CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ VÀ BÀI TOÁN NHẬN THỨC TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu 1. Nghiên cứu về năng lực và năng lực giải quyết vấn đề trong dạy học ở trên thế giới và Việt Nam 1. Nghiên cứu ở trên thế giới Giáo dục dựa trên NL (Competency Based education - CBE) được quan tâm từ những năm 1970 ở Mỹ.
Với hình thái này, giáo dục hướng tới việc đo lường chính xác kiến thức, kĩ năng và thái độ của người học sau khi kết thúc mỗi chương trình học (Guskey, 2005) [107]. Nếu giáo dục truyền thống được coi là giáo dục theo nội dung, kiến thức (content-based education) tập trung vào việc tích lũy kiến thức, nhấn mạnh tới các NL nhận thức và việc vận dụng kiến thức tập trung vào việc thực hành kĩ năng chứ không hướng tới việc chứng minh khả năng đạt được, và đánh giá của giáo dục truyền thống cũng tập trung đo lường kiến thức thông qua các bài thi viết và nói (Chang, 2006) [90] thì giáo dục theo NL tập trung vào phát triển các NL cần thiết để HS có thể thành công trong cuộc sống cũng như trong công việc (Chyung, Stepich & Cox, 2006) [93]. Các NL thường được tập trung phát triển bao gồm NL xử lí thông tin, GQVĐ, phản biện, NL học tập suốt đời (Jackson, et al, 2007) [110]. Do đó, đánh giá cũng hướng tới việc đánh giá kiến thức trong việc vận dụng một cách hệ thống và các NL đạt được cần phải đánh giá thông qua nhiều công cụ và hình thức trong đó có cả quan sát và thực hành trong các tình huống mô phỏng (Kaslow, 2004) [112].
Những quan tâm đến tiếp cận dựa trên NL ngày càng được nhiều nước trên thế giới quan tâm. Hiện nay, đã có rất nhiều định nghĩa về NL theo các tiếp cận và quan điểm khác nhau được các tổ chức và cá nhân đưa ra như: Howard Gardne [105].Weinert, [125]; Chương trình Phát triển Liên Hợp quốc UNDP [124]… Tuy cách diễn đạt theo các tiếp cận có khác nhau nhưng các tác giả đều xác định NL là khả năng của mỗi cá nhân trong việc huy động tổng hợp kiến thức, kĩ năng, thái độ để thực hiện thành công hiệu quả một nhiệm vụ nào đó trong một bối cảnh cụ thể. luan an 7 Đề cập về các yếu tố ảnh hướng đến sự phát triển NL theo Cotton (2000), trong nghiên cứu “The schooling practices that matter most” [95], đã xác định các yếu tố để phát triển NL của HS: Tình huống, bài tập đa dạng về thể loại; linh hoạt trong ghép nhóm; theo dõi sự tiến bộ của HS; có sự tham gia của phụ huynh và cộng đồng dân cư; môi trường lớp học an toàn, không khí sôi nổi. Trong đó, tác giả nhấn mạnh vai trò của gia đình và cộng đồng trong học tập ảnh hửởng rất lớn đến sự hình thành và phát triển NL của HS.
Corbett Wilson (2000) [94] trong nghiên cứu của mình tác giả cho rằng: để HS tích cực, chủ động và phát triển NL, giáo viên (GV) cần phải thường xuyên thúc đẩy HS nỗ lực và giúp các em phát huy hết khả năng; quản lí lớp học bằng cách duy trì sự kiểm soát các hành vi của HS cũng như các hoạt động trong lớp; xác định những HS cần được giúp đỡ; vận dụng đa dạng các PPDH; tôn trọng các ý kiến của HS trong các hoạt động nhận thức. Trong các NL cần thiết của con người thì NL GQVĐ là một trong những NL cần thiết và quan trọng của thế kỉ XXI; Nói đến NL GQVĐ là nói đến khả năng GQVĐ của con người. Chính vì vậy trong các công trình nghiên cứu của Ian Robertson [108] đã nhấn mạnh đến 3 vấn đề quan trọng liên quan đến cách GQVĐ: Làm thế nào chúng ta tạo ra tình huống có vấn đề và chiến lược GQVĐ áp dụng khi chúng ta không biết phải làm gì; Vận dụng trong các bối cảnh khác nhau như thế nào, điều đó liên quan đến vai trò của sự logic trong suy nghĩ của từng con người. Đề xuất về NL GQVĐ và thang phân loại, tác giả Ester Care, Patrick Griffin and Mark Wilson trong [102], [103] đã chia NL GQVĐ thành 2 thành tố là NL xã hội và NL nhận thức và đề xuất thang phân loại NL GQVĐ gồm 6 mức độ từ thấp đến cao để đo lường các vấn đề từ đơn giản đến phức tạp.
Về vấn đề này còn có công trình nghiên cứu của các tác giả Patrick Griffin [119] và Doug Archbald [100]. Chương trình giáo dục của một số nước phát triển như Canada, Mỹ, Pháp … đặc biệt CT giáo dục của Úc [129] nhấn mạnh việc phát triển NL GQVĐ của HS như là một NL cốt lõi cần thiết của HS thế kỉ 21. Nghiên cứu ở Việt Nam Dưới góc độ tâm lí học, NL được quan niệm là một tổ hợp đặc điểm tâm lí cá nhân, hay là tổng hợp những thuộc tính độc đáo của con người. Theo đó tác giả Phạm Minh Hạc [25].
Trần Trọng Thủy, Nguyễn Quang Uẩn [60] cho rằng, NL của mỗi luan an 8 người một phần dựa trên cơ sở tư chất. Nhưng điều chủ yếu là NL hình thành, phát triển và thể hiện trong hoạt động tích cực của con người dưới sự tác động của rèn luyện, dạy học và giáo dục. Việc hình thành và phát triển các phẩm chất nhân cách là phương tiện có hiệu quả nhất để phát triển NL.Từ các định nghĩa khác nhau về NL do các cách tiếp cận và quan điểm khác nhau nên cách diễn đạt khác nhau nhưng các tác giả đều xác định NL là khả năng của mỗi cá nhân trong việc huy động tổng hợp kiến thức, kĩ năng, thái độ giá trị, cảm xúc để thực hiện thành công hiệu quả một nhiệm vụ nào đó trong một bối cảnh cụ thể. Trên cơ sở nghiên cứu về khái niệm NL các nhà khoa học cũng đã đề cập đến sự phân loại NL, cấu trúc của NL và đánh giá NL.
Về vấn đề này có các công trình tiêu biểu [51], [53], [54]. Nghiên cứu về xây dựng mục tiêu giáo dục theo định hướng NL công trình của các chuyên gia nghiên cứu của Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam điển hình nhóm nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Minh Phương (2011) tổng quan về các khung NL cần đạt ở HS trong mục tiêu giáo dục phổ thông. Đề tài nghiên cứu khoa học của Viện KHGD Việt Nam [51] đã nhấn mạnh đến mục tiêu giáo dục là hình thành và phát triển NL cho HS, xác định các NL cốt lõi của HS, khung NL cần đạt cho HS của từng cấp học. Nghiên cứu về NL GQVĐ trong những năm gần đây cũng đã được nhiều nhà khoa học giáo dục quan tâm.
Về cấu trúc của NL GQVĐ và thiết kế bộ công cụ đánh giá NL GQVĐ các nghiên cứu tiêu biểu là tác giả Nguyễn Thị Lan Phương [53], [54] đã đề xuất cấu trúc của NL GQVĐ bao gồm các thành tố (i) Nhận biết và tìm hiểu vấn đề; (ii) Thiết lập không gian vấn đề; (iii) Lập kế hoạch và trình bày giải pháp; (iv) Đánh giá và phản ánh giải pháp. Trong Chương trình GDPT. Chương trình tổng thể của Bộ GDĐT (2018) [14] cũng đã xác định cấu trúc của NL GQVĐ bao gồm các thành tố: (i) Phát hiện và làm rõ vấn đề; (ii) Đề xuất, lựa chọn giải pháp; (iii) Thực hiện và đánh giá giải pháp GQVĐ; (iv) Nhận ra ý tưởng mới; (v) Hình thành và triển khai ý tưởng mới; (vi) Tư duy độc lập. Các nghiên cứu về dạy học phát triển và đo lường đánh giá NL GQVĐ trong các môn học thuộc lĩnh vực KHTN (Toán, Vật lí, Sinh học) có thể kể đến: Trong môn Toán, các tác giả Lê Thống Nhất (1996) [46]; Từ Đức Thảo (2014) [60] ; Phan Anh Tài, (2014) [56]; Nguyễn Lâm Đức (2016) [22]; Hà Xuân Thành (2017) [58]; luan an 9 Môn Sinh học các các tác giả Mai Văn Hưng, Lê Thái Hưng, Đỗ Hoàng Mai (2015).
[28]; Phan Khắc Nghệ (2016) [41]…Các công trình này đã phân tích các thành tố của NL NL GQVĐ của HS trong học tập môn Toán, môn Vật lí, môn Sinh học, đã đề xuất các biện pháp dạy học như sử dụng bài tập tình huống, vận dụng các PPDH tích cực để tổ chức dạy học phát triển NL GQVĐ cho HS và kiểm tra đánh giá NL GQVĐ của HS. Nghiên cứu về NL và NL GQVĐ trong môn Hóa học phải kể đến các công trình sau: Công trình luận án Tiến sĩ của tác giả Lê Văn Năm (2001) [40]; Phạm Hồng Bắc (2013) [2]; Trần Thị Thu Huệ (2011), [27]; Phạm Thị Bích Đào (2015) [20]; Nguyễn Thị Hồng Gấm (2012) [24]; Nguyễn Thị Phương Thúy (2016) [61]; Nguyễn Thị Thanh (2016), [59]; Đỗ Thị Quỳnh Mai (2017), [37]; Phạm Thị Kim Ngân (2018) [42]. Trong các luận án và các công trình trên, các tác giả đã tập trung nghiên cứu sử dụng phối hợp các PPDH tích cực như: Sử dụng dạy học nêu vấn đề - ơrixtic, dạy học GQVĐ, dạy học theo góc, dạy học theo hợp đồng, dạy học theo dự án, dạy học theo PP bàn tay nặn bột, PP trực quan…nhằm phát triển NL GQVĐ, NL tự học, NL hợp tác và NL độc lập, sáng tạo cho HS. Hướng nghiên cứu về sử dụng bài tập hóa học nhằm phát triển NL GQVĐ cho HS có tác giả Nguyễn Đức Dũng, Hoàng Đình Xuân, Hà Thị Thoan (2016) [23]; Lưu Thị Lương Yến [79] nhưng nhìn chung còn ít được nghiên cứu.
Một số công trình bài báo khác nghiên cứu về phát triển NL GQVĐ thông qua dạy học ở trường phổ thông được tập trung vào vấn đề như: đề xuất cấu trúc NL GQVĐ của HS phổ thông [53]; xây dựng công cụ đánh giá NL GQVĐ của HS phổ thông [54]; phát triển NL GQVĐ qua chủ đề dạy học tích hợp [57]; đề xuất biện pháp phát triển NL GQVĐ trong dạy học Hóa học [16], [20], [27], [57], [59], [61]. Nghiên cứu về bài toán nhận thức ở trên thế giới và Việt Nam 1. Nghiên cứu ở trên thế giới Dạy học bằng BTNT được coi là con đường nhận thức mới mẻ, là sự chuyển hoá cách nhận thức khoa học vào việc dạy học trong nhà trường. Bản chất của PPDH bằng BTNT đó là tạo tình huống có chứa vấn đề và cách GQVĐ.
Đó cũng là cách tiếp cận về DH GQVĐ. luan an 10 Ở nhiều nước trên thế giới, các nhà giáo dục đã dùng các thuật ngữ sau: Dạy học nêu vấn đề (Problem posing instructon). Dạy học giải quyết vấn đề (Problem solving instruction). Dạy học đặt và giải quyết vấn đề (Problem posing and solving instruction)…về tên gọi có thể khác nhau nhưng về nội hàm và bản chất của PPDH là giống nhau.