CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TRẠNG 1. Khái quát về quy trình tư duy thiết kế 1. Khái niệm về tư duy Theo Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê biên soạn: Tư duy là sản phẩm cao nhất của vật chất được tổ chức một cách đặc biệt - bộ não con người. Tư duy phản ánh tích cực hiện thực khách quan dưới dạng khái niệm, sự phán đoán, lý luận [7].
Tư duy là một quá trình nhận thức cơ bản mà chúng ta sử dụng hàng ngày để đưa ra quyết định, giải quyết vấn đề và tạo ra những ý tưởng mới. Nó liên quan đến việc thể hiện thông tin trong đầu và có thể xảy ra ở các mức độ phức tạp khác nhau. Có nhiều kiểu tư duy khác nhau, bao gồm tư duy phân tích, tư duy phản biện và tư duy sáng tạo. Tư duy của chúng ta bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác nhau, bao gồm thành kiến nhận thức và phương pháp phỏng đoán, cảm xúc và động lực cũng như các yếu tố văn hóa và xã hội.
Khái niệm về thiết kế Khái niệm thiết kế: Từ thiết kế trong tiếng Anh “design” mang nghĩa rộng chỉ việc sắp xếp và tổ chức nhiều yếu tố để đạt được một mục đích nào đó. Trong tiếng Hán, chữ Thiết (設) chỉ việc sắp đặt (như trong chữ thiết lập), chữ Kế (計) chỉ việc trù tính (như trong chữ kế hoạch). Như vậy, về mặt ngữ nghĩa, chữ “thiết kế” cũng không được hiểu là chỉ gói gọn trong ứng dụng cho một đối tượng hữu hình cụ thể. Thiết kế là một hoạt động thực hành được thúc đẩy bởi sự sáng tạo để giải quyết vấn đề.
Thiết kế có thể hiểu là một quá trình phản ánh thực tiễn, lặp đi lặp lại với sự sáng tạo tạo [20]. Công việc thiết kế đòi hỏi các nhà thiết kế phải dựa vào tính nghệ thuật, trực giác, tư duy phản biện và khả năng suy luận để giải quyết các vấn đề khó khăn. Thiết kế kết hợp nhiều kỹ năng, nhiều phương pháp nghiên cứu để vận dụng vào quá trình thực hành [11]. Thiết kế nằm ở giao điểm của nghệ thuật và khoa học) Thiết kế luôn lấy 9 con người làm trung tâm của sự sáng tạo [27].
Vì vậy cả tư duy phân tích và tư duy trực quan là hai yếu tố cấu thành tư duy thiết kế [22].1 Sơ đồ tư duy thiết kế 1. Khái niệm về tư duy thiết kế Các nghiên cứu trước đây về mô hình tư duy thiết kế hầu hết là trong các lĩnh vực nghiên cứu kinh doanh, giáo dục y tế và giáo dục đại học. Tuy nhiên, một số nhà nghiên cứu cho rằng phương pháp luận tư duy thiết kế có thể hỗ trợ HS một cách hiệu quả trong việc xem xét, hiểu và thể hiện các thiết kế sản phẩm, đồng thời nâng cao hiệu suất học tập cũng như khả năng giải quyết vấn đề và các kỹ năng thực hành của HS [12]; [28] Để thực hiện thành thục phương pháp luận tư duy thiết kế, người thiết kế cần có khả năng kết hợp sự đồng cảm, sáng tạo và tính hợp lý để phân tích và đưa ra các giải pháp phù hợp với các bối cảnh cụ thể. Các kỹ năng của tư duy thiết kế có thể được hình thành thông qua việc GV tổ chức các hoạt động học tập dựa trên: Dạy học dụ án, dạy học giải quyết vấn đề… Tư duy thiết kế là một cách tiếp cận giải quyết vấn đề nhấn mạnh đến sự đồng cảm, sáng tạo và thử nghiệm.
