần. - Xác định được nội dung chủ đề và hình thức thực hành, sáng tạo.
Sáng tạo và ứng dụng thẩm mĩ: - Phối hợp được một số kĩ năng: cắt, xé, dán, vẽ, in, ghép, nặn, uốn,. trong thực hành, sáng tạo. - Vận dụng được độ đậm nhạt, nóng lạnh của màu trong thực hành, sáng tạo. - Tạo được mật độ khác nhau của chấm, nét ở sản phẩm.
- Vận dụng được sự biến thể của hình, khối cơ bản để mô phỏng đối tượng. - Thể hiện được khoảng cách, vị trí khác nhau cho các yếu tố tạo hình ở sản phẩm. - Tạo được sự khác nhau về cảm giác bề mặt chất liệu ở sản phẩm. - Thể hiện sự hiểu biết về hài hòa của yếu tố tạo hình trong thực hành, sáng tạo.
Phân tích và đánh giá thẩm mĩ: - Vận dụng được ngôn ngữ nói hoặc viết, biểu đạt cơ thể, diễn hoạt hình ảnh động, xây dựng câu chuyện,. để giới thiệu sản phẩm, tác phẩm mĩ thuật. - Nhận biết chủ đề của sản phẩm, tác phẩm; bước đầu biết đặt câu hỏi, trả lời và trao đổi để tìm hiểu tác giả, tác phẩm mĩ thuật. Dạy học Mĩ thuật ở Tiểu học a) Hứng thú học môn Mĩ thuật của HS Hứng thú là trạng thái tinh thần tích cực khi ta cảm thấy thú vị, hào hứng, hoặc được kích động bởi một hoạt động, một ý tưởng, hoặc một vấn đề nào đó.
Đó là sự động viên nội tại, đem lại sự sảng khoái và niềm vui khi bạn tham gia vào hoạt động đó. Hứng thú có thể xuất phát từ sở thích cá nhân, mong muốn khám phá điều mới mẻ, hoặc từ việc thấy mục tiêu hoặc ý nghĩa trong việc bạn đang làm. Hứng thú thường đi kèm với sự tập trung và năng lượng, giúp ta dễ dàng đạt được mục tiêu và cảm thấy hài lòng với cuộc sống. Cùng với tự giác, hứng thú làm nên tính tích cực nhận thức, giúp HS học tập đạt kết quả cao, có khả năng khơi dậy mạch nguồn của sự sáng tạo.
Vai trò của hứng thú trong môi trường học đặc biệt quan trọng, đặc biệt là khi hứng thú đóng vai trò là động lực chủ đạo đằng sau hoạt động học tập của học sinh. Vì vậy, việc 9 tạo ra và phát triển hứng thú học tập trong môn Mỹ thuật cho học sinh Tiểu học là một trong những mục tiêu hàng đầu của giáo viên. Để học sinh học tập tốt và thành công, để họ phát triển năng lực và trí tuệ, giáo viên cần phải tạo ra một môi trường học tích cực và kích thích hứng thú nhận thức cho học sinh.