Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong tiến trình đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục theo định hướng của Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 (ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT), mục tiêu giáo dục đã có sự chuyển dịch căn bản từ việc chủ yếu trang bị kiến thức sang hình thành và phát triển toàn diện phẩm chất, năng lực người học. Ở bậc tiểu học, môn Tiếng Việt giữ vị trí nền tảng, đảm nhận nhiệm vụ hình thành và phát triển năng lực ngôn ngữ cùng các năng lực chung cốt lõi.
Đối với học sinh lớp 2, giai đoạn tiếp nhận văn bản nghệ thuật có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc nuôi dưỡng tâm hồn, kích thích trí tưởng tượng và rèn luyện tư duy ngôn ngữ. Tuy nhiên, việc dạy học đọc hiểu văn bản nghệ thuật trong bộ sách giáo khoa (SGK) mới "Kết nối tri thức với cuộc sống" đang đặt ra nhiều thách thức cho giáo viên tiểu học. Giáo viên còn gặp khó khăn trong việc quản lý lớp học, thiết kế bài giảng còn mang tính rập khuôn theo sách giáo viên (SGV), các câu hỏi đọc hiểu thường lặp lại và thiên về tái hiện chi tiết bề mặt mà chưa khơi gợi được năng lực tư duy sáng tạo, khả năng phản hồi và vận dụng của học sinh.
Trước thực tiễn đó, khóa luận tập trung giải quyết vấn đề xây dựng hệ thống câu hỏi dạy học nhằm bồi dưỡng và phát triển năng lực đọc hiểu văn bản nghệ thuật cho học sinh lớp 2.
Mục tiêu nghiên cứu:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và khảo sát thực trạng dạy học đọc hiểu văn bản nghệ thuật theo sách giáo khoa Tiếng Việt 2 (bộ Kết nối tri thức với cuộc sống) trên địa bàn thành phố Hải Phòng.
- Xác định các nguyên tắc, điều kiện và đề xuất quy trình, cách thức xây dựng hệ thống câu hỏi phát triển năng lực đọc hiểu văn bản nghệ thuật cho học sinh lớp 2.
- Tổ chức thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm chứng tính khả thi và hiệu quả của hệ thống câu hỏi đã đề xuất trong thực tế dạy học.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn về xây dựng câu hỏi phát triển năng lực đọc hiểu văn bản cho học sinh lớp 2 sách Kết nối tri thức với cuộc sống.
- Xây dựng các cách thiết kế câu hỏi phát triển năng lực đọc hiểu văn bản nghệ thuật cho học sinh lớp 2 theo định hướng phát triển năng lực.
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm để đo lường, phân tích và đánh giá kết quả thực tiễn.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống câu hỏi phát triển năng lực đọc hiểu văn bản nghệ thuật cho học sinh lớp 2 sách Kết nối tri thức với cuộc sống.
- Phạm vi nội dung: Ngữ liệu đọc hiểu thuộc thể loại văn bản nghệ thuật trong SGK Tiếng Việt 2 (bộ Kết nối tri thức với cuộc sống).
- Phạm vi không gian và địa bàn: Khảo sát thực trạng và thực nghiệm sư phạm tại các trường tiểu học đại diện cho khu vực thành thị (quận Hồng Bàng, quận Kiến An) và khu vực nông thôn (huyện Vĩnh Bảo) thuộc thành phố Hải Phòng.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận được xây dựng dựa trên hệ thống cơ sở lý thuyết đa ngành về giáo dục học, tâm lý học lứa tuổi, lý luận văn học và phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học:
- Lý thuyết về năng lực và dạy học phát triển năng lực: Tiếp cận quan niệm của P. Rudich về năng lực như thuộc tính tâm sinh lý chi phối quá trình lĩnh hội tri thức; định nghĩa của Xavier Roegiers (1996) xem năng lực là sự tích hợp giữa nội dung, hoạt động và tình huống; quan điểm của F. E. Weinert (2001) về khả năng giải quyết vấn đề linh hoạt và có trách nhiệm. Căn cứ khung 10 năng lực cốt lõi (3 năng lực chung và 7 năng lực đặc thù) theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT.
