Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐƠN VỊ KIẾN THỨC KHÓ TRONG DẠY HỌC GIÁO DỤC CÔNG DÂN LỚP 11 1.1 Cơ sở lý luận của đơn vị kiến thức khó trong dạy học 1. Đặc điểm của nghề dạy học Trong các ngành nghề của xã hội, dạy học là một trong những nghề cao quý nhất, xuất hiện tương đối sớm do nhu cầu con người cần truyền lại cho thế hệ sau những kinh nghiệm trong sản xuất, đấu tranh. Ban đầu, hoạt động dạy học diễn ra ở mức thấp, là sự truyền đạt một cách trực tiếp thành quả lao động của tập thể, của cá nhân này cho cá nhân khác. Tuy nhiên, khi kinh nghiệm tích lũy đã được nhiều thì hoạt động dạy học có bước phát triển cao hơn đòi hỏi sự xuất hiện của người trung gian là thầy cô giáo.
Như vậy, dạy học gắn chặt với lao động sản xuất của xã hội, góp phần hình thành phẩm chất, năng lực cần thiết của người lao động. Dạy học là loại hình lao động đặc biệt, được thể hiện qua: mục đích, đối tượng, công cụ, sản phẩm, thời gian và không gian. Thứ nhất, mục đích của dạy học là nhằm giáo dục người học trở thành những người có đầy đủ phẩm chất và năng lực mà xã hội yêu cầu. Nói cách khác, quá trình dạy học góp phần “sáng tạo ra con người”, góp phần tái sản xuất sức lao động xã hội, đào tạo và bồi dưỡng liên tục thế hệ trẻ cho đời sau.
Đây là quá trình tác động qua lại giữa người dạy và người học. Trong đó, người dạy là chủ thể có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, được xã hội giao cho nhiệm vụ giáo dục, đào tạo. Còn người học là khách thể, có nhiệm vụ học tập, tiếp thu những giá trị văn hóa của xã hội loài người, rèn luyện hệ thống các kĩ năng, kĩ xảo cần thiết và vận dụng chúng trong hoạt động nghề nghiệp ở tương lai. Mục đích giáo dục thường quy định cách thức tổ chức, phương pháp giáo dục và các mối quan hệ trong giáo dục.
Vì vậy, nếu mục đích giáo dục là đào tạo HS trở thành những người sẵn sàng tuân thủ, phục tùng vô điều kiện thì công tác giáo dục sẽ là áp đặt, cưỡng bức, roi vọt, v.v… còn nếu mục đích giáo dục là đào tạo ra những người năng động sáng tạo thì nội dung giáo dục phải gắn liền với cuộc sống và phương pháp giáo dục là tôn trọng nhân cách của người được giáo dục và phải hình thành ở họ tính tích cực, chủ động, tự giác và sáng tạo 6 Luan van Thứ hai, đối tượng của hoạt động dạy học là con người rất đa dạng, phức tạp, nhiều hình, nhiều vẻ. Bao gồm các đặc điểm sau: 1) Người học chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố như GV, nhà trường, gia đình, bạn bè, v.v…, tất cả những nhân tố này tác động đến việc hình thành và phát triển nhân cách của người học một cách tích cực hoặc tiêu cực, tự giác hoặc tự phát theo nhiều mức độ và cách thức khác nhau (chẳng hạn: GV thường xuyên chỉ trích vào khuyết điểm của HS sẽ làm cho HS tự ti, hạn chế bộc lộ những năng khiếu trong quá trình học tập, khác với những HS mà GV khen thưởng đúng, trách phạt hợp lý). Các mối quan hệ trong cuộc sống của người học cũng rất phong phú, chúng cũng thường xuyên tác động và ảnh hưởng đến người học. 2) Đối tượng của hoạt động dạy học ko phát triển theo tỉ lệ thuận với những tác động sư phạm mà theo quy luật của sự hình thành nhân cách con người, tâm lí và nhận thức.
Vì vậy, có khi cùng một tác động sư phạm đến người học nhưng lại có kết quả khác nhau có thể tích cực hoặc tiêu cực, hiệu quả cũng không tỷ lệ thuận với số lần tác động. Kết quả của hoạt động dạy học không chỉ phụ thuộc vào trình độ được đào tạo của GV mà còn phụ thuộc rất nhiều vào mối quan hệ giữa GV và HS, phụ thuộc vào thái độ, động cơ, hứng thú và đặc điểm nhân cách của người học. Do đó, GV phải luôn trang bị cho mình phương pháp, kỹ năng tác động đến đối tượng, không thể rập khuôn máy móc như các dạng lao động khác. Bản thân đối tượng lao động quyết định tính đặc thù của lao động sư phạm của nghề dạy học.
3) Trong quá trình dạy học, GV là chủ thể, HS là khách thể và là đối tượng của lao động sư phạm; mặt khác, HS còn là một thực thể xã hội có ý thức. Vì vậy quá trình dạy học chỉ đem lại hiệu quả khi phát huy đc tính tích cực chủ động, sáng tạo của người học. Thứ ba, công cụ của hoạt động dạy học cũng đặc biệt so với các dạng lao động khác. Để tác động tới người học, GV cần có những công cụ đặc biệt đó là: hệ thống tri thức, kĩ năng, kĩ xảo cần thiết để giáo dục và tổ chức các dạng hoạt động như: học tập, lao động, vui chơi, giải trí.
Nhưng nếu chỉ có hệ thống tri thức kĩ năng, kĩ xảo thì chưa đủ đảm bảo hiệu quả của hoạt động dạy học. GV cần phải giảng dạy và giáo dục người học với tất cả tình cảm và tâm hồn mình. Mặt khác, nhân cách của các thầy, cô giáo cũng có ý nghĩa giáo dục to lớn và ảnh hưởng sâu sắc đến phát triển nhân cách của người học. Ngoài những công cụ này còn phải kể đến những phương tiện như đồ dùng dạy học, thiết bị kĩ thuật.
7 Luan van Thứ tư, sản phẩm của hoạt động dạy học cũng là con người. Song, qua quá trình giáo dục và tự giáo dục lâu dài, dưới sự hướng dẫn tổ chức và điều khiển của người dạy, người học có những chuyển biến sâu sắc về chất lượng. Họ đã được chuẩn bị một cách đầy đủ và toàn diện để đi vào cuộc sống đa dạng phong phú, thích ứng và đương đầu với những sự thay đổi diễn ra liên tục trong cuộc sống. Thứ năm, thời gian của lao động sư phạm nói chung chia thành 2 hình thức: làm việc theo quy chế và làm việc ngoài quy chế.
Lao động theo quy chế gắn liền với thời gian làm việc trên trường: dạy học theo chương trình, công tác hành chính của nhà trường. Lao động ngoài quy chế gắn liền với thời gian làm việc ngoài nhà trường, bao gồm: soạn bài, chấm bài, thăm hỏi gia đình HS, đọc sách, nghiên cứu tài liệu chuẩn bị cho việc dạy học và giáo dục HS được tốt hơn. Mỗi hình thức của thời gian lao động sư phạm đều có tầm quan trọng của riêng nó, song chúng có liên quan mật thiết và thống nhất với nhau nhằm thực hiện mục đích của lao động sư phạm. Với những đặc điểm nêu trên, để dạy học đạt kết quả cao nhất, về phía người dạy cần chú ý đến: thứ nhất, hiểu tâm sinh lý người học; nắm vững trình độ, năng lực của HS về kiến thức, kĩ năng, đặc điểm tư duy, vốn kiến thức thực tế tích lũy được qua cuộc sống và thói quen trong học tập của người học.
Chỉ trên cơ sở đó, GV mới lựa chọn được phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá hiệu quả; đồng thời GV chủ động xây dựng các hoạt động dạy học sáng tạo yêu cầu HS phân tích, đánh giá, nhận xét sau mỗi hoạt động để ghi nhận và khích lệ, giúp HS càng phấn đấu nỗ lực cao trong học tập. Thứ hai, người dạy nắm vững nội dung, cấu trúc chương trình giảng dạy. Việc nắm vững vị trí, mục tiêu, đặc điểm nội dung của từng bài, từng ĐVKT trong chương trình giúp người dạy làm chủ kiến thức môn học; thực hiện nội dung dạy học theo chuẩn kiến thức, kĩ năng và thái độ; kiểm tra đánh giá kết quả học tập và rèn luyện của người học bảo đảm tính chính xác, công bằng và khách quan. Ngoài ra, khi nắm vững nội dung chương trình, người dạy dễ dàng vận dụng hợp lí các kiến thức liên môn phù hợp với mục tiêu bài học gây hứng thú học tập cho người học.
Đây là một những yêu cầu cơ bản của quá trình dạy học; là điều kiện quan trọng phát huy hiệu quả, tính tích cực của người học. Thứ ba, người dạy phải thường xuyên liên hệ nội dung giảng dạy với thực tiễn. Việc tăng cường liên hệ thực tiễn trong dạy học luôn là những yêu cầu có tính nguyên tắc trong dạy học, đặc biệt là đối với những nội dung có tính khái quát, trừu tượng hóa cao. Thực hiện yêu 8 Luan van cầu này, GV có thể sử dụng ví dụ, hình ảnh, thông tin, sự kiện.
trong thực tiễn để minh họa cho nội dung truyền đạt. Thực hiện tốt được những yêu cầu nói trên, người dạy sẽ góp phần nâng cao vị thế của môn học cũng như chất lượng dạy và học của bộ môn ở nhà trường THPT. Vùng nhận thức trong dạy học Dạy học là một quá trình gồm toàn bộ các thao tác có tổ chức và định hướng của GV giúp HS từng bước chiếm lĩnh tri thức, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo và các giá trị mà nhân loại đã đạt được, trên cơ sở đó có khả năng giải quyết được các bài toán thực tế. Mục đích của dạy học là đem đến sự phát triển toàn diện cho HS, điều đó nói lên rằng giữa dạy học và phát triển có mối quan hệ với nhau thống nhất biện chứng: dạy học phải dẫn đến sự phát triển trí tuệ cho người học và sự phát triển trí tuệ vừa là kết quả, vừa là tiền đề cho việc dạy học có hiệu quả.
Trong lịch sử khoa học tâm lí học hiện đại, có ba nhóm lí thuyết bàn về mối quan hệ này, cụ thể là: Nhóm lí thuyết thứ nhất bàn về tính chất độc lập của các quá trình phát triển của trẻ với các quá trình dạy học, cho rằng “dạy học hoàn toàn là một quá trình bên ngoài bằng một cách nào đó buộc phải ăn khớp với tiến trình phát triển của trẻ, không có ảnh hưởng gì đến quá trình phát triển và cũng chẳng sử dụng các thành tựu của quá trình phát triển, không thúc đẩy và cũng không thay đổi phương hướng phát triển”[29; tr.161] Các nhà tâm lí học thuộc nhóm này chủ trương quá trình phát triển trí tuệ của người học độc lập với các quá trình dạy học, các giai đoạn phát triển luôn luôn đi trước các giai đoạn dạy học, dạy học bám đuôi sự phát triển, phát triển luôn luôn đi trước giảng dạy.