Các nguyên tắc chính của nó bao gồm lấy người dùng làm trung tâm, cộng tác và thiên về hành động. Quá trình tư duy thiết kế thường bao gồm năm giai đoạn: đồng cảm, xác định, lý tưởng, nguyên mẫu và thử nghiệm. Trong giai đoạn đồng cảm, trọng tâm là tìm hiểu nhu cầu 10 và quan điểm của người dùng hoặc các bên liên quan. Giai đoạn xác định bao gồm việc tổng hợp những hiểu biết sâu sắc thu thập được trong giai đoạn đồng cảm và xác định vấn đề hoặc thách thức cần giải quyết.
Giai đoạn lên ý tưởng là việc tạo ra càng nhiều ý tưởng càng tốt mà không cần phán xét. Trong nghiên cứu này khái niệm về tư duy thiết kế đối với HS tiểu học được hiểu là một quá trình HS giải quyết vấn đề dưới hình thức bản phác thảo và quá trình chế tạo nguyên mẫu sản phẩm trên quan điểm đồng cảm với người gặp vấn đề. Vì vậy, vận dụng quy trình tư duy thiết kế vào dạy học môn Công nghệ lớp 3 được hiểu là quá trình GV vận dụng các bước của quy trình tư duy thiết kế vào tổ chức các hoạt động dạy học trong các bài học của môn Công nghệ lớp 3 nhằm giúp HS hình thành và phát triển các năng lực phẩm chất theo yêu cầu của chương trình GDPT 2018. Đặc điểm và lợi ích của quy trình tư duy thiết kế 1.
Đặc điểm của quy trình tư duy thiết kế a) Lấy con người làm trung tâm Tư duy thiết kế có rất nhiều phiên bản định nghĩa khác nhau bởi giới học thuật và các nhà lãnh đạo doanh nghiệp, tuy nhiên hầu hết mọi người đều chia sẻ quan điểm về sự cần thiết phải đặt con người ở trung tâm của vấn đề cũng như giải pháp để thiết kế hay cải tiến một sản phẩm, dịch vụ, hệ thống hay liên hệ thống. Việc đặt con người làm trung tâm thúc đẩy các bài dạy không chỉ phải lý giải nhu cầu (cả đã biết và tiềm tàng) của học sinh trên lý thuyết mà còn phải sắp xếp sao cho bài học, quy trình dịch vụ cũng như các quy trình nội bộ giúp thúc đẩy giá trị của khách hàng. Tư duy thiết kế là một quá trình liên tục hiểu và lý giải học sinh nhằm thách thức các giả định ban đầu, kiểm chứng các giả thuyết và tái định nghĩa vấn đề để tìm ra các giải pháp hay chiến lược “khác”. Chính vì vậy, rất đề cao việc đồng cảm (empathize) với học sinh.
Cách ví von mà giống như giới thiết kế hay dùng là “đi một dặm trong đôi giày của 11 khách hàng” (walk a mile in customer’s shoes). b) Đề cao trải nghiệm Khó có thể nói rằng cách nào có kết quả tốt hơn, tuy nhiên cách tiếp cận của nhà thiết kế tập trung dựa trên việc tự mình trực tiếp trải nghiệm những gì xảy ra với người dùng cũng như đưa ra ý tưởng dựa trên việc lý giải được xuyên suốt toàn bộ trải nghiệm của người dùng. c) Sử dụng nhiều minh họa trực quan Kết quả của các nghiên cứu cho rằng minh họa trực quan sẽ giúp vấn đề hay ý tưởng dễ hiểu hơn rất nhiều. Tuy nhiên, việc sử dụng minh họa trực quan trong tư duy thiết kế không hề chú trọng vào chất lượng của minh họa.