- Khái niệm văn bản và văn bản nghệ thuật: Phân định bản chất của văn bản nghệ thuật như một hình thức sáng tạo thẩm mỹ dùng ngôn từ hình tượng để truyền tải cảm xúc, suy ngẫm nhân sinh và giá trị nhân văn (gồm các thể loại tiểu thuyết, truyện ngắn, thơ, kịch bản).
- Lý thuyết đọc hiểu và kỹ thuật đặt câu hỏi: Kế thừa các công trình nghiên cứu của J. B. Carroll (1964), J. Richard Smith & D. Date Johnson (1975), G. George (1977); quan niệm của Nguyễn Thái Hòa về bản chất giải mã ngôn ngữ gắn liền với tư duy logic; các nghiên cứu về hệ thống câu hỏi trong dạy học văn học của Nguyễn Thanh Hùng (2010), Nguyễn Quang Cương, Hoàng Thị Mai, Phạm Thị Huệ, Dương Thị Hương, Đào Ngọc - Nguyễn Quang Ninh.
- Tâm lý học lứa tuổi và động lực học tập: Phân tích đặc điểm nhận thức của học sinh lớp 2 về sự chú ý (dễ phân tán), trí nhớ (ghi nhớ máy móc chiếm ưu thế), trí tưởng tượng (đang phát triển nhưng còn cảm tính) và tư duy (tư duy trực quan - hình tượng giữ vai trò chủ đạo). Vận dụng lý thuyết của Rudich (1986) và S. Hidi (1990) về vai trò của hứng thú nhận thức trong học tập.
- Cơ sở pháp lý: Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo về Chương trình GDPT tổng thể và Chương trình môn Tiếng Việt cấp tiểu học; Công văn số 9832/BGDĐT-GDTH về hướng dẫn thực hiện chương trình.
Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Đọc, phân tích, tổng hợp và hệ thống hóa tài liệu khoa học, giáo trình, văn bản pháp quy liên quan đến dạy học phát triển năng lực và kỹ thuật đặt câu hỏi.
- Phương pháp quan sát sư phạm: Dự giờ và quan sát trực tiếp 8 tiết dạy học văn bản nghệ thuật của giáo viên lớp 2 tại các trường tiểu học trên địa bàn Hải Phòng.
- Phương pháp điều tra khảo sát và phỏng vấn: Sử dụng phiếu hỏi kết hợp phỏng vấn sâu đối với 27 giáo viên và 1010 học sinh tại 4 trường tiểu học; tiến hành điều tra nhận thức chuyên sâu trên mẫu 30 giáo viên lớp 2.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp số liệu: Thống kê toán học, xử lý số liệu định lượng từ phiếu khảo sát và bài kiểm tra đo nghiệm.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Thiết kế giáo án, tổ chức dạy học thử nghiệm và đối chứng tại 3 trường tiểu học để đánh giá định tính và định lượng năng lực của học sinh.
Nguồn dữ liệu:
- SGK và SGV Tiếng Việt 2 (tập 1 và tập 2), bộ sách "Kết nối tri thức với cuộc sống" do Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam phát hành.
- Dữ liệu khảo sát thực trạng từ 27 giáo viên và 1010 học sinh lớp 2 tại 4 trường tiểu học ở thành phố Hải Phòng.
- Dữ liệu đo nghiệm kết quả thực nghiệm sư phạm tại Trường Tiểu học Đinh Tiên Hoàng, Trường Tiểu học Nhân Hòa và Trường Tiểu học Thị trấn Vĩnh Bảo.
Nội dung chính theo từng chương
Chương I: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc xây dựng hệ thống câu hỏi phát triển năng lực đọc hiểu văn bản nghệ thuật cho học sinh lớp 2 sách Kết nối tri thức với cuộc sống
Chương I tập trung làm sáng tỏ hệ thống khái niệm nền tảng về năng lực, văn bản nghệ thuật, bản chất của quá trình đọc hiểu và mối quan hệ giữa đặc điểm tâm sinh lý học sinh lớp 2 với hứng thú học tập phân môn Tiếng Việt.
