CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Cơ sở giáo dục học 1.1 Các khái niệm cơ bản 1.1 Khái niệm về Mĩ thuật. Trên thế giới, và ở cả Việt Nam, những người hoạt động trong ngành thường chỉ thừa nhận khái niệm mỹ thuật theo nghĩa hàn lâm và có sự phân biệt rõ rệt giữa mĩ thuật với thủ công mĩ nghệ và mĩ thuật ứng dụng. và dơn giản hơn:mỹ thuật là những đường nét được con người tự quy ước với nhau theo cảm nhận được sử dụng để biểu lộ thế giới thực tại gián tiếp qua 1 chất liệu nào dó theo một cách riêng của mỗi người cho là đẹp. Khi nói đến Mĩ thuật là người ta nói đến cái đẹp, làm nên cái đẹp và cả thưởng thức cái đẹp nhằm phục vụ, làm thỏa mãn nhu cầu trong đời sống vật chất và tinh thần của con người.
Đây là loại hình nghệ thuật ra đời từ rất sớm, từ khi con người chưa có khả năng thể hiện những suy nghĩ hay kiến thức của mình bằng chữ viết, con người đã dựa vào các hình mảng đường nét, màu sắc để truyền đạt thông tin của mình cho những người khác như biểu thị cho số 1 mọi người dùng một gạch, và số 2 thì dùng hai gạch. Càng về sau, thông tin con người muốn truyền đạt ngày càng nhiều nên ngôn ngữ tạo hình càng được phát triển và được nâng cao. Dần dần, các hình thức truyền đạt thông tin bằng hình mảng không còn là chỉ thể hiện hay muốn truyền đạt thông tin nào đó mà còn để con người gửi gắm những tâm tư, tình cảm của mình và nó trở thành một hình thức nghệ thuật để thỏa mãn nhu cầu của con người. Nói một cách chung nhất, Mĩ thuật là từ chỉ những loại hình nghệ thuật có mối quan hệ đến sự thụ cảm bằng mắt và tạo thành các hình tượng lấy từ thế giới vật chất bên ngoài để đưa lên mặt phẳng hoặc một không gian ngôn ngữ như: hình khối, màu sắc, đường nét, đậm nhạt, sáng tối… với các chất liệu phong phú và đa dạng mà ta có thể dùng để diễn tả được.2 Khái niệm về sáng tạo Theo Thái Phương nhận định: “Sáng tạo là say mê nghiên cứu, tìm tòi để tạo ra những giá trị mới về vật chất, tinh thần hoặc tìm ra cái mới, cách giải quyết mới mà không bị gò bó phụ thuộc vào những cái đã có.” Đây là một vài ví dụ đơn giản: 11 Luan van Chỉ với chiếc kẹp giấy đơn giản, bạn đã có thể làm được giá treo dây điện thoại vừa tiện lợi, vừa rất gọn gàng.
Bạn cảm thấy khó chịu vì bị đổ sữa ra hoài, hãy thử đổi cách cầm bình, như thế là ok rồi. Nhìn chung: sáng tạo là với bất cứ cái gì, ở bất cứ lĩnh vực nào của thế giới cả vật chất lẫn tinh thần. Là cách bạn tạo ra sự khác biệt với thứ bạn đã có trước với cái hình thành sau giúp tăng năng suất, tiết kiệm hay thân thiện với môi trường, tính ích lợi có thể mang đến cho gia đình, bản thân, cộng đồng 1.3 Khái niệm phương pháp Đan Mạch (SAEPS) Theo chuyên đề: “Dạy học Mĩ thuật theo phương pháp mới (SAEPS) của Đan Mạch” do Trần Thị Việt Hà thực hiện: Phương pháp dạy học theo chương trình và sách giáo khoa mới mà cho phép giáo viên lấy người học làm trung tâm, coi trọng khâu thực hành, nhằm “đánh thức” và hình thành năng lực của học sinh, phát triển trí tuệ, tư duy, logic. Học sinh tiếp thu bài giảng một cách sâu sắc và nhẹ nhàng, thoải mái.
Chính vì thế người giáo viên có trách nhiệm đặc biệt là tổ chức các quy trình dạy – học Mĩ, thuật nhằm phát triển Trí tuệ thị giác – không gian và ngôn ngữ thẩm mĩ.2 Năng lực sáng tạo của học sinh 1.1 Vai trò của năng lực sáng tạo đối với học sinh tiểu học Năng lực sáng tạo của mỗi học sinh trong quá trình học tập chính là điều kiện thuận lợi, khác biệt giữa mỗi học sinh để tự khẳng định vị trí, tự hoàn thiện bản thân để bản thân vươn lên trong quá trình học tập và rèn luyện. Nhờ có năng lực sáng tạo mà học sinh có khả năng vận dụng những kiến thức, kĩ năng đã học để giải quyết các nhiệm vụ học tập hay những vấn đề mà học sinh gặp trong cuộc sống. Năng lực sáng tạo là yếu tố quan trọng trong việc đào tạo ra những chủ nhân trong tương lai, góp phần vào việc hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Mục tiêu cuối cùng của giáo dục là đào tạo ra những con người mới có đầy đủ những phẩm chất và năng lực cần thiết để phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước.
Vì vậy, trong quá trình học tập, các nhà giáo dục cần tạo mọi điều kiện thuận lợi cho học sinh ở mọi lúc mọi nơi để hoàn thiện và phát triển đầy đủ và toàn diện các phẩm chất và năng lực cần thiết; góp phần vào việc nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội.2 Năng lực sáng tạo ở học sinh tiểu học Đối với học sinh tiểu học, năng lực sáng tạo chính là năng lực biết giải quyết vấn đề học tập cũng như trong cuộc sống thường ngày để tìm ra cái mới ở mức độ nào đó thể hiện được khuynh hướng, năng lực sáng tạo, kinh nghiệm của học sinh. 12 Luan van Năng lực nói chung và năng lực sáng tạo nói riêng không chỉ là bẩm sinh mà được hình thành và phát triển trong quá trình hoạt động của học sinh. Bởi vậy muốn hình thành năng lực học tập sáng tạo phải chuẩn bị cho học sinh những điều kiện cần thiết để họ có thể thực hiện thành công với một số kết quả mới mẻ nhất định trong hoạt động đó. Đó là tổ chức cho học sinh hoạt động càng nhiều càng tốt.
Thiên tài 99% là do lao động (hoạt động), hoạt động sáng tạo bất kì lúc nào, ở đâu, chỉ xảy ra trong khi giải quyết vấn đề. Từ các cơ sở trên chúng ta có thể có những quan niệm về năng lực sáng tạo của học sinh tiểu học như sau: - Năng lực tự chuyển tải tri thức kĩ năng từ lĩnh vực quen biết sang tình huống mới, vận dụng kiến thức đã học trong điều kiện hoàn cảnh mới. - Năng lực tự nhận thấy vấn đề mới trong điều kiện quen biết (tự đặt câu hỏi mới cho mình và cho mọi người về bản chất của các điều kiện, tình huống, sự vật). Năng lực nhìn thấy chức năng mới của đối tượng quen biết.
- Năng lực nhìn thấy cấu trúc của đối tượng đang nghiên cứu. Thực chất là bao quát nhanh chóng, đôi khi ngay tức khắc, các bộ phận, các yếu tố của đối tượng trong mối tương quan giữa chúng với nhau. - Năng lực biết đề xuất các giải pháp khác nhau khi phải xử lí một tình huống. Khả năng huy động các kiến thức cần thiết để đưa ra giả thiết hay các dự đoán khác nhau khi phải lí giải một hiện tượng.
- Năng lực xác nhận bằng lí thuyết và thực hành các giả thuyết (hoặc phủ nhận nó). Năng lực biết đề xuất các phương án thí nghiệm hoặc thiết kế sơ đồ thí nghiệm để kiểm tra giả thuyết hay hệ quả suy ra từ giả thuyết hoặc để đo một đại lượng nào đó với hiệu quả cao nhất có thể được trong những điều kiện đã cho. - Năng lực nhìn nhận một vấn đề dưới những góc độ khác nhau, xem xét đối tượng ở những khía cạnh khác nhau, đôi khi mâu thuẫn nhau. Năng lực tìm ra các giải pháp lạ, chẳng hạn đối với bài toán, có nhiều các nhìn đối việc tìm kiếm lời giải, năng lực kết hợp nhiều phương pháp giải bài tập để tìm ra một phương pháp mới, độc đáo.
Như vậy, năng lực sáng tạo chính là khả năng thực hiện được những điều sáng tạo. Đó là nét làm thành thạo và luôn đổi mới, có những nét độc đáo riêng luôn phù hợp với thực tế. Luôn biết và đề ra những cái mới khi chưa được học, nghe giảng hay đọc tài liệu hay tham quan về việc đó nhưng vẫn đạt kết quả cao.3 Quá trình hình thành và phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh tiểu học Dạy học phát triển năng lực sáng tạo sẽ phát triển các tiềm năng sáng tạo của học sinh, giúp các em trở thành những cá nhân sáng tạo. Đồng thời qua đó tạo điều kiện để học sinh làm chủ quá trình học tập của bản thân, tự kiểm soát quá trình học tập, sáng tạo, hứng thú 13 Luan van và đam mê học tập… Tuy nhiên, để dạy và học sáng tạo đạt hiệu quả thì giáo viên đóng vai trò quyết định trong quá trình giáo dục.
Sáng tạo bắt đầu từ người thầy Giáo dục hiện đại có mục tiêu phát triển ở học sinh các năng lực như: tự học, tự giáo dục, năng lực tư duy sáng tạo, tò mò, tưởng tượng, sư hài hước… Vì vậy, tổ chức nhà trường và quá trình sư phạm có trách nhiệm hình thành các năng lực tâm lý, trí tuệ của cá nhân từng học sinh, lôi kéo từng cá nhân vào việc quản lý quá trình sáng tạo; Giáo viên đồng thời cần sáng tạo sử dụng các phương pháp dạy học mới, các công cụ và kĩ thuật sáng tạo trong quá trình dạy học. Giáo viên hơn tất thảy phải ý thức và hiểu được các năng lực sáng tạo của người học, làm cho người học tin tưởng rằng họ có năng lực sáng tạo; Giáo viên phải phát triển các tiềm năng sáng tạo của người học (tạo cơ hội điều kiện cho người học khám phá sự thật, cung cấp hiểu biết về các năng lực khoa học và phát triển kĩ năng, các tố chất, thái độ sáng tạo…) Giáo viên cần đặt các mục tiêu phát triển năng lực sáng tạo của học sinh trong các mục tiêu tiêu dạy học, xác định các công cụ, phương pháp sáng tạo và nguyên liệu ngay từ khâu chuẩn bị bài. Mỗi giáo viên cần chủ động sử dụng các phương pháp và công cụ sáng tạo trong suốt quá trình dạy học và trong quá trình đánh giá năng lực của người học. Giáo viên cần đánh giá sự phát triển năng lực sáng tạo của học sinh qua ý tưởng và sản phẩm mà các em sáng tạo theo một số tiêu chí về tính mới, tính độc đáo và tính hữu ích của nó.