Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Nghiên cứu nội dung những đơn vị kiến thức khó trong chương trình Giáo dục công dân lớp 11 ở Trung học Phổ thông hiện nay" được tác giả Vũ Thị Thu Hà (lớp 14SGC, Khoa Giáo dục Chính trị, Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng) thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS. Đinh Thị Phượng vào tháng 04 năm 2018. Công trình thuộc chuyên ngành Sư phạm Giáo dục công dân và lý luận dạy học bộ môn.

Về bối cảnh thực tiễn, môn Giáo dục công dân (GDCD) cấp Trung học Phổ thông (THPT) giữ vị trí nền tảng trong việc giáo dục thế giới quan, nhân cách và trách nhiệm công dân. Trong đó, chương trình GDCD lớp 11 giữ vai trò then chốt khi trang bị hệ thống tri thức về kinh tế học chính trị, định hướng nghề nghiệp và các vấn đề chính trị - xã hội gắn với công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Cấu trúc chương trình gồm hai mạch nội dung: Phần 1 - Công dân với kinh tế và Phần 2 - Công dân với các vấn đề chính trị - xã hội. Hầu hết các đơn vị kiến thức (ĐVKT) trong chương trình được kết cấu dưới dạng các khái niệm, phạm trù có tính trừu tượng, khái quát hóa cao, phân chia thành ba cấp độ: ĐVKT dễ, ĐVKT trung bình và ĐVKT khó nhằm phân hóa đối tượng học sinh.

Mặc dù Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) đã ban hành sách giáo viên (SGV) phân tích và gợi ý giảng dạy các nội dung khó, thực tiễn dạy học tại các trường THPT vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn:

  • Giáo viên gặp lúng túng trong việc xây dựng tiến trình bài học, lựa chọn ví dụ minh họa tương thích với nội hàm khái niệm khoa học và trình độ nhận thức của học sinh lớp 11.
  • Tình trạng giáo viên và học sinh hiểu sai hoặc chưa đầy đủ bản chất khái niệm diễn ra khá phổ biến; giáo viên còn thiếu kiến thức chuyên sâu và hạn chế trong việc cập nhật các vấn đề thời sự, chính trị - xã hội vào bài giảng.
  • Phương tiện, đồ dùng dạy học còn nghèo nàn; phương pháp dạy học chủ yếu dừng lại ở truyền thụ một chiều, phụ thuộc sách giáo khoa, thiếu sáng tạo trong việc tổ chức các hoạt động học tập tích cực, dẫn đến việc học sinh thụ động, khó tiếp thu các nội dung trừu tượng.

Xuất phát từ thực trạng trên, tác giả xác định mục tiêu và hệ thống nhiệm vụ nghiên cứu:

  • Mục tiêu nghiên cứu: Làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn của ĐVKT khó trong dạy học môn GDCD lớp 11; phân tích cụ thể nội dung các ĐVKT khó trong hai mạch kiến thức của chương trình; trên cơ sở đó, lựa chọn và thiết kế các hoạt động dạy học mẫu nhằm hỗ trợ giáo viên tổ chức dạy học hiệu quả.

  • Nhiệm vụ nghiên cứu (gồm 4 nhiệm vụ được đánh số theo văn bản):

  1. Khái quát về vùng nhận thức trong dạy học.
  2. Phân tích đặc thù tri thức và phân phối chương trình GDCD lớp 11 ở THPT.
  3. Xác định địa chỉ và phân tích nội dung những ĐVKT khó trong chương trình GDCD lớp 11 ở THPT.
  4. Thiết kế các hoạt động dạy học những ĐVKT khó trong chương trình GDCD lớp 11 ở THPT.
  • Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
  • Đối tượng nghiên cứu: Nội dung các ĐVKT nằm trong vùng phát triển gần nhất và vùng học sinh chưa thể làm trong hai mạch nội dung của chương trình GDCD lớp 11 THPT hiện hành.
  • Phạm vi nghiên cứu: Tập trung vào các ĐVKT khó do Bộ GD&ĐT xác định và được hướng dẫn trong sách giáo viên môn GDCD lớp 11.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng trên nền tảng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu lý thuyết chuyên ngành bao gồm: phương pháp nghiên cứu tài liệu; phương pháp phân tích, tổng hợp và hệ thống hóa lý thuyết.