Về cơ sở thực tiễn, tác giả khảo sát toàn diện cấu trúc ngữ liệu của bộ SGK Tiếng Việt 2 - Kết nối tri thức với cuộc sống. Toàn bộ sách gồm 62 văn bản đọc chính (không tính các tuần ôn tập), phân bố cân bằng giữa văn bản thông tin (12 văn bản), văn bản thơ (21 văn bản) và văn bản truyện cùng các thể loại khác (29 văn bản). Trong đó, tập 1 có 32 bài với 28 bộ câu hỏi đọc hiểu; tập 2 có 30 bài với 22 bộ câu hỏi đọc hiểu văn bản nghệ thuật.
| Nhóm thể loại văn bản |
Tập một (văn bản) |
Tập hai (văn bản) |
Toàn bộ 2 tập (văn bản) |
| Văn bản thông tin |
4 |
8 |
12 |
| Văn bản thơ |
13 |
8 |
21 |
| Văn bản truyện và thể loại khác |
15 |
14 |
29 |
| Tổng cộng |
32 |
30 |
62 |
Tác giả đã tiến hành điều tra thực trạng dạy học tại 4 trường tiểu học trên địa bàn thành phố Hải Phòng với cơ cấu mẫu như sau:
| STT |
Trường Tiểu học |
Quận / Huyện |
Khu vực |
Số lượng GV |
Số lượng HS |
| 1 |
Đinh Tiên Hoàng |
Hồng Bàng |
Thành thị |
9 |
350 |
| 2 |
Trần Thành Ngọ |
Kiến An |
Thành thị |
8 |
295 |
| 3 |
Nhân Hòa |
Vĩnh Bảo |
Nông thôn |
4 |
125 |
| 4 |
Thị trấn Vĩnh Bảo |
Vĩnh Bảo |
Nông thôn |
6 |
240 |
| Tổng |
4 trường |
3 quận/huyện |
2 khu vực |
27 |
1010 |
Khảo sát nhận thức trên mẫu 30 giáo viên dạy lớp 2 cho thấy: 25 giáo viên (83,3%) có nhận thức gần đúng về bản chất dạy học phát triển năng lực đọc hiểu; 5 giáo viên (16,7%) có nhận thức chưa rõ ràng; không có giáo viên nào nhận thức sai hoàn toàn. Đánh giá về tác dụng của việc tổ chức câu hỏi phát triển năng lực: 100% giáo viên đồng thuận rằng câu hỏi giúp thay đổi cách thức hoạt động, chống mệt mỏi và tạo hứng thú học tập; 96,7% nhận định giúp hình thành năng lực trí tuệ và nhân cách; 93,3% cho rằng phát huy tính tích cực, chủ động và năng lực hợp tác.
Tuy nhiên, qua dự giờ 8 tiết học thực tế, tác giả chỉ ra nhiều hạn chế: kế hoạch bài học còn phụ thuộc máy móc vào SGV, hệ thống câu hỏi có tính lặp lại, thiếu tính phân hóa, kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin của giáo viên còn hạn chế và học sinh có học lực trung bình - yếu ít có cơ hội tham gia phát biểu.
Chương II: Các cách xây dựng hệ thống câu hỏi phát triển năng lực đọc hiểu văn bản nghệ thuật cho học sinh lớp 2 sách Kết nối tri thức với cuộc sống
Chương II là phần trọng tâm đề xuất giải pháp sư phạm, bao gồm 4 nguyên tắc, hệ thống điều kiện triển khai và 4 cách thức thiết kế câu hỏi cụ thể:
Bốn nguyên tắc xây dựng hệ thống câu hỏi:
- Nguyên tắc đảm bảo yêu cầu cần đạt: Bám sát chuẩn kiến thức, kỹ năng và các chỉ số hành vi năng lực ngôn ngữ quy định trong Chương trình GDPT 2018 cấp tiểu học.
- Nguyên tắc đảm bảo nội dung môn học: Đảm bảo tính khoa học, chuẩn xác về kiến thức tiếng Việt và kiến thức văn học theo tiến trình phân phối chương trình.
- Nguyên tắc gắn bài học với thực tế: Liên hệ ngữ liệu văn bản với các tình huống sinh hoạt, giao tiếp đời sống hàng ngày của học sinh.
