Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Dạy học môn Mĩ thuật ở bậc tiểu học trong các nhà trường truyền thống thường thực hiện theo mô típ hướng dẫn học sinh tô, vẽ mô phỏng các hình mẫu có sẵn trong sách giáo khoa. Cách tiếp cận này bộc lộ hạn chế khi tạo ra sự thụ động, làm giảm khả năng tưởng tượng và tính sáng tạo của học sinh. Trước yêu cầu đổi mới giáo dục nhằm đáp ứng nền kinh tế tri thức, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã triển khai phương pháp dạy học Mĩ thuật mới của Đan Mạch (SAEPS) tại các trường tiểu học. Mục tiêu của môn học ở cấp tiểu học không nhằm đào tạo các em trở thành họa sĩ mà thông qua hoạt động tạo hình để khơi gợi năng khiếu thẩm mĩ và thị hiếu nghệ thuật.

Tuy nhiên, việc triển khai phương pháp Đan Mạch trong thực tế gặp nhiều rào cản: cơ sở vật chất nhà trường phần lớn chưa có phòng chức năng chuyên biệt; phòng học có diện tích nhỏ hẹp gây khó khăn cho việc vận động và làm việc nhóm; tủ đồ dùng nhỏ khiến việc lưu trữ sản phẩm bị hạn chế. Mặt khác, thời khóa biểu môn học thường xếp phân tán 1 tiết/tuần nên quá trình thực hành bị ngắt quãng; giáo viên còn lúng túng trong chuẩn bị học liệu và tích hợp quy trình; học sinh thời gian đầu gặp khó khăn khi trao đổi nhóm để thống nhất bố cục tranh. Từ thực tiễn này, đề tài "Phát huy tính sáng tạo cho học sinh lớp 2 trong dạy học Mĩ thuật theo phương pháp Đan Mạch" được tác giả thực hiện.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là khảo sát thực trạng giảng dạy môn Mĩ thuật theo phương pháp Đan Mạch tại trường tiểu học, đánh giá mức độ tiếp nhận và tính sáng tạo của học sinh lớp 2, từ đó đề xuất hệ thống biện pháp sư phạm nhằm phát huy năng lực sáng tạo của học sinh và nâng cao hiệu quả giảng dạy của giáo viên.

Đề tài xác định bốn nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Nghiên cứu lí luận liên quan đến quá trình dạy học Mĩ thuật và hình thành kĩ năng vẽ cho học sinh lớp 2.
  2. Tìm hiểu biện pháp nhằm phát huy tính sáng tạo cho học sinh lớp 2.
  3. Tiến hành thực nghiệm sư phạm.
  4. Nâng cao trình độ nghiệp vụ sư phạm cho bản thân.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu (chủ thể): Một số biện pháp nhằm phát huy tính sáng tạo cho học sinh lớp 2 trong dạy học Mĩ thuật theo phương pháp Đan Mạch.
  • Khách thể nghiên cứu: Học sinh lớp 2/1 Trường Tiểu học Huỳnh Ngọc Huệ.
  • Phạm vi không gian: Trường Tiểu học Huỳnh Ngọc Huệ, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
  • Phạm vi thời gian: Khảo sát và triển khai trong năm học 2017-2018 (thời điểm thu thập dữ liệu tập trung vào tháng 4 năm 2018).

Giả thiết khoa học: Nếu xây dựng được các kế hoạch dạy học Mĩ thuật lớp 2 theo phương pháp Đan Mạch phù hợp thì sẽ góp phần phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh, đồng thời nâng cao hiệu quả dạy học môn Mĩ thuật và các môn học khác ở trường tiểu học.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết của khóa luận được thiết lập dựa trên các cơ sở giáo dục học, tâm lý học và phương pháp dạy học mĩ thuật chuyên biệt:

  • Khái niệm Mĩ thuật và Sáng tạo: Mĩ thuật được định nghĩa là loại hình nghệ thuật thị giác sử dụng các yếu tố ngôn ngữ tạo hình như đường nét, hình khối, màu sắc, đậm nhạt, không gian để phản ánh thế giới khách quan và biểu đạt cảm xúc. Về sáng tạo, tác giả trích dẫn định nghĩa của Thái Phương: sáng tạo là quá trình say mê tìm tòi để tạo ra các giá trị mới về vật chất, tinh thần hoặc tìm ra phương thức giải quyết mới mà không bị lệ thuộc vào những khuôn mẫu đã có.
  • Phương pháp dạy học Mĩ thuật Đan Mạch (SAEPS): Xuất phát từ dự án hỗ trợ giáo dục của Đại sứ quán Đan Mạch tại Việt Nam với thông điệp của chuyên gia tư vấn Kirsten Fugl. Phương pháp này lấy người học làm trung tâm, coi trọng trải nghiệm thực hành để phát triển trí tuệ thị giác - không gian.
  • Khung 5 năng lực cốt lõi theo phương pháp Đan Mạch:
    1. Năng lực trải nghiệm: Học sinh huy động vốn sống và kinh nghiệm bản thân vào các chủ đề bài học.
    2. Năng lực kĩ năng và kĩ thuật: Rèn luyện kĩ thuật cắt dán, nặn, vẽ biểu cảm, tạo hình từ vật tìm được.
    3. Năng lực biểu đạt: Dùng ngôn ngữ mĩ thuật để thể hiện cảm xúc cá nhân.
    4. Năng lực phân tích và diễn giải: Trình bày, giải thích và nhận xét về kỹ thuật và nội dung tác phẩm.
    5. Năng lực giao tiếp và đánh giá: Thảo luận, làm việc nhóm và đưa ra nhận định thẩm mĩ.
  • Cơ sở tâm lý học lứa tuổi: Học sinh lớp 2 (độ tuổi 6-7 tuổi) có tri giác mang tính đại thể, ít đi sâu vào chi tiết; chú ý không chủ định chiếm ưu thế với thời gian duy trì tập trung từ 20 đến 25 phút; trí nhớ trực quan - hình tượng chiếm ưu thế; tư duy trực quan cụ thể giàu cảm xúc. Về đặc điểm tạo hình, trẻ 6-7 tuổi vẽ tranh theo lối ước lệ, hồn nhiên, chưa chú ý đến tỷ lệ giải phẫu học mà phóng đại chi tiết gây ấn tượng trực giác mạnh (như vẽ bàn tay đủ năm ngón to hơn người khi vẽ chú bộ đội cầm súng), ưa chuộng màu nguyên chất, tươi sáng.
  • Chương trình Mĩ thuật lớp 2 hiện hành: Tổng thời lượng 35 tiết/năm (1 tiết/tuần), phân chia thành 5 phân môn truyền thống gồm Vẽ theo mẫu, Vẽ trang trí, Vẽ tranh, Tập nặn tạo dáng, Thường thức mĩ thuật; trong đó thời lượng thực hành chiếm 4/5.

Phương pháp nghiên cứu thực tế bao gồm ba nhóm:

  • Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận: Đọc, chọn lọc, phân loại, phân tích và tổng hợp các công trình nghiên cứu tâm lý học nghệ thuật (Vygotsky, Guilford, Fromm, Nguyễn Huy Tú, Phạm Thành Nghị, Trần Kiều, Trần Bích Liễu) và các tài liệu chuyên đề về phương pháp Đan Mạch.
  • Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Quan sát tiến trình giờ dạy; điều tra bằng phiếu hỏi (anket); trò chuyện, phỏng vấn sâu giáo viên; thực nghiệm sư phạm.
  • Nhóm phương pháp thống kê toán học: Xử lí dữ liệu định lượng thu được từ các phiếu điều tra theo tỷ lệ phần trăm.

Nguồn dữ liệu của đề tài:

  • Khảo sát học sinh: Phát 160 phiếu điều tra cho học sinh khối 2 Trường Tiểu học Huỳnh Ngọc Huệ, thu về 158 phiếu hợp lệ.
  • Khảo sát giáo viên: 02 phiếu thăm dò ý kiến và biên bản trao đổi chuyên môn với 02 giáo viên dạy Mĩ thuật chuyên trách tại trường.
  • Dữ liệu cơ sở vật chất từ báo cáo tổng kết của Trường Tiểu học Huỳnh Ngọc Huệ (gồm 31 phòng học, 48 cán bộ giáo viên nhân viên, 1.342 học sinh).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lí luận của đề tài

Chương 1 hệ thống hóa các quan điểm lí luận về năng lực sáng tạo và dạy học mĩ thuật. Tác giả phân tích lịch sử nghiên cứu sáng tạo từ thuật ngữ Ơristic thời Hy Lạp cổ đại của Pappos đến các công trình tâm lý học của Guilford, Fromm, Vygotsky và các tác giả Việt Nam. Luận điểm trọng tâm của chương khẳng định sáng tạo ở học sinh tiểu học bắt nguồn từ năng lực chuyển tải tri thức sang bối cảnh mới và vai trò định hướng của người thầy. Chương này mô tả cấu trúc 5 năng lực của phương pháp Đan Mạch, đối chiếu với đặc điểm nhận thức (tri giác, tư duy, tưởng tượng) và đặc điểm tạo hình của trẻ 6-7 tuổi, làm cơ sở khoa học để thiết kế các hoạt động dạy học tích hợp.

Chương 2: Cơ sở thực tiễn của đề tài

Chương 2 trình bày kết quả khảo sát thực trạng triển khai phương pháp Đan Mạch tại Trường Tiểu học Huỳnh Ngọc Huệ vào tháng 4/2018. Kết quả thu thập được qua phiếu anket của học sinh và giáo viên được phản ánh qua các bảng số liệu cụ thể:

Mức độ hứng thú Số lượng (phiếu) Tỷ lệ (%)
Rất thích 95 60%
Bình thường 61 39%
Không thích 2 1%

Bảng: Mức độ hứng thú của học sinh khối 2 đối với môn Mĩ thuật (n = 158)

Khảo sát về nhận thức nhiệm vụ của học sinh trong giờ học cho thấy: 51% học sinh (80 phiếu) chủ động tìm hiểu sách giáo khoa, quan sát mẫu vật/video và hợp tác với thầy cô, bạn bè; 18% (29 phiếu) chỉ thụ động lắng nghe giáo viên; 13% (21 phiếu) quan sát tranh ảnh mẫu; 12% (19 phiếu) tập trung hợp tác nhóm hoàn thành sản phẩm; 6% (9 phiếu) tự tìm hiểu sách giáo khoa đơn lẻ. Về hình thức tổ chức lớp học thường diễn ra: học theo lớp chiếm 46% (73 phiếu), học theo nhóm chiếm 34% (53 phiếu), và học cá nhân chiếm 20% (32 phiếu).

Đối với giáo viên Mĩ thuật (n = 2), số liệu khảo sát chỉ ra các khó khăn chính khi triển khai phương pháp mới:

  • Khó khăn thường xuyên: Phân bố thời gian dạy học (100% giáo viên xác nhận) và thu nhận, đánh giá kết quả của học sinh (100% giáo viên xác nhận).
  • Khó khăn thỉnh thoảng: Chuẩn bị đồ dùng dạy học (50% giáo viên xác nhận).

Về nhận định của giáo viên đối với sự phát triển năng lực của học sinh khi học theo phương pháp Đan Mạch:

  • 100% giáo viên ghi nhận học sinh phát triển tư duy logic (quan sát, so sánh, phân tích).
  • 100% giáo viên ghi nhận sự phát triển của trí tưởng tượng và óc sáng tạo.
  • 100% giáo viên đánh giá cao khả năng phát triển bản thân trong nghiên cứu và tiếp thu kiến thức.
  • 50% giáo viên nhận thấy sự cải thiện về tương tác nhóm và ý thức giữ trật tự chung.
  • Về các nhóm năng lực cần hình thành: 100% giáo viên lựa chọn năng lực trải nghiệm, kĩ năng kĩ thuật, biểu đạt, và phân tích trình bày; 50% lựa chọn năng lực tự học và giao tiếp đánh giá; năng lực tự quản lí bản thân đạt 0%.

Chương 3: Nghiên cứu các biện pháp nhằm phát huy tính sáng tạo cho học sinh lớp 2 trong dạy học Mĩ thuật theo phương pháp Đan Mạch

Chương 3 đề xuất 7 biện pháp sư phạm nhằm phát huy tính sáng tạo cho học sinh:

  • Biện pháp 1: Phát huy và nâng cao vai trò của người thầy: Giáo viên xây dựng tâm thế tự tin, sử dụng linh hoạt giáo án điện tử, liên hệ kiến thức liên môn (Âm nhạc, Tiếng Việt) và tự sáng tạo đồ dùng trực quan thay vì chỉ lệ thuộc sách giáo khoa.
  • Biện pháp 2: Sử dụng và chuẩn bị tốt đồ dùng dạy học: Đồ dùng phải đảm bảo tính thẩm mĩ, phong phú; sưu tầm thêm tranh vẽ của chính học sinh để làm mẫu phân tích bố cục, màu sắc; đưa vào các vật liệu thực tế từ đời sống và sử dụng đúng thời điểm.
  • Biện pháp 3: Tạo tình huống khi vào phần giới thiệu bài: Dùng bài hát, trò chơi phỏng đoán hoặc trình chiếu video thực tế (như phong cảnh thiên nhiên, tình trạng ô nhiễm môi trường trong bài "Sắc màu thiên nhiên") để kích thích trí tò mò của học sinh.
  • Biện pháp 4: Phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của học sinh trong phát hiện kiến thức mới: Xây dựng hệ thống câu hỏi gợi mở gắn với đời sống thực tế; tạo không khí thi đua tích cực trong quá trình thực hành; áp dụng nguyên tắc đánh giá động viên, không chê bai câu trả lời hay sản phẩm chưa hoàn thiện; tổ chức cho học sinh nhận xét chéo bài vẽ của bạn.
  • Biện pháp 5: Tổ chức lồng ghép các trò chơi, hội thi phù hợp: Tổ chức các trò chơi nhận biết con vật, thi hát về đề tài bài học nhằm giảm áp lực tâm lý và kích thích trí tưởng tượng.
  • Biện pháp 6: Giới thiệu sản phẩm, tranh vẽ, mở triển lãm tranh theo từng chủ đề: Cho học sinh trưng bày sản phẩm trên bảng hoặc máy chiếu đa vật thể; hướng dẫn học sinh nhận xét theo ba mức độ đánh giá: Hoàn thành tốt (A+), Hoàn thành (A), Chưa hoàn thành (B).
  • Biện pháp 7: Quan tâm, chú trọng hơn tới hình thức tổ chức dạy học ngoài lớp: Giải phóng học sinh khỏi không gian lớp học chật hẹp, tăng cường khả năng quan sát sự vật thực tế, rèn luyện cảm xúc thẩm mĩ và vốn sống thực tế thông qua các hoạt động tạo hình ngoài trời.

Chương này cũng xác lập quy trình vận dụng 7 quy trình mĩ thuật thử nghiệm của Đan Mạch:

  1. Vẽ cùng nhau và sáng tạo các câu chuyện (vẽ ký họa dáng người/vật).
  2. Vẽ biểu cảm (vẽ chân dung/vật thể theo mẫu không nhìn giấy).
  3. Trang trí và vẽ tranh qua âm nhạc (vẽ theo giai điệu nhạc).
  4. Xây dựng cốt truyện (xé, cắt dán nhân vật tạo hình không gian câu chuyện).
  5. Tạo hình 3D tiếp cận theo chủ đề (sử dụng dây thép, đất nặn, vật tìm được).
  6. Điêu khắc - Nghệ thuật tạo hình không gian (sắp đặt, hoạt cảnh, sắm vai).
  7. Tạo hình con rối và nghệ thuật biểu diễn.

Trên cơ sở đó, tác giả tiến hành tái cấu trúc chương trình 35 tiết lớp 2 thành hệ thống 8-9 chủ đề học tập lớn kéo dài từ 2 đến 5 tiết. Cụ thể phân phối trong học kì I và một phần học kì II:

Học kì Chủ đề Thời lượng Quy trình Mĩ thuật áp dụng Bài học tích hợp theo SGK lớp 2
I Vũ điệu của màu sắc 5 tiết Vẽ cùng nhau, Vẽ theo nhạc Bài 1, 6, 11, 14, 28
I Thiên nhiên quanh em 4 tiết Vẽ cùng nhau, Vẽ theo nhạc, Tạo hình 3D Bài 2, 4, 5, 13
I Em và những người thân yêu 2 tiết Vẽ biểu cảm, Vẽ theo nhạc Bài 10, 23
I Trường em 4 tiết Vẽ cùng nhau, Xây dựng cốt truyện, Tạo hình 3D Bài 7, 19, 21, 2
I Thiết kế thời trang đến trường của em 3 tiết Vẽ cùng nhau, Vẽ theo nhạc Bài 9, 20, 27
II Hộp màu của em 3 tiết Vẽ cùng nhau Bài 25, 22, 31
II Em và những vật nuôi yêu thích 4 tiết Vẽ biểu cảm, Vẽ cùng nhau, Tạo hình 3D Bài 24, 26, 16, 29

Chương 4: Thực nghiệm sư phạm

Nội dung chương 4 được thiết kế nhằm kiểm chứng tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp sư phạm đề xuất. Thực nghiệm được bố trí trên đối tượng học sinh lớp 2/1 Trường Tiểu học Huỳnh Ngọc Huệ; tiến hành qua các bước thiết kế giáo án thực nghiệm theo chủ đề tích hợp, tổ chức giảng dạy trên lớp có áp dụng quy trình mĩ thuật Đan Mạch, thu thập sản phẩm thực hành của học sinh và đánh giá mức độ phát triển tính sáng tạo so với giai đoạn trước thực nghiệm.

Kết quả và đóng góp

Kết quả nghiên cứu chính từ số liệu thực tế:

  • Dữ liệu điều tra xác nhận 60% học sinh yêu thích môn học và 51% học sinh đã hình thành thói quen chủ động tìm hiểu kiến thức kết hợp tương tác nhóm, cho thấy tiềm năng phát triển năng lực sáng tạo khi có phương pháp giảng dạy thích hợp.
  • 100% giáo viên tham gia khảo sát thừa nhận phương pháp mới giúp học sinh phát triển tư duy logic, trí tưởng tượng và khả năng tự nghiên cứu, tiếp thu kiến thức.
  • Xác định hai khó khăn lớn nhất mang tính thực tiễn của giáo viên là việc điều phối thời gian dạy học (100%) và phương pháp thu nhận, đánh giá sản phẩm học sinh (100%).

Đóng góp của khóa luận:

  • Về mặt lý luận và thực tiễn chuyên ngành: Tác giả chỉ ra rằng các công trình nghiên cứu trước đây (như của Guilford, Vygotsky, Nguyễn Huy Tú, hay tài liệu về họa sĩ Nguyễn Gia Trí) chủ yếu nghiên cứu tính sáng tạo ở góc độ tâm lý đại cương, sáng tác của nghệ sĩ hoặc đối tượng trẻ mầm non 5-6 tuổi, mà chưa đi sâu vào đánh giá mức độ sáng tạo của học sinh tiểu học trong môn Mĩ thuật. Khóa luận này đã lấp khoảng trống đó bằng cách tiếp cận trực tiếp học sinh lớp 2.
  • Về mặt phương pháp dạy học: Tác giả đã cụ thể hóa việc tích hợp chương trình Mĩ thuật lớp 2 hiện hành (vốn phân tán theo từng tiết đơn lẻ) thành hệ thống 8-9 chủ đề liên kết đa quy trình (vẽ theo nhạc, tạo hình 3D, vẽ biểu cảm, xây dựng cốt truyện).
  • Đề xuất kiến nghị cụ thể: Kiến nghị với Ngành cấp trên và Phòng Giáo dục cần đầu tư xây dựng phòng chức năng riêng cho môn Mĩ thuật, trang bị tủ đồ dùng đạt chuẩn và điều chỉnh thời khóa biểu cho phép bố trí các tiết học liền mạch từ 2 đến 3 tiết để quy trình Đan Mạch không bị gián đoạn.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Phạm vi khảo sát thực tế và thực nghiệm sư phạm chỉ bó hẹp trong phạm vi một đơn vị trường học (Trường Tiểu học Huỳnh Ngọc Huệ, quận Thanh Khê, Đà Nẵng) với mẫu khảo sát giáo viên chuyên trách còn nhỏ (02 giáo viên) và học sinh thuộc khối 2 (158 học sinh).
  • Điều kiện cơ sở vật chất của địa bàn nghiên cứu (phòng học nhỏ, thiếu phòng chức năng) khiến việc triển khai thực nghiệm một số quy trình như điêu khắc không gian lớn hay dạy học ngoài trời chưa thể thực hiện một cách đồng bộ và thường xuyên.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng phạm vi khảo sát và thực nghiệm sư phạm sang nhiều trường tiểu học khác trên địa bàn để tăng tính khái quát của số liệu.
  • Hoàn thiện việc thiết kế kế hoạch bài dạy theo các chủ đề tích hợp cho toàn bộ các khối lớp còn lại ở bậc tiểu học (khối 1, khối 3, khối 4 và khối 5).
  • Xây dựng tiêu chí và công cụ định lượng chi tiết hơn trong việc đánh giá mức độ phát triển năng lực sáng tạo của học sinh thông qua sản phẩm tạo hình.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên chuyên ngành Giáo dục Tiểu học và Sư phạm Mĩ thuật: Cung cấp khung phân tích tâm lý nhận thức và đặc điểm tạo hình của trẻ 6-7 tuổi, cùng các phương pháp tiếp cận nghiên cứu khoa học sư phạm (thiết kế phiếu anket, thu thập và xử lí số liệu điều tra).
  • Giáo viên Mĩ thuật tiểu học: Có thể tham khảo trực tiếp bảng phân phối chương trình tích hợp 35 tiết lớp 2 thành các chủ đề dạy học theo phương pháp Đan Mạch (chủ đề Vũ điệu của màu sắc, Thiên nhiên quanh em, Em và những người thân yêu...).
  • Các phần đáng tham khảo: Hệ thống 7 biện pháp sư phạm tại Chương 3, đặc biệt là cách đặt câu hỏi gợi mở, kĩ thuật đánh giá động viên theo ba mức độ (A+, A, B) và quy trình tổ chức dạy học ngoài lớp nhằm khắc phục không gian lớp học chật hẹp.

Câu hỏi thường gặp

1. Phương pháp Đan Mạch (SAEPS) trong môn Mĩ thuật tiểu học hướng tới hình thành những năng lực nào cho học sinh?
Theo khung lý thuyết của dự án được trích dẫn trong văn bản, phương pháp này hướng tới phát triển 5 năng lực: năng lực trải nghiệm, năng lực kĩ năng và kĩ thuật, năng lực biểu đạt, năng lực phân tích và diễn giải, cùng năng lực giao tiếp và đánh giá.

2. Những khó khăn lớn nhất mà giáo viên gặp phải khi triển khai phương pháp Đan Mạch tại trường Tiểu học Huỳnh Ngọc Huệ là gì?
Theo số liệu khảo sát tại Bảng 2.11 của khóa luận, 100% giáo viên (2/2) gặp khó khăn về việc phân bố thời gian dạy học (do tiết học bị ngắt quãng theo thời khóa biểu chung của trường) và việc thu nhận, đánh giá kết quả của học sinh. Ngoài ra, 50% giáo viên thỉnh thoảng gặp khó khăn trong khâu chuẩn bị đồ dùng dạy học.

3. Tranh vẽ của học sinh lớp 2 (độ tuổi 6-7 tuổi) có đặc điểm tâm lý và tạo hình như thế nào?
Tác giả phân tích: tranh của trẻ 6-7 tuổi mang tính ước lệ, hồn nhiên, chưa chú ý đến tỉ lệ logic mà vẽ phóng đại các hình ảnh nổi bật gây ấn tượng thị giác mạnh (ví dụ vẽ chú bộ đội thì khẩu súng và bàn tay được vẽ rất to và đủ năm ngón), màu sắc sử dụng chủ yếu là màu nguyên chất, tươi vui.

4. Chương trình Mĩ thuật lớp 2 hiện hành gồm những phân môn nào và được phân bổ thời gian ra sao?
Chương trình hiện hành gồm 35 tiết/năm (1 tiết/tuần x 35 tuần), phân chia thành 5 phân môn: Vẽ theo mẫu, Vẽ trang trí, Vẽ tranh, Thường thức mĩ thuật, và Tập nặn tạo dáng. Trong đó, thời lượng dành cho thực hành chiếm 4/5 tổng thời lượng.

5. Tác giả đề xuất đánh giá sản phẩm mĩ thuật của học sinh theo các mức độ nào?
Tại Biện pháp 6, tác giả đề xuất giáo viên tổ chức cho học sinh trưng bày sản phẩm, nhận xét bài của bạn và thực hiện đánh giá theo 3 mức độ: Hoàn thành tốt (kí hiệu A+), Hoàn thành (kí hiệu A), và Chưa hoàn thành (kí hiệu B) trên tinh thần khích lệ, động viên.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Kim Phụng đã làm rõ cơ sở lí luận và khảo sát thực trạng giảng dạy môn Mĩ thuật theo phương pháp Đan Mạch tại Trường Tiểu học Huỳnh Ngọc Huệ. Đề tài đã hệ thống hóa 7 biện pháp sư phạm trọng tâm và đề xuất khung kế hoạch dạy học tích hợp theo chủ đề cho học sinh lớp 2 nhằm khắc phục những bất cập về thời gian và cơ sở vật chất. Các giải pháp và dữ liệu khảo sát trong công trình cung cấp cơ sở thực tiễn hữu ích cho việc đổi mới phương pháp giáo dục nghệ thuật ở bậc tiểu học.