Về khung lý thuyết, công trình vận dụng lý thuyết phát triển nhận thức và tâm lý học hoạt động, trọng tâm là lý thuyết về "Vùng phát triển gần nhất" (The Zone of Proximal Development - ZPD) do nhà tâm lý học L. Vygotsky khởi xướng. Tác giả phân tích sự đối chiếu giữa ba nhóm quan điểm trong lịch sử tâm lý học về mối quan hệ giữa dạy học và sự phát triển:

  • Nhóm thứ nhất: Coi quá trình phát triển của trẻ độc lập với dạy học; dạy học đi sau sự phát triển.
  • Nhóm thứ hai: Đồng nhất dạy học với phát triển ("dạy học chính là phát triển").
  • Nhóm thứ ba (L. Vygotsky): Khẳng định dạy học phải đi trước sự phát triển và kéo theo sự phát triển.

Từ quan điểm của Vygotsky, nhận thức của người học được phân chia thành ba vùng: vùng học sinh có thể tự làm được (trình độ phát triển hiện thời); vùng phát triển gần nhất (học sinh giải quyết được nhiệm vụ khi có sự trợ giúp, hướng dẫn hoặc hợp tác); và vùng học sinh không thể thực hiện được. Dựa trên khung lý thuyết này, tác giả định nghĩa: ĐVKT khó trong môn GDCD lớp 11 là những đơn vị kiến thức nằm trong vùng phát triển gần nhất, nơi học sinh gặp khó khăn trong quá trình lĩnh hội và bắt buộc phải có sự định hướng, hỗ trợ sư phạm của giáo viên mới có thể chuyển hóa thành vùng nhận thức tự làm được ở trình độ cao hơn.

Về cơ sở văn bản pháp lý và chương trình giáo dục, tác giả sử dụng các nguồn tư liệu chính thức gồm:

  • Chương trình môn GDCD cấp THPT và Hướng dẫn điều chỉnh nội dung dạy học Giáo dục Phổ thông (chương trình giảm tải) của Bộ GD&ĐT.
  • Sách giáo khoa và Sách giáo viên môn GDCD lớp 11 (Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam).
  • Dự thảo Chương trình Giáo dục phổ thông mới (công bố ngày 19/01/2018 của Bộ GD&ĐT) để liên hệ sự chuyển đổi vị trí môn GDCD thành môn Giáo dục kinh tế và pháp luật ở cấp THPT.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đơn vị kiến thức khó trong dạy học Giáo dục công dân lớp 11

Chương 1 làm rõ các tiền đề lý luận sư phạm và đặc điểm thực tiễn của chương trình GDCD lớp 11 thông qua hai nội dung lớn:

1. Cơ sở lý luận của đơn vị kiến thức khó trong dạy học:

  • Tác giả phân tích đặc thù của lao động sư phạm qua 5 thành tố: mục đích (tái sản xuất sức lao động xã hội, hình thành nhân cách), đối tượng (con người có tâm sinh lý phức tạp, phát triển phi tuyến tính), công cụ (tri thức, kỹ năng sư phạm, nhân cách người thầy, phương tiện kỹ thuật), sản phẩm (nhân cách người học đáp ứng yêu cầu xã hội), và thời gian lao động (lao động theo quy chế giảng dạy trên lớp và ngoài quy chế như soạn bài, nghiên cứu, chấm bài).
  • Phân tích cơ chế vận hành của "vùng phát triển gần nhất" trong việc thiết kế các nhiệm vụ học tập vượt lên trên trình độ hiện tại của học sinh nhưng không vượt quá xa, nhằm tạo động lực tư duy thông qua hệ thống câu hỏi nêu vấn đề và câu hỏi gợi ý.

2. Cơ sở thực tiễn của môn GDCD lớp 11:

  • Vị trí môn học: Giữ vai trò then chốt trong giáo dục đạo đức, thế giới quan khoa học và định hướng nghề nghiệp qua hai mảng kiến thức kinh tế và chính trị - xã hội.
  • Đặc điểm tri thức môn học: Gồm 4 đặc trưng cơ bản: (1) Tính tích hợp, tổng hợp liên môn (kinh tế chính trị, chủ nghĩa xã hội khoa học, đường lối chính sách, lịch sử, địa lý, dân số); (2) Tính khái quát, trừu tượng cao (chứa đựng các phạm trù quy luật kinh tế vĩ mô); (3) Tính thời sự (gắn chặt với các biến động kinh tế - xã hội đang diễn ra); (4) Tính định hướng chính trị và nhân văn sâu sắc.
  • Phân phối chương trình: Toàn bộ khóa trình gồm 35 tiết thực hiện trong 37 tuần (Học kỳ I: 18 tiết; Học kỳ II: 17 tiết). Tác giả tổng hợp chi tiết các nội dung giảm tải theo hướng dẫn của Bộ GD&ĐT (Bảng 1.1), điển hình như việc không dạy "Bốn hình thái giá trị", "Quy luật lưu thông tiền tệ" (Bài 2), "Các loại cạnh tranh" (Bài 4), "Mục 2: Vai trò quản lý kinh tế của Nhà nước" (Bài 7).
  • Danh mục ĐVKT khó: Căn cứ vào SGV, tác giả lập bảng tổng hợp 14 ĐVKT khó tiêu biểu xuyên suốt chương trình GDCD 11:
STT Tên bài học Tên đơn vị kiến thức khó
1 Bài 1: Công dân với sự phát triển kinh tế Các yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất
2 Bài 2: Hàng hóa - Tiền tệ - Thị trường Hai thuộc tính của hàng hóa
3 Bài 3: Quy luật giá trị trong sản xuất và lưu thông hàng hóa Nội dung của quy luật giá trị
4 Bài 5: Cung - cầu trong sản xuất và lưu thông hàng hóa Nội dung của quan hệ cung – cầu
5 Bài 8: Chủ nghĩa xã hội Tính tất yếu khách quan đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
6 Bài 10: Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa Bản chất của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa
7 Bài 11: Chính sách dân số và giải quyết việc làm Phương hướng cơ bản thực hiện chính sách dân số
8 Bài 11: Chính sách dân số và giải quyết việc làm Phương hướng cơ bản thực hiện chính sách giải quyết việc làm
9 Bài 12: Chính sách tài nguyên và bảo vệ môi trường Phương hướng cơ bản thực hiện chính sách tài nguyên và bảo vệ môi trường
10 Bài 13: Chính sách giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, văn hóa Phương hướng cơ bản để phát triển giáo dục và đào tạo
11 Bài 13: Chính sách giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, văn hóa Phương hướng cơ bản để phát triển khoa học và công nghệ
12 Bài 13: Chính sách giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, văn hóa Phương hướng cơ bản để xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
13 Bài 14: Chính sách quốc phòng và an ninh Phương hướng cơ bản nhằm tăng cường quốc phòng và an ninh
14 Bài 15: Chính sách đối ngoại Phương hướng cơ bản thực hiện chính sách đối ngoại

Chương 2: Phân tích nội dung những đơn vị kiến thức khó trong chương trình Giáo dục công dân lớp 11 ở THPT

Chương 2 đi sâu vào việc mổ xẻ nội hàm khoa học và xây dựng kịch bản sư phạm cho các ĐVKT khó, tập trung chi tiết vào Phần I (Công dân với kinh tế) và khái quát Phần II (Công dân với các vấn đề chính trị - xã hội).

1. Phân tích nội dung và yêu cầu giảng dạy 4 ĐVKT khó thuộc Phần I:

  • Bài 1: Các yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất: Giáo viên phải làm rõ sự kết hợp hữu cơ giữa sức lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động. Phải phân biệt rõ "sức lao động" (khả năng tiềm tàng) với "lao động" (sự tiêu dùng sức lao động trong hiện thực gắn với tư liệu sản xuất). Phân biệt tính tương đối giữa đối tượng lao động và tư liệu lao động tùy thuộc vào chức năng và mục đích sử dụng (ví dụ: con bò kéo cày là tư liệu lao động, con bò trong lò mổ là đối tượng lao động; cây gỗ của thợ mộc là đối tượng lao động nhưng là tư liệu lao động của thợ chống lò). Khẳng định sức lao động giữ vai trò chủ thể sáng tạo quyết định quá trình sản xuất.
  • Bài 2: Hai thuộc tính của hàng hóa: Làm rõ tính hai mặt thống nhất và đối lập giữa giá trị sử dụng (công dụng thỏa mãn nhu cầu, do thuộc tính tự nhiên quy định) và giá trị (lao động xã hội của người sản xuất kết tinh trong hàng hóa, biểu hiện qua giá trị trao đổi). Người sản xuất tạo ra giá trị sử dụng nhưng hướng tới giá trị; người mua cần giá trị sử dụng nhưng phải thực hiện giá trị trước.
  • Bài 3: Nội dung của quy luật giá trị: Do phần "thời gian lao động xã hội cần thiết" ở Bài 2 đã giảm tải, giáo viên bắt buộc phải giải thích khái niệm này trước khi truyền đạt quy luật. Quy luật yêu cầu: Trong sản xuất, thời gian lao động cá biệt phải phù hợp với thời gian lao động xã hội cần thiết. Trong lưu thông, trao đổi phải theo nguyên tắc ngang giá; giá cả xoay quanh trục giá trị; trên quy mô toàn xã hội, tổng giá cả sau khi bán phải cân bằng tổng giá trị hàng hóa tạo ra.
  • Bài 5: Nội dung của quan hệ cung - cầu: Làm rõ bản chất quan hệ tương tác ba chiều: cung - cầu tác động lẫn nhau (cầu tăng thì cung tăng và ngược lại); cung - cầu tác động đến giá cả (cung > cầu thì giá cả < giá trị; cung < cầu thì giá cả > giá trị; cung = cầu thì giá cả = giá trị); và giá cả tác động trở lại cung - cầu.

2. Thiết kế mẫu các hoạt động giảng dạy tích cực trong Phần I: Tác giả xây dựng chi tiết tiến trình sư phạm, tích hợp phương pháp đàm thoại gợi mở, trực quan, thảo luận nhóm và xử lý tình huống:

  • Thiết kế Bài 1: Sử dụng bảng dữ liệu đối chiếu 2 nhóm đối tượng tự nhiên (Nhóm 1: tôm dưới hồ, quặng sắt, cá dưới sông, đá trên núi – đối tượng có sẵn; Nhóm 2: sợi dệt vải, gạch nung, bột làm giấy, phôi thép – đối tượng đã qua cải biến) để học sinh tự rút ra khái niệm; đưa tình huống con bò để phân tích tính tương đối giữa tư liệu và đối tượng lao động.
  • Thiết kế Bài 2: Sử dụng phương pháp trực quan so sánh hình ảnh "Tivi thông thường" và "Smart tivi" để học sinh tranh luận về nguyên nhân chênh lệch giá cả dựa trên hao phí lao động kết tinh.
  • Thiết kế Bài 3: Sử dụng tình huống đối chiếu hai mô hình "Nhà may gia đình" (10 giờ lao động cá biệt) và "Nhà may công nghiệp" (8 giờ lao động cá biệt); dựng biểu đồ thời gian lao động cá biệt (TGLĐCB) so với thời gian lao động xã hội cần thiết (TGLĐXHCT) để học sinh nhận thức ba trạng thái: TGLĐCB = TGLĐXHCT (lợi nhuận trung bình), TGLĐCB < TGLĐXHCT (lợi nhuận cao), và TGLĐCB > TGLĐXHCT (thua lỗ); minh họa biến động giá bánh trung thu trước, trong và sau rằm để làm rõ sự dao động của giá cả quanh giá trị.
  • Thiết kế Bài 5: Sử dụng tình huống thực tiễn "Xưởng sản xuất chiếu cói của ông Bình" bị sụt giảm doanh số khi thị trường xuất hiện chiếu nhựa và chiếu làm mát, buộc phải dừng sản xuất và bán thanh lý hạ giá, qua đó dẫn dắt học sinh phân tích sự tương tác giữa cung, cầu và giá cả thị trường.

3. ĐVKT khó thuộc Phần II và các khuyến nghị sư phạm: Phần II bao gồm các ĐVKT về bản chất nền dân chủ XHCN, tính tất yếu đi lên CNXH và hệ thống 8 nhóm phương hướng thực hiện các chính sách vĩ mô của Nhà nước (dân số, giải quyết việc làm, tài nguyên môi trường, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, văn hóa, quốc phòng - an ninh, đối ngoại). Tác giả khuyến nghị giáo viên cần tăng cường cập nhật tư liệu thời sự, gắn chính sách vĩ mô với tình hình thực tế tại địa phương, sử dụng các hình ảnh pano tuyên truyền, dự án xã hội (như chương trình phòng tránh thai, hội thảo đầu tư dân số) nhằm tránh giáo điều, biến các tri thức chính trị khô khan thành nhận thức hành động cụ thể cho học sinh.

Kết quả và đóng góp

  1. Hệ thống hóa danh mục ĐVKT khó chuẩn mực: Khóa luận đã rà soát toàn bộ chương trình và Hướng dẫn điều chỉnh nội dung dạy học của Bộ GD&ĐT, xác lập danh mục gồm 14 ĐVKT khó chuẩn hóa trong chương trình GDCD lớp 11, chỉ rõ vị trí bài học và nội dung cốt lõi của từng đơn vị.
  2. Làm rõ cơ sở lý luận dạy học tiếp cận vùng phát triển gần nhất: Tác giả đã vận dụng lý thuyết ZPD của L. Vygotsky để giải thích cơ chế nhận thức của học sinh lớp 11 đối với các khái niệm kinh tế - chính trị trừu tượng, chỉ ra rằng các ĐVKT khó chính là vùng phát triển gần nhất cần sự định hướng của giáo viên bằng hệ thống câu hỏi gợi mở và tình huống thực tiễn.
  3. Tháo gỡ xung đột nội dung do giảm tải chương trình: Khóa luận chỉ ra điểm mâu thuẫn thực tiễn khi chương trình giảm tải cắt bỏ phần lý thuyết "Thời gian lao động xã hội cần thiết" ở Bài 2 nhưng lại giữ nguyên quy luật giá trị ở Bài 3, từ đó cung cấp giải pháp bù đắp kiến thức nền tảng một cách sư phạm giúp học sinh tiếp thu mà không vi phạm quy định phân phối chương trình.
  4. Xây dựng bộ kịch bản dạy học thực hành mẫu: Tác giả trực tiếp thiết kế các tiến trình dạy học cụ thể cho các bài học kinh tế chính trị phức tạp nhất (Bài 1, Bài 2, Bài 3, Bài 5), kết hợp các bảng so sánh, biểu đồ phân tích hao phí lao động và hệ thống tình huống sản xuất - kinh doanh điển hình (nhà may công nghiệp, xưởng chiếu cói).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Công trình nghiên cứu trên cơ sở khung chương trình GDCD THPT hiện hành năm 2006 (thời điểm năm 2018) và phân tích tài liệu lý thuyết, chưa triển khai thực nghiệm sư phạm đối chứng trên diện rộng tại các trường THPT để đo lường định lượng mức độ chuyển hóa nhận thức của học sinh. Việc phân định ĐVKT khó chỉ căn cứ theo hướng dẫn chung của SGV Bộ GD&ĐT, trong khi độ khó thực tế còn mang tính tương đối, phụ thuộc vào đặc thù nhận thức của học sinh từng vùng miền và năng lực giảng dạy của từng giáo viên.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng thực nghiệm sư phạm kiểm chứng tính khả thi của các kế hoạch bài dạy; phát triển nghiên cứu thích ứng với Chương trình Giáo dục phổ thông mới khi môn GDCD chuyển đổi thành môn Giáo dục kinh tế và pháp luật; đi sâu xây dựng các chủ đề tích hợp liên môn và đa dạng hóa phương thức kiểm tra, đánh giá năng lực người học đối với các ĐVKT khó.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên chuyên ngành Sư phạm Giáo dục Chính trị, Sư phạm Giáo dục Công dân, Giáo dục Kinh tế và Pháp luật tại các trường đại học sư phạm tham khảo phương pháp phân tích chương trình và thiết kế giáo án.
  • Giáo viên môn GDCD tại các trường THPT dùng làm tài liệu chuyên môn để khắc phục những điểm nghẽn lý thuyết khi giảng dạy các phạm trù kinh tế chính trị trừu tượng (như quy luật giá trị, quan hệ cung - cầu, thuộc tính hàng hóa).
  • Phần phân tích nội hàm khoa học của 4 ĐVKT khó trong phần kinh tế và bộ kịch bản dạy học có tình huống, biểu đồ tại Chương 2 là nội dung có giá trị ứng dụng thực tế cao nhất cho công tác soạn bài và lên lớp.

Câu hỏi thường gặp

1. Cơ sở lý luận chính nào được tác giả sử dụng để xác định và giải quyết các đơn vị kiến thức khó? Tác giả dựa trên lý thuyết "Vùng phát triển gần nhất" (The Zone of Proximal Development - ZPD) của nhà tâm lý học L. Vygotsky. Theo đó, ĐVKT khó là những tri thức nằm ngoài vùng học sinh có thể tự làm độc lập nhưng nằm trong vùng có thể hoàn thành nếu có sự hướng dẫn, hợp tác sư phạm của giáo viên, qua đó thúc đẩy tư duy phát triển lên nấc thang cao hơn.

2. Chương trình GDCD lớp 11 có bao nhiêu đơn vị kiến thức khó được xác định và phân bố như thế nào? Khóa luận xác định tổng cộng 14 ĐVKT khó theo SGV của Bộ GD&ĐT. Trong đó, Phần I (Công dân với kinh tế) có 4 ĐVKT khó thuộc Bài 1, Bài 2, Bài 3 và Bài 5; Phần II (Công dân với các vấn đề chính trị - xã hội) có 10 ĐVKT khó thuộc Bài 8, Bài 10, Bài 11 (2 ĐVKT), Bài 12, Bài 13 (3 ĐVKT), Bài 14 và Bài 15.

3. Khóa luận giải quyết khó khăn gì khi dạy "Nội dung quy luật giá trị" (Bài 3) trong bối cảnh chương trình giảm tải? Do Bộ GD&ĐT đã giảm tải (không dạy) nội dung "Thời gian lao động xã hội cần thiết" ở Bài 2, học sinh sẽ không thể hiểu tại sao lượng giá trị hàng hóa do đại lượng này quyết định khi sang Bài 3. Tác giả đã đưa ra yêu cầu sư phạm bắt buộc giáo viên phải định nghĩa lại khái niệm thời gian lao động xã hội cần thiết trước khi phân tích nội dung quy luật giá trị trong sản xuất và lưu thông.

4. Tác giả đã đưa ra tình huống thực tiễn nào để minh họa cho mối quan hệ cung - cầu ở Bài 5? Tác giả thiết kế tình huống "Xưởng sản xuất chiếu cói của ông Bình": Ban đầu sản phẩm bán chạy nên xưởng ồ ạt sản xuất; sau đó thị trường xuất hiện chiếu nhựa và chiếu làm mát (cầu giảm, cung vượt cầu), buộc ông Bình phải dừng sản xuất và hạ giá bán thanh lý, qua đó giúp học sinh quan sát rõ cơ chế cung - cầu tác động đến giá cả và quy mô sản xuất.

5. Sự phân biệt giữa đối tượng lao động và tư liệu lao động được tác giả lưu ý điểm mấu chốt nào? Tác giả lưu ý ranh giới giữa tư liệu lao động và đối tượng lao động chỉ mang tính tương đối, phụ thuộc vào mục đích sử dụng và chức năng trong quá trình sản xuất. Ví dụ minh họa trong văn bản: con bò khi kéo cày là tư liệu lao động, nhưng khi bị đưa vào lò mổ lấy thịt thì trở thành đối tượng lao động; tương tự, cây gỗ là đối tượng lao động của người thợ mộc nhưng là tư liệu lao động của người thợ mỏ dùng để chống lò.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Vũ Thị Thu Hà đã giải quyết một vấn đề thực tiễn quan trọng trong dạy học môn GDCD lớp 11 bằng việc hệ thống hóa 14 đơn vị kiến thức khó trên nền tảng lý thuyết vùng phát triển gần nhất của L. Vygotsky. Công trình làm rõ nội hàm lý luận của các phạm trù kinh tế chính trị trừu tượng và các chính sách vĩ mô, đồng thời tháo gỡ khó khăn phát sinh từ việc điều chỉnh giảm tải chương trình. Hệ thống giáo án mẫu với các tình huống và sơ đồ đối chiếu trực quan tại Chương 2 mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho công tác giảng dạy của giáo viên GDCD cấp THPT.