- Nguyên tắc tạo không khí tích cực, chủ động và khơi gợi hứng thú học tập của học sinh: Đa dạng hóa câu hỏi theo nhiều mức độ từ nhận biết, thông hiểu đến vận dụng sáng tạo, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi.
Hệ thống điều kiện sư phạm:
- Xác định rõ mục đích dạy học của từng câu hỏi trong tiến trình tiết đọc.
- Bám sát yêu cầu cần đạt và cấu trúc bài học.
- Đa dạng hóa hình thức câu hỏi (cá nhân, nhóm, trực quan).
- Chuẩn bị đầy đủ phương tiện dạy học thông thường (bảng phấn, SGK) và phương tiện kỹ thuật (máy tính, thiết bị trình chiếu, học liệu tương tác).
- Giáo viên đặt câu hỏi ngắn gọn, hướng dẫn cách thức thực hiện và tổ chức đánh giá kịp thời, công bằng.
Bốn cách thức xây dựng câu hỏi phát triển năng lực đọc hiểu:
- Xây dựng câu hỏi khám phá nội dung bài học: Sử dụng các câu hỏi mở không có khuôn mẫu đáp án cứng nhắc, kích thích học sinh suy nghĩ và giải thích đa chiều. Tác giả minh họa qua câu hỏi trong bài "Em có xinh không?" (Tuần 3, tập 1, trang 24-25: "Em học được điều gì từ câu chuyện của Voi em?") và bài "Sự tích cây thì là" (Tuần 24, tập 2, trang 46-47: "Vì sao cây này có tên là "thì là"?").
- Xây dựng câu hỏi nêu suy nghĩ, cảm nhận về nhân vật: Dạng câu hỏi kích thích học sinh bộc lộ cảm xúc thẩm mỹ, phân tích hành vi, tính cách và bày tỏ quan điểm đồng tình hoặc không đồng tình với nhân vật văn học.
- Xây dựng câu hỏi đưa vào tình huống giao tiếp giả định: Thiết kế các tình huống đóng vai, đặt học sinh vào vị trí của nhân vật để đưa ra cách ứng xử, rèn luyện kỹ năng giải quyết vấn đề.
- Xây dựng câu hỏi phát huy năng lực trải nghiệm nền cho học sinh: Kết nối thế giới nghệ thuật trong tác phẩm với vốn sống, trải nghiệm bản thân và gia đình của học sinh, giúp kiến thức trở nên sinh động và có ý nghĩa thực tế.
Chương III: Thực nghiệm sư phạm
Chương III trình bày quá trình thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm định tính hiệu quả của hệ thống câu hỏi đã xây dựng:
- Địa bàn và đối tượng thực nghiệm: Tiến hành dạy thực nghiệm và đối chứng tại 3 trường: Trường Tiểu học Đinh Tiên Hoàng (quận Hồng Bàng), Trường Tiểu học Nhân Hòa (huyện Vĩnh Bảo) và Trường Tiểu học Thị trấn Vĩnh Bảo (huyện Vĩnh Bảo).
- Quy trình tiến hành: Lựa chọn các bài đọc có văn bản nghệ thuật trong chương trình, thiết kế giáo án thực nghiệm với hệ thống câu hỏi phát triển năng lực mở, tích hợp hoạt động nhóm và tình huống thực tiễn; lớp đối chứng dạy theo tiến trình bài giảng truyền thống bám sát SGV.
- Tiêu chí đánh giá: Xây dựng khung đánh giá năng lực tiếp thu kiến thức và mức độ phát triển năng lực đọc hiểu (khả năng nhận diện chi tiết, năng lực phân tích cảm nhận, năng lực giải quyết tình huống giả định và tính tích cực, tự tin trong học tập).
- Kết quả đo nghiệm: Kết quả sau thực nghiệm cho thấy tại cả 3 trường tiểu học, học sinh ở các lớp thực nghiệm có sự cải thiện rõ rệt về mức độ hứng thú học tập, năng lực trả lời câu hỏi mở, khả năng diễn đạt lưu loát và tỷ lệ đạt mức xuất sắc - tốt cao hơn hẳn so với các lớp đối chứng. Điều này chứng minh hệ thống câu hỏi đề xuất có tính khả thi cao, phù hợp với năng lực học sinh lớp 2 và đáp ứng đúng định hướng Chương trình GDPT 2018.