Mục đích của việc dùng minh họa trực quan là để thúc đẩy khả năng đồng cảm (empathize) với vấn đề hay học sinh. Những hình vẽ đơn giản cho dù người thiết kế có khả năng vẽ không được tốt thì có thể sử dụng các hình thức hỗ trợ khác như biểu tượng, nhãn dán, sticker,… d) Đề cao trực giác theo một cách có hệ thống Trực giác là một phần quan trọng của quá trình sáng tạo và thiết kế. Trực giác giúp chúng ta nhìn nhận vấn đề từ nhiều góc độ khác nhau, từ đó tạo ra những giải pháp sáng tạo và độc đáo. Những người có năng lực sáng tạo cao thường có khả năng kết hợp trực giác với kiến thức và kinh nghiệm để tạo ra những ý tưởng mới mẻ và tiên tiến trong thiết kế.
Tư duy thiết kế cũng đề cao trực giác bởi vì nó không chỉ là về việc tạo ra sản phẩm mà còn về việc tạo ra trải nghiệm tốt nhất cho học sinh. Trực giác giúp nhìn nhận được những yếu tố tinh tế và cảm nhận được những điều mà có thể không thấy được bằng con mắt hoặc tính toán logic. Do đó, sự kết hợp giữa trực giác và tư duy thiết kế là chìa khóa để tạo ra những sản phẩm và dịch vụ xuất sắc, đáp ứng được nhu cầu và mong muốn của người sử dụng. Lợi ích của quy trình tư duy thiết kế - Quy trình tư duy thiết kế là quy trình dạy học tiếp cận liên ngành.
12 Muốn cải tiến quy trình hiện có hoặc sáng tạo ra các giải pháp mới thì học sinh cần nghiên cứu thêm các kiến thức mới. Qua đó, kiến thức về các lĩnh vực khoa học, kĩ thuật và công nghệ của các em không ngừng tiến bộ. Ngoài ra, còn cần kết hợp với ngôn ngữ toán học và các giá trị nhân văn. Sự tích hợp các lĩnh vực trong giáo dục, giúp học sinh hiểu sâu sắc các vấn đề và nhìn nhận được sự liên hệ những gì đã được học với thực tiễn.
- Quy trình tư duy thiết kế giúp rèn luyện khả năng phối hợp tư duy trực giác và phân tích ở học sinh. Điều này tạo tiền đề cho học sinh vận dụng phối hợp các thao tác tư duy hoặc biết lựa chọn thao tác tư duy phù hợp đối với các vấn đề thực tiễn. - Quy trình tư duy thiết kế thể hiện yếu tố khoa học xã hội của nghệ thuật khai phóng trong giai đoạn đồng cảm. Trong giai đoạn đồng cẩm, HS được đặt ra có bối cảnh và đối tượng cụ thể, mang tính xã hội cao, Ví dụ, HS được yêu cầu tìm ra các giải pháp để giải quyết một vấn đề nào đó tồn tại trong cộng đồng như: việc thiếu nguồn nước sạch, thiếu cơ sở chăm sóc y tế,… qua đó, giúp cho các em gắn kết với cộng đồng và hiểu được vai trò của mình trong một tập thể.
- Quy trình tư duy thiết kế kích thích khả năng sáng tạo trong giai đoạn tưởng tượng và quá trình dựng mẫu Bên cạnh tính nhân văn, yếu tố sáng tạo của người học cũng là một yêu cầu quan trọng của quy trình thiết kế. Trong tiến trình dạy học phát triển tư duy thiết kế, tư duy sáng tạo của HS được vận dụng tối đa trong hai giai đoạn lên ý tưởng và chế tạo mẫu. Các giai đoạn này khuyến khích HS quan sát và thực hiện các thí nghiệm, làm thử, làm lại các nguyên mẫu, làm thêm các thao tác, các quy trình để đưa ra các sản phẩm/ giải pháp vừa hiệu quả vừa sáng tạo, tạo cơ hội cho HS được tự do nêu lên suy nghĩ và đưa ra các đề xuất giải pháp của cá nhân.