CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Một số vấn đề chung về năng lực, năng lực văn học 1. Một số vấn đề chung về năng lực Vấn đề về năng lực đã được đề cập trong nhiều tài liệu nghiên cứu. Năng lực là một khái niệm có lịch sử lâu dài, nhưng đã trở nên phổ biến và được tập trung nghiên cứu từ những năm 70 của thế kỷ XX.
Có thể định nghĩa NL theo nhiều cách: Nhiều chuyên gia trong lĩnh vực giáo dục đã đưa ra những quan điểm đa dạng về NL. Weinert nhấn mạnh rằng: "Năng lực được biểu hiện như là một hệ thống các khả năng, sự thành thạo hoặc kỹ năng thiết yếu có thể giúp con người đủ điều kiện vươn tới một mục đích cụ thể". Coolahan, năng lực được xem như là "những khả năng cơ bản dựa trên tri thức, kinh nghiệm, các giá trị và thiên hướng của một con người, được phát triển thông qua thực hành giáo dục".10] Văn bản cải cách chương trình giáo dục ở Indonesia cũng dành hẳn một mục để giới thuyết về Tư tưởng cơ bản của khái niệm NL, theo đó khái niệm NL trong CTGDPT được hiểu như sau: a) NL đề cập đến khả năng của HS khi làm một cái gì đó trong những bối cảnh khác nhau; b) NL thể hiện kinh nghiệm học tập, ở đó HS phải là người thành thạo; c) Kết quả học tập theo NL thể hiện ở việc giải thích sự vật thông qua phương pháp học tập của HS; d) Những HS có NL khi làm một cái gì đó cần xác định rõ khả năng trong một tiêu chuẩn rộng, có thể đạt được kết quả thông qua việc thực hiện và có thể đo đếm được. Tiếp thu quan niệm về NL của các nước phát triển, CTGDPT tổng thể của Việt Nam (2017) đã xác định: NLlà thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác như 10 hứng thú, niềm tin và ý chí.
Thực hiện thành công một loạt hành động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể.42] Chương trình cũng xác định hai loại NL chính là năng lực cốt lõi và năng lực đặc biệt. Trong đó NL cốt lõi gồm: năng lực chung và năng lực chuyên môn. Theo Hữu Đạt trong Phong cách học tiếng Việt hiện đại thì trong tiếng Việt cũng như tiếng Anh, từ NL được sử dụng với nhiều nghĩa cụ thể, gắn với các lĩnh vực khác nhau, trong những tình huống và ngữ cảnh riêng biệt. Tuy nhiên, cũng theo các tác giả này, từ NL có nghĩa gốc chung mà Từ điển tiếng Việt đă nêu lên là: a) Khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hành động nào đó; b) Phẩm chất tâm lý và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một hoạt động nào đó với chất lượng cao.
49] Như vậy NL có thể được hiểu là khả năng thực hiện các hành động một cách hiệu quả thông qua sự nỗ lực dựa trên nhiều nguồn lực khác nhau. Những khả năng này được sử dụng một cách linh hoạt và phù hợp, bao gồm cả những kiến thức được học trong trường học và các kinh nghiệm cá nhân của HS; cũng như các kỹ năng, thái độ và sự hứng thú, bên cạnh các nguồn lực bên ngoài như bạn bè, GV, chuyên gia, hoặc các nguồn thông tin khác. Một số vấn đề chung về năng lực văn học * Khái niệm năng lực văn học CTGDPT môn Ngữ văn năm 2018 đã đề xuất một phương pháp hình thành và phát triển những phẩm chất và NL quan trọng cho HS phổ thông, trong đó bao gồm cả NLVH. Tác giả Tôn Quang Cương, Phạm Kim Chung cho rằng: NLVH là khả năng hiểu một VB của người đọc trên cơ sở biết rõ về sự diễn giải hợp lý hệ thống tín hiệu hoặc “mã” của VH [5, tr.
Theo tác giả, NLVH được tạo nên bởi các thành tố sau: 11 a) Những kiến thức về VH: đó là những hiểu biết về lịch sử VH, tác phẩm văn học và lý luận VH.; b) Những kĩ năng VH: chủ yếu là đọc hiểu VB, phân tích và đánh giá các giá trị VH,.; c) Tình cảm, thái độ đối với tiếp nhận VH: lòng say mê văn học; ý thức tìm tòi, khám phá các giá trị sâu sắc, độc đáo của tác phẩm VH trong quá trình tiếp nhận thưởng thức VH Theo Đỗ Hương Trà (chủ biên) vơi “Dạy học tích hợp phát triển năng lực học sinh”, NLVH được hiểu là khả năng tiếp nhận, giải mã cái hay, cái đẹp của văn bản văn học thể hiện chủ yếu ở việc học sinh biết đọc hiểu ngôn từ nghệ thuật thông qua các văn bản văn học; nhận biết, lí giải, nhận xét và đánh giá những đặc sắc về hình thức văn bản văn học, từ đó tiếp nhận đúng và sáng tạo các thông điệp nội dung (nghĩa, ý nghĩa, chủ đề, tư tưởng, cảm hứng). Năng lực văn học còn thể hiện ở khả năng tạo văn bản, biết cách biểu đạt (viết và nói) kết quả cảm nhận, hiểu và lý giải giá trị thẩm mỹ của văn bản văn học; bước đầu có thể tạo ra được các sản phẩm văn học.66] NLVH được Chương trình Ngữ văn mới coi là biểu hiện cụ thể của NL thẩm mỹ, thống nhất với NL thẩm mỹ. Đây chính là NL đặc trưng của môn học. * Một số biểu hiện của năng lực văn học Nguyễn Hữu Hợp trong Thiết kế bài học phát triển năng lực học sinh tiểu học [9, tr.18], NLVH có các biểu hiện cụ thể sau: - Phân biệt được các VB văn học và phi văn học; nhận biết được một số thể loại văn học tiêu biểu, các thành tố tạo nên tác phẩm VH và tác dụng của chúng trong việc thể hiện nội dung.
- Biết đọc hiểu ngôn từ nghệ thuật; nhận biết, lí giải, phân tích đánh giá những đặc sắc về hình thức biểu đạt, trên cơ sở đó tiếp nhận một cách hợp lý và sáng tạo nội dung, những giá trị thẩm mỹ thể hiện trong VB (cái đẹp, cái 12 xấu, cái bi, cái hài, cái cao cả, cái thấp hèn) - Trình bày (viết và nói) được kết quả cảm nhận và lý giải giá trị của tác phẩm VH, tác động của tác phẩm VH đối với người đọc; bước đầu tạo ra được một số sản phẩm có tính VH, - Có khả năng tưởng tượng và liên tưởng, có cảm xúc trước những hình ảnh cao đẹp về thiên nhiên, con người, cuộc sống trong văn học; làm chủ được tình cảm, có hành vi ứng xử phù hợp trước các tình huống trong đời sống. Tuy nhiên, tất cả các biểu hiện của NLVH nêu trên đều phải được hình thành, phát triển thông qua việc rèn luyện các kĩ năng đọc, viết, nói và nghe về VB văn học. *Các yếu tố của năng lực văn học Phạm Thị Thu Hương (2015) đã đưa ra các yếu tố của NLVH bao gồm: 1) Nhận biết loại thể để định hướng hoạt động tiếp nhận; 2) Tri giác ngôn ngữ nghệ thuật; 3) Liên tưởng trong tiếp nhận văn học; 4) Cảm thụ cụ thể kết hợp với năng lực khái quát hóa các chi tiết nghệ thuật trong chỉnh thể tác phẩm; 5) Cảm thụ (cảm xúc) thẩm mĩ; 6) Tự nhận thức; 7) Đánh giá.34] Cụ thể như sau: 13 Bảng 1.1: Những yếu tố của năng lực văn học Tiêu chí Biểu hiện Xác định loại thể từ đó Người đọc hiểu biết thể loại của tác phẩm VH, định hướng cách tiếp định hướng hoạt động tiếp nhận tác phẩm theo nhận đặc trưng của thể loại đó để khám phá nội dung, giá trị, sức mạnh riêng của tác phẩm. Người đọc hiểu cấu tạo tác phẩm sẽ định hướng được nội dung khai thác, phân tích, cảm thụ.
Điều mà nhà văn muốn nói, cần nói là cái quan trọng nhất người đọc cần lĩnh hội. Tri giác ngôn ngữ Đọc, nghe kí hiệu của văn bản ngôn từ. nghệ thuật Nhận biết loại thể để định hướng hoạt động tiếp nhận. Cảm nhận được những thông tin nghệ thuật từ hệ thống tín hiệu ngôn ngữ hình tượng.
Khả năng cảm nhận của người đọc được thể hiện thông qua việc nghe, nhìn và sự tưởng tượng khi đọc. Điều này bao gồm quá trình giải mã thông tin nghệ thuật từ ngôn từ, hình ảnh, và các hình tượng khác trên VB. Liên tưởng trong tiếp Nhờ vào gợi ý của nhà văn qua những chi tiết, nhận văn học hình ảnh, nhân vật, tâm trạng, người đọc có thể kết nối với thực tại cuộc sống. Dựa trên kinh nghiệm sống của bản thân hoặc từ những gặp gỡ trực tiếp hoặc gián tiếp, người đọc cảm nhận được tâm trạng, ý nghĩa mà nhà văn muốn truyền đạt.
Sự kết nối giữa suy tưởng của người đọc với 14 suy tưởng của nhà văn càng linh hoạt và sâu sắc thì hiệu quả tiếp thu sẽ càng cao và đầy ấn tượng. Người đọc không những cần thu nhận tin ở VB mà còn cần hiểu thông tin, suy luận và đánh giá cách dùng ngôn từ của tác giả và có thể truyền thụ hiểu biết đó cho người khác. Bằng cách kết Sự hiểu biết chi tiết về hợp hài hòa giữa việc hiểu và cảm nhận trong quá nghệ thuật kết hợp với trình đánh giá những giá trị đặc biệt, những điều khả năng tổng quát hóa sâu sắc và đẹp đẽ của một tác phẩm nghệ thuật cảm xúc trong việc đánh (như một cuốn truyện, một bài văn, hay một bài giá một tác phẩm.) hoặc của một phần trong VB (như một đoạn văn, đoạn thơ, thậm chí một từ ngữ, hình ảnh có giá trị trong một câu văn, một câu thơ.), người đọc có thể trải nghiệm sâu sắc hơn và hiểu rõ hơn bản chất của tác phẩm. Nhận thức về giá trị thẩm mỹ của các hiện tượng, vật thể, con người và cuộc sống, thông qua sự cảm nhận và rung động trước vẻ đẹp và tính tốt lành, giúp chúng ta dựa theo sự tinh tế đó để hướng nhiệt tình, suy nghĩ và hành động của chúng ta theo đuổi cái đẹp và cái thiện.
Cảm thụ (cảm xúc) Nhận thức được các cảm xúc của bản thân. thẩm mĩ Kiểm soát cảm xúc cá nhân, đối diện và vượt qua thất bại một cách xử lý tốt nhất, và biết cách ứng xử hiệu quả trong mọi tình huống, đồng thời thể hiện cảm xúc và tình cảm phù hợp trong giao tiếp. Nhận biết và hiểu biết về cảm xúc của người khác cũng như biểu hiện thẩm mỹ của cuộc sống 15 - biểu hiện tình cảm và thái độ phù hợp trước cái đẹp và cái xấu trong cuộc sống.