Kết quả và đóng góp
Kết quả chính:
- Thống kê toàn diện hệ thống ngữ liệu đọc trong SGK Tiếng Việt 2 (bộ Kết nối tri thức với cuộc sống) với 62 văn bản (12 văn bản thông tin, 21 văn bản thơ, 29 văn bản truyện) và 50 bộ câu hỏi sau bài đọc.
- Phân tích thực trạng dạy học trên mẫu 27 giáo viên và 1010 học sinh tại 4 trường tiểu học thuộc thành phố Hải Phòng, chỉ ra 83,3% giáo viên nhận thức được tầm quan trọng của việc phát triển tư duy đọc hiểu nhưng việc tổ chức thực tế còn lệ thuộc nhiều vào SGV.
- Xác lập 4 nguyên tắc sư phạm, hệ thống điều kiện tổ chức và 4 dạng câu hỏi phát triển năng lực đọc hiểu văn bản nghệ thuật kèm hệ thống giáo án thực nghiệm minh họa.
- Kiểm chứng thực nghiệm tại 3 trường tiểu học (Đinh Tiên Hoàng, Nhân Hòa, Thị trấn Vĩnh Bảo), khẳng định việc sử dụng câu hỏi mở và câu hỏi tình huống giúp nâng cao rõ rệt năng lực tiếp thu và phản hồi văn bản của học sinh lớp 2.
Giải pháp và kiến nghị:
- Đề xuất giáo viên tiểu học chủ động đổi mới phương pháp đặt câu hỏi, giảm bớt câu hỏi tái hiện máy móc, tăng cường câu hỏi mở khám phá nội dung, câu hỏi cảm nhận nhân vật và câu hỏi liên hệ trải nghiệm nền.
- Khuyến nghị các nhà trường và cấp quản lý tăng cường bồi dưỡng chuyên môn, tổ chức hội thảo, chuyên đề về kỹ thuật thiết kế câu hỏi phát triển năng lực và bổ sung trang thiết bị dạy học hiện đại.
Đóng góp mới của tác giả:
- Về mặt lý luận: Hệ thống hóa và bổ sung các luận cứ lý luận về cấu trúc và phương pháp thiết kế câu hỏi phát triển năng lực đọc hiểu văn bản nghệ thuật cho học sinh tiểu học, cụ thể hóa cho đối tượng học sinh lớp 2 theo chương trình SGK mới.
- Về mặt thực tiễn: Cung cấp quy trình, hệ thống câu hỏi mẫu và giáo án thực nghiệm sư phạm có thể áp dụng trực tiếp cho giáo viên dạy lớp 2 môn Tiếng Việt và sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Địa bàn khảo sát thực trạng và tổ chức thực nghiệm sư phạm mới chỉ tập trung tại 4 trường tiểu học thuộc thành phố Hải Phòng (khu vực quận Hồng Bàng, quận Kiến An và huyện Vĩnh Bảo), chưa thể đại diện cho các vùng miền có điều kiện kinh tế - xã hội và đối tượng học sinh khác nhau trên cả nước. Đối tượng nghiên cứu giới hạn ở phạm vi văn bản nghệ thuật lớp 2 của một bộ sách (Kết nối tri thức với cuộc sống).
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu quy trình thiết kế câu hỏi phát triển năng lực đọc hiểu sang các khối lớp tiếp theo (lớp 3, lớp 4, lớp 5) và so sánh, đối chiếu việc triển khai trên các bộ SGK khác như "Cánh diều" hay "Chân trời sáng tạo".
Giá trị tham khảo
- Đối tượng hưởng lợi: Sinh viên chuyên ngành Giáo dục Tiểu học, giáo viên tiểu học đang trực tiếp giảng dạy môn Tiếng Việt lớp 2 theo bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống, cán bộ quản lý chuyên môn tại các trường tiểu học và các nhà nghiên cứu phương pháp dạy học Tiếng Việt.
- Nội dung đáng tham khảo:
- Bảng thống kê chi tiết cơ cấu văn bản nghệ thuật trong 2 tập SGK Tiếng Việt 2.
- Hệ thống 4 nguyên tắc sư phạm và 4 cách thức xây dựng câu hỏi đọc hiểu (câu hỏi khám phá nội dung, câu hỏi cảm nhận nhân vật, câu hỏi tình huống giả định, câu hỏi trải nghiệm nền).
- Dữ liệu khảo sát thực trạng giáo viên, học sinh tại Hải Phòng và hệ thống tiêu chí đánh giá năng lực đọc hiểu trong chương thực nghiệm sư phạm.
Câu hỏi thường gặp
1. Khảo sát thực trạng dạy học trong khóa luận được thực hiện trên quy mô mẫu nào?
Khảo sát thực trạng được tiến hành tại 4 trường tiểu học trên địa bàn thành phố Hải Phòng (Trường TH Đinh Tiên Hoàng - quận Hồng Bàng, Trường TH Trần Thành Ngọ - quận Kiến An, Trường TH Nhân Hòa - huyện Vĩnh Bảo, Trường TH Thị trấn Vĩnh Bảo - huyện Vĩnh Bảo) với tổng số 27 giáo viên và 1010 học sinh, kết hợp khảo sát chuyên sâu nhận thức trên 30 giáo viên và dự giờ trực tiếp 8 tiết dạy.
2. Tác giả thống kê có bao nhiêu văn bản nghệ thuật và bộ câu hỏi đọc hiểu trong SGK Tiếng Việt 2 (bộ Kết nối tri thức với cuộc sống)?
Toàn bộ SGK Tiếng Việt 2 gồm 62 văn bản đọc chính, trong đó có 21 văn bản thơ, 29 văn bản truyện và các thể loại khác (tổng cộng 50 văn bản nghệ thuật) cùng 12 văn bản thông tin. Toàn bộ sách có 50 bộ câu hỏi đọc hiểu sau bài đọc (tập 1 có 28 bộ câu hỏi, tập 2 có 22 bộ câu hỏi).
3. Tác giả đề xuất bao nhiêu nguyên tắc và những dạng câu hỏi cụ thể nào để phát triển năng lực đọc hiểu cho học sinh?
Tác giả đề xuất 4 nguyên tắc cốt lõi (Đảm bảo yêu cầu cần đạt; Đảm bảo nội dung môn học; Gắn bài học với thực tế; Tạo không khí tích cực, chủ động và khơi gợi hứng thú) cùng 4 cách thức xây dựng câu hỏi: (1) Câu hỏi khám phá nội dung bài học, (2) Câu hỏi nêu suy nghĩ, cảm nhận về nhân vật, (3) Câu hỏi đưa vào tình huống giao tiếp giả định, và (4) Câu hỏi phát huy năng lực trải nghiệm nền cho học sinh.
4. Những văn bản nghệ thuật cụ thể nào trong SGK lớp 2 được tác giả dùng để minh họa cho dạng câu hỏi khám phá nội dung?
Tác giả sử dụng câu hỏi "Em học được điều gì từ câu chuyện của Voi em?" trong bài đọc "Em có xinh không?" (Tuần 3, tập 1, trang 24-25) và câu hỏi "Vì sao cây này có tên là "thì là"?" trong bài "Sự tích cây thì là" (Tuần 24, tập 2, trang 46-47).
5. Thực nghiệm sư phạm được tiến hành tại những trường nào và kết quả ra sao?
Thực nghiệm được triển khai tại 3 trường: Trường TH Đinh Tiên Hoàng, Trường TH Nhân Hòa và Trường TH Thị trấn Vĩnh Bảo. Kết quả đo nghiệm cho thấy học sinh lớp thực nghiệm có sự phát triển vượt trội về năng lực đọc hiểu, phản ứng linh hoạt với câu hỏi mở và có tỷ lệ đạt mức xuất sắc - tốt cao hơn đáng kể so với lớp đối chứng.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Trần Thị Anh Chi đã giải quyết một cách toàn diện vấn đề xây dựng câu hỏi phát triển năng lực đọc hiểu văn bản nghệ thuật cho học sinh lớp 2 theