Luận án tiến sĩ phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh thpt vùng đồng bằng sông cửu long thông qua bài tập phân hóa phần hóa học hữu cơ

Luận án tiến sĩ nghiên cứu phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh THPT vùng Đồng bằng sông Cửu Long qua bài tập phân hóa hóa học hữu cơ.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2020

172
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA DẠY HỌC PHÂN HOÁ VÀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC Ở TRƯỜNG THPT

1.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu

1.2. Nghiên cứu về dạy học phân hóa

1.3. Nghiên cứu về phát triển năng lực và năng lực giải quyết vấn đề trong dạy học trên

1.4. Quan điểm về năng lực và phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh THPT

1.5. Một số vấn đề chung về năng lực

1.6. Phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh THPT

1.7. Quan điểm dạy học phân hoá

1.8. Khái niệm và các hình thức dạy học phân hóa

1.9. Các lí thuyết học tập làm cơ sở cho dạy học phân hoá

1.10. Những yếu tố của dạy học phân hóa

1.11. Những yêu cầu cần đảm bảo để tổ chức dạy học phân hóa hiệu quả

1.12. Bài tập định hướng phát triển năng lực và bài tập phân hoá

1.12.1. Bài tập định hướng phát triển năng lực

1.12.2. Bài tập phân hóa

1.13. Một số phương pháp dạy học tích cực theo quan điểm dạy học phân hoá góp phần phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh

1.13.1. Phương pháp dạy học giải quyết vấn đề

1.13.2. Phương pháp dạy học dự án

1.13.3. Dạy học theo góc

1.14. Thực trạng sử dụng phương pháp dạy học và bài tập phân hoá trong dạy học hoá học để phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh ở trường phổ thông vùng Đồng bằng sông Cửu Long

1.14.1. Đặc điểm kinh tế văn hoá giáo dục vùng Đồng bằng sông Cửu Long

1.14.2. Đánh giá thực trạng dạy học và phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh trong dạy học hóa học vùng đồng bằng sông Cửu Long

1.15. TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

2. MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CHO HỌC SINH THÔNG QUA BÀI TẬP PHÂN HÓA PHẦN HÓA HỌC HỮU CƠ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

2.1. Phân tích mục tiêu, cấu trúc nội dung chương trình phần hoá hữu cơ THPT

2.2. Mục tiêu của chương trình hoá học và phần hoá học hữu cơ THPT

2.3. Cấu trúc, đặc điểm nội dung phần hoá học hữu cơ THPT

2.4. Bài tập phân hoá phần hoá học hữu cơ nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh vùng Đồng bằng sông Cửu Long

2.5. Nguyên tắc lựa chọn và xây dựng bài tập phân hóa nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề

2.6. Sự phân loại bài tập phân hóa định hướng phát triển năng lực

2.7. Quy trình xây dựng bài tập phân hóa định hướng phát triển năng lực

2.8. Hệ thống bài tập phân hóa phát triển năng lực giải quyết vấn đề phần hoá học hữu cơ THPT

2.9. Cơ sở khoa học và nguyên tắc xác định biện pháp sử dụng bài tập phân hóa trong dạy học để phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh

2.9.1. Cơ sở khoa học của việc xác định biện pháp sử dụng bài tập phân hóa để phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh trong dạy học hóa học

2.9.2. Nguyên tắc xác định biện pháp sử dụng bài tập phân hóa để phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh

2.10. Một số biện pháp sử dụng phối hợp bài tập phân hoá trong dạy học phần hoá học hữu cơ nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh Trung học phổ thông vùng Đồng bằng sông Cửu Long

2.10.1. Biện pháp 1: Sử dụng phối hợp bài tập phân hóa với dạy học giải quyết vấn đề trong dạy học phần hóa học hữu cơ nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh

2.10.2. Biện pháp 2: Sử dụng phối hợp bài tập phân hóa với dạy học theo góc trong dạy học phần hóa học hữu cơ nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh

2.10.3. Biện pháp 3: Sử dụng phối hợp bài tập phân hóa với dạy học dự án trong dạy học phần hóa học hữu cơ nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh

2.11. Thiết kế bộ công cụ đánh giá sự phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh thông qua sử dụng bài tập phân hoá trong dạy học phần hoá học hữu cơ ở trường Trung học phổ thông

2.11.1. Yêu cầu của bộ công cụ đánh giá năng lực giải quyết vấn đề của học sinh thông qua sử dụng bài tập phân hóa trong dạy học phần hóa học hữu cơ ở trường Trung học phổ thông

2.11.2. Cơ sở để thiết kế bộ công cụ đánh giá năng lực giải quyết vấn đề

2.11.3. Bộ công cụ đánh giá năng lực giải quyết vấn đề của học sinh khi sử dụng bài tập phân hóa tổ chức hoạt động dạy học phần hóa học hữu cơ THPT

2.12. TIỂU KẾT CHƯƠNG 2

3. THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

3.1. Mục đích thực nghiệm sư phạm

3.2. Nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm

3.3. Nội dung thực nghiệm sư phạm

3.4. Đối tượng và địa bàn thực nghiệm sư phạm

3.4.1. Chọn đối tượng thực nghiệm sư phạm

3.4.2. Chọn địa bàn thực nghiệm sư phạm

3.5. Phương pháp thực nghiệm sư phạm

3.6. Chuẩn bị thực nghiệm sư phạm

3.7. Lựa chọn phương án thực nghiệm sư phạm và phương pháp xử lí dữ liệu

3.8. Triển khai thực nghiệm sư phạm

3.9. Xử lí kết quả thực nghiệm sư phạm

3.10. Kết quả phiếu hỏi ý kiến của chuyên gia và giáo viên chuyên môn

3.11. Kết quả thực nghiệm sư phạm về sử dụng phối hợp bài tập phân hóa với dạy học giải quyết vấn đề, dạy học dự án và dạy học theo góc phần hóa học hữu cơ ở trường Trung học phổ thông

3.11.1. Kết quả phân tích định tính

3.11.2. Kết quả phân tích định lượng

3.12. TIỂU KẾT CHƯƠNG 3

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Cơ sở lý luận và thực tiễn của dạy học phân hóa và phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh trong dạy học hóa học ở trường THPT

Năng lực giải quyết vấn đề (năng lực giải quyết vấn đề) là một trong những năng lực quan trọng mà học sinh THPT cần phát triển. Việc dạy học phân hóa trong môn hóa học, đặc biệt là phần hóa học hữu cơ, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao năng lực này. Theo nghiên cứu, dạy học phân hóa không chỉ giúp học sinh tiếp cận kiến thức một cách hiệu quả mà còn khuyến khích sự sáng tạo và tư duy phản biện. Các phương pháp dạy học tích cực như dạy học giải quyết vấn đề, dạy học dự án và dạy học theo góc đã được chứng minh là có hiệu quả trong việc phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh. Việc áp dụng các bài tập hóa học hữu cơ (bài tập hóa học hữu cơ) phù hợp với từng đối tượng học sinh sẽ tạo ra môi trường học tập tích cực, giúp học sinh phát triển tư duy và khả năng phân tích. Đặc biệt, trong bối cảnh giáo dục hiện đại, việc phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh không chỉ là yêu cầu của chương trình học mà còn là nhu cầu thực tiễn trong cuộc sống.

1.1. Quan điểm về năng lực và phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh THPT

Năng lực giải quyết vấn đề được định nghĩa là khả năng của học sinh trong việc nhận diện, phân tích và tìm ra giải pháp cho các vấn đề thực tiễn. Để phát triển năng lực này, giáo viên cần áp dụng các phương pháp dạy học tích cực, khuyến khích học sinh tham gia vào quá trình học tập một cách chủ động. Việc sử dụng bài tập phân hóa trong dạy học hóa học hữu cơ không chỉ giúp học sinh nắm vững kiến thức mà còn rèn luyện kỹ năng tư duy phản biện và khả năng làm việc nhóm. Các bài tập này cần được thiết kế đa dạng, phù hợp với từng đối tượng học sinh, từ đó tạo ra sự hứng thú và động lực học tập cho học sinh. Đặc biệt, việc áp dụng phương pháp dạy học giải quyết vấn đề trong dạy học hóa học sẽ giúp học sinh phát triển khả năng tư duy độc lập và sáng tạo, từ đó nâng cao năng lực giải quyết vấn đề của mình.

1.2. Thực trạng sử dụng phương pháp dạy học và bài tập phân hóa trong dạy học hóa học

Thực trạng hiện nay cho thấy, nhiều giáo viên vẫn còn áp dụng phương pháp dạy học truyền thống, chú trọng vào việc truyền đạt kiến thức mà chưa chú trọng đến việc phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh. Việc sử dụng bài tập hóa học hữu cơ trong dạy học còn hạn chế, chủ yếu tập trung vào các bài tập trắc nghiệm và lý thuyết. Điều này dẫn đến việc học sinh chỉ có thể giải quyết các bài tập một cách máy móc mà không hiểu sâu về bản chất vấn đề. Để khắc phục tình trạng này, giáo viên cần thiết kế các bài tập phân hóa phù hợp với từng đối tượng học sinh, từ đó tạo ra môi trường học tập tích cực và khuyến khích học sinh phát triển năng lực giải quyết vấn đề. Việc áp dụng các phương pháp dạy học tích cực sẽ giúp học sinh không chỉ nắm vững kiến thức mà còn phát triển các kỹ năng cần thiết cho cuộc sống.

II. Một số biện pháp phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh thông qua bài tập phân hóa phần hóa học hữu cơ ở trường trung học phổ thông

Để phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh THPT, việc áp dụng các biện pháp dạy học phân hóa là rất cần thiết. Các biện pháp này bao gồm việc xây dựng hệ thống bài tập phân hóa đa dạng, phù hợp với từng đối tượng học sinh. Bài tập phân hóa không chỉ giúp học sinh nắm vững kiến thức mà còn rèn luyện kỹ năng tư duy và khả năng giải quyết vấn đề. Việc sử dụng bài tập hóa học hữu cơ trong dạy học cần được thiết kế sao cho phù hợp với mức độ nhận thức và phong cách học tập của từng học sinh. Đặc biệt, giáo viên cần chú trọng đến việc tạo ra các tình huống thực tiễn để học sinh có thể áp dụng kiến thức vào thực tế. Điều này không chỉ giúp học sinh phát triển năng lực giải quyết vấn đề mà còn tạo ra sự hứng thú trong học tập.

2.1. Nguyên tắc lựa chọn và xây dựng bài tập phân hóa nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề

Nguyên tắc đầu tiên trong việc lựa chọn và xây dựng bài tập phân hóa là phải đảm bảo tính phù hợp với năng lực và nhu cầu của học sinh. Bài tập cần được thiết kế sao cho có thể kích thích sự tò mò và hứng thú của học sinh. Thứ hai, bài tập cần phải có tính thực tiễn, giúp học sinh có thể áp dụng kiến thức vào các tình huống thực tế. Cuối cùng, việc xây dựng bài tập cần phải đảm bảo tính đa dạng, từ đó tạo ra nhiều cơ hội cho học sinh phát triển năng lực giải quyết vấn đề. Việc áp dụng các bài tập phân hóa trong dạy học hóa học hữu cơ sẽ giúp học sinh không chỉ nắm vững kiến thức mà còn phát triển các kỹ năng cần thiết cho cuộc sống.

2.2. Hệ thống bài tập phân hóa phát triển năng lực giải quyết vấn đề phần hóa học hữu cơ THPT

Hệ thống bài tập phân hóa cần được xây dựng dựa trên các tiêu chí cụ thể, bao gồm mức độ nhận thức, mức độ phức tạp và phong cách học tập của học sinh. Các bài tập này cần được phân loại rõ ràng, từ đó giúp giáo viên dễ dàng lựa chọn và áp dụng trong quá trình dạy học. Việc sử dụng hệ thống bài tập phân hóa sẽ giúp học sinh phát triển năng lực giải quyết vấn đề một cách hiệu quả. Đặc biệt, giáo viên cần thường xuyên đánh giá và điều chỉnh hệ thống bài tập để đảm bảo tính phù hợp và hiệu quả trong quá trình dạy học. Điều này không chỉ giúp học sinh nắm vững kiến thức mà còn phát triển các kỹ năng cần thiết cho cuộc sống.

25/01/2025
Luận án tiến sĩ phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh thpt vùng đồng bằng sông cửu long thông qua bài tập phân hóa phần hóa học hữu cơ

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA DẠY HỌC PHÂN HÓA VÀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC Ở TRƯỜNG THPT 1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu 1. Nghiên cứu về dạy học phân hóa 1. Trên thế giới Ở Phương Đông, Khổng Tử (551 – 479 TCN) quan tâm nhiều đến PP DHPH.

Trong DH, nội dung được ông chia hai phần: Tâm truyền và công truyền. Phần công truyền được ông nói về luân thường đạo lý để GD mọi người, còn phần tâm truyền được ông nói về sự cao xa, khó hiểu để GD riêng cho người có khả năng đặc biệt. Ông đòi hỏi HS phải nỗ lực cao và dựa vào đặc điểm HS mà yêu cầu GV có PP dạy cho phù hợp [82]. Ở Phương Tây, nhiều nhà GD đã chú ý nghiên cứu về DH hướng đến HS, khai thác tối đa khả năng của mỗi HS.

Quan điểm DH phải phát huy tính tích cực, chủ động của mọi đối tượng HS đã được các nhà GD Nga và các nước Phương Tây chú trọng cuộc đổi mới PPDH được quan tâm hàng đầu [29], [40], [52], [59], [61], [74], [87]. Dewey [88] cho rằng GD và DH chỉ dẫn phát triển tiềm năng, khả năng tiềm ẩn của người học. Do vậy, quá trình DH luôn hướng vào HS, tạo cho HS học bằng kinh nghiệm của bản thân. Các quan điểm DH này cũng được các tác giả Iu.

Rutxô quan tâm nghiên cứu về sự phát triển của từng HS và lôi cuốn họ vào quá trình học tập, giúp cho HS tích cực, tự lực, tự tìm tòi, tự khám phá, tự thu nhận kiến thức. Như vậy, DH phải hướng đến sở thích, nhu cầu, hứng thú của mỗi HS, DH dựa trên sự trải nghiệm của cá nhân để điều khiển và dẫn dắt HS đáp ứng được các mục tiêu DH đề ra. Đây là những nét đặc thù, cơ bản của DHPH. DHPH được xuất phát từ lí thuyết vùng phát triển gần của L.

Theo lí thuyết này, trong suốt quá trình hình thành và phát triển, tâm lí của HS thể hiện ở 2 mức độ: Vùng phát triển hiện tại và vùng phát triển gần nhất. Theo các nghiên cứu của Riddle và Dabbagh [100] đã chỉ ra vùng phát triển gần nhất là vùng có khả năng phát triển gần đạt tới, tức là khoảng cách giữa trình độ phát triển hiện có và trình độ phát triển tiềm năng, nên có sự liên kết những tri thức mà HS đã học luan an 6 với những tri thức mới. Như vậy, HS chỉ có thể tiến đến vùng phát triển gần nhất và sau đó có thể tự học nếu được hướng dẫn bởi GV hoặc chuyên gia [100], [101]. GV trở thành người thiết kế, tổ chức các HĐHT dựa trên những điều HS đã biết, đồng thời đặt ra những nhiệm vụ mới mang tính thách thức để khuyến khích HS tìm hiểu và giải quyết nhằm cho phép HS đạt được vùng phát triển của mình.

Với nghiên cứu của Howard Gardner về thuyết đa trí tuệ [29], [90], [91], [92] cùng các nghiên cứu của Armstrong. T [74], [85] một số nhà khoa học đã xác định cá nhân khác nhau có cách học hay PCHT khác nhau. Dựa trên lí thuyết học tập trải nghiệm, David Kolb [97] đã đưa ra mô hình PCHT và xác định 4 PCHT cơ bản là: Phong cách hội tụ (converging), phong cách phân kỳ (diverging), phong cách đồng hóa (assimilating), phong cách điều chỉnh (accommodating). Một số người khác cho rằng HS có PCHT khác nhau trong những hoàn cảnh khác nhau.

Mô hình này cũng đã ứng dụng rộng rãi trong thực tiễn. Từ những năm 1970, các nhà GD Mỹ cũng có các nghiên cứu về PCHT, Rita Dunn và Kenneth Dunn đã xuất bản cuốn sách: “Dạy sinh viên thông qua phong cách học cá nhân của họ” [104] và xây dựng bộ công cụ đánh giá PCHT. Cuốn sách này được rất đông trường phổ thông, trường đại học ở Mỹ và một số nước khác đã sử dụng. Tác giả Carol Ann Tomlinson (Đại học Virginia -Mỹ) đã có 200 bài báo, sách và các tài liệu khác về DHPH đã đưa ra quan điểm “Lớp học phân hóa” [105], [106].

Quan điểm này xác định, hướng dẫn PH như là một triết lý DH trước tiên HS đó phải học tốt nhất, khi đó GV có sự thích ứng/điều chỉnh với sự khác biệt về mức độ sẵn sàng, lợi ích và hồ sơ học tập của họ, mục tiêu cốt yếu của DHPH là tận dụng khả năng của mỗi HS để học tập. Với quan điểm “Phân hóa học sinh hay cá thể hóa người học tức là xác nhận nguồn gốc/tiểu sử/nền tảng khác nhau của học sinh và mức độ sẵn sàng, ngôn ngữ, sở thích và hồ sơ học tập” [94], Mulroy và Eddinger [99] cho rằng DHPH nổi lên trong bối cảnh, tình huống PCHT của HS rất đa dạng, với môi trường học tập PH nên GV cần thiết kế nhiều HĐHT để đáp ứng các nhu cầu đa dạng của HS. Do vậy, GV cần tạo ra môi trường học tập luan an 7 tốt nhất cho HS để HS thể hiện được hết các NL của mình và được đánh giá thông qua các kiến thức đánh giá cụ thể [98], [99], [106]. Ở Việt Nam Ở Việt Nam DHPH đã được đề cập, vận dụng từ cấp độ vĩ mô và vi mô.

Mô hình DHPH đầu tiên theo mô hình GD của Pháp, ở nước ta đã được thực hiện từ trước năm 1945. Theo mô hình này trường THPT được tổ chức theo nhiều chuyên khoa, dành cho con em nhà giàu sẽ sang học tại Pháp, số lượng HS ít [25]. Sau năm 1945, ở miền Bắc đã tiếp quản nền GD của Pháp. Hệ thống giáo dục phổ thông (GDPT) được sửa đổi thành hệ 11 năm (4 + 4 + 3) với cấp tiểu học 4 năm và cấp trung học 7 năm, trong đó trung học bậc cao (trung học chuyên khoa – 3 năm) được chia làm 3 ban: Toán – Lý – Hóa; Lý – Hóa – Sinh và Văn – Sử – Địa.

Trong những năm 1970 nền giáo dục Miền Nam Việt Nam có khuynh hướng chấp nhận mô hình GD Hoa Kỳ có tính cách đại chúng và thực tiễn. Hệ thống GD gồm tiểu học, trung học và đại học, với các cơ sở GD công lập, dân lập, và tư thục ở cả ba bậc học với hệ thống tổ chức quản trị từ trung ương cho tới địa phương. Triết lí GD dựa trên 3 nguyên tắc “nhân bản”, “dân tộc” và “khai phóng”. Mục tiêu GD được xác định là: Phát triển toàn diện mỗi cá nhân; phát triển tinh thần Quốc gia ở mỗi học HS; phát triển tinh thần dân chủ và tinh thần khoa học.

Bậc tiểu học và GD phổ cập (bắt buộc) gồm năm lớp (từ lớp 1 – 5). GD trung học gồm: Trung học đệ nhất và trung học đệ nhị. HS đậu được Tú tài II thì có thể ghi danh vào học ở một trong các viện đại học, trường đại học và học viện trong nước. Vào những năm 80, chương trình cải cách GDPT phải điều chỉnh theo hướng giảm nhẹ và không tiến hành phân ban ở THPT.

Từ năm học 2003 – 2004 GDPT phân thành 2 ban, khoa học tự nhiên (ban A), khoa học xã hội (ban C) và các môn tự chọn. Từ năm học 2006 – 2007, Bộ GD&ĐT quyết định tiến hành mô hình phân hóa GDPT theo hình thức “phân thành ba ban kết hợp với tự chọn từ lớp 10” bao gồm: Ban khoa học tự nhiên, ban khoa học xã hội – nhân văn và ban cơ bản. Bên cạnh đó, cơ cấu hệ thống nhà trường phổ thông khá đa dạng, ở cấp THPT có ba loại hình trường: THPT, THPT chuyên, THPT kĩ thuật. Ngoài ra, còn có một số loại hình trường dành riêng cho đối tượng HS khuyết tật và dân tộc thiểu số.

Cùng với các nghiên cứu về DHPH cấp vĩ mô, DHPH cấp vi mô cũng được chú trọng nghiên cứu. Thông qua các đề tài cấp Bộ của các tác giả Tôn Thân [66], luan an 8 Nguyễn Thị Minh Phương [55], Đào Thái Lai [39] các công trình này đã tập trung nghiên cứu về mô hình DHPH trong GDPT, các giải pháp thực hiện chương trình GDPT theo định hướng DHPH nhằm chuẩn bị cho việc đổi mới GD nước ta từ 2015 – 2020. Cùng với các đề tài cấp Bộ, DHPH cũng được nhiều nhà GD quan tâm nghiên cứu như các công trình của Tôn Thân [67], Nguyễn Bá Kim, Vũ Dương Thụy [38], Đào Thị Hồng [31], Đặng Thành Hưng [33], Lê Hoàng Hà [26]. Các nghiên cứu này đề cập đến cơ sở sư phạm của DHPH.

Quản lí DH và đánh giá theo quan điểm DHPH. Trong các nghiên cứu này chưa đề cập sâu đến việc DHPH trong lớp học và việc PH HS theo phong cách, nhịp độ, sản phẩm của quá trình học tập. Việc đánh giá HS theo quan điểm DHPH chỉ dừng ở đánh giá theo MĐNT (biết - hiểu - vận dụng). Nghiên cứu về DHPH trong lớp học được đề cập trong nghiên cứu về đổi mới PPDH theo hướng DH tích cực thông qua DA Việt - Bỉ [9] và các đề án đổi mới GDPT theo định hướng phát triển NL người học [5], [7], [10].

Từ định hướng này đã có các nghiên cứu vận dụng quan điểm DHPH trong DH các môn học thông qua sử dụng DHGQVĐ, DHDA và DHTG. Trong DHHH một số nghiên cứu đã vận dụng quan điểm DHPH của các tác giả Đặng Thị Oanh, Đỗ Thị Quỳnh Mai, Phạm Ngọc Bằng [42], [43], [49], [51]. Trong một số công trình này, nhiều tác giả cũng đã đề cập đến sử dụng các PPDH theo quan điểm DHPH trong DH phần hóa học Phi Kim THPT như: DHTG, DH theo hợp đồng, xây dựng BTPH phần hóa học phi kim. Các nghiên cứu này đã chú trọng hơn đến việc PH HS theo PCHT, theo nhịp độ học tập của HS thể hiện điểm mới mẻ so với các nghiên cứu trước đó chỉ chú ý đến PH HS theo MĐNT và tư duy như các công trình của tác giả Lê Văn Dũng [19] và Trần Ngọc Huy [35], Trần Thị Kim Liên [40], Vũ Thị Thu Hoài [29].

Bên cạnh đó, có một số công trình nghiên cứu về tuyển chọn, xây dựng và sử dụng hệ thống BTPH phần Đại cương về HHHC, về hiđrocacbon no, este - lipit, cacbohiđrat, các công trình này chỉ nghiên cứu một phần hoặc một số chương của chương trình HHHC. Do đó, chúng tôi chọn nghiên cứu xây dựng và sử dụng BTPH phần HHHC nhằm mục đích làm sáng tỏ các vấn đề về BTPH phần HHHC trong DHHH ở trường THPT hiện nay. Quan điểm DHPH đã được xác định và là một trong những định hướng để các nhà GD xây dựng chương trình GDPT, chương trình tổng thể ở nước ta và được chú trọng thực hiện đổi mới các PPDH định hướng phát triển NL của HS.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Luận án tiến sĩ về phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh THPT vùng Đồng bằng sông Cửu Long" của tác giả Trang Quang Vinh, dưới sự hướng dẫn của PGS. Nguyễn Thị Sửu và PGS. Lê Văn Năm, tập trung vào việc phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh trung học phổ thông thông qua các bài tập hóa học hữu cơ. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp những phương pháp giảng dạy hiệu quả mà còn giúp nâng cao khả năng tư duy phản biện và sáng tạo của học sinh, từ đó cải thiện chất lượng giáo dục tại các trường THPT ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Để mở rộng thêm kiến thức về phát triển năng lực giải quyết vấn đề trong giáo dục, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như "Luận án tiến sĩ về phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo cho học sinh vùng Tây Bắc trong dạy học hóa học phi kim", nơi nghiên cứu về cách thức phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh ở một khu vực khác. Bên cạnh đó, "Luận văn thạc sĩ: Phát triển năng lực tự học cho học sinh qua hệ thống bài tập hóa học lớp 12" cũng là một tài liệu hữu ích, giúp bạn hiểu rõ hơn về việc tự học và ứng dụng bài tập trong dạy học hóa học. Cuối cùng, "Luận văn thạc sĩ: Dạy học tích hợp để phát triển năng lực giải quyết vấn đề trong hóa học 11" sẽ cung cấp thêm góc nhìn về việc tích hợp trong giảng dạy để nâng cao năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn sâu sắc hơn về các phương pháp giáo dục hiện đại và hiệu quả trong việc phát triển năng lực cho học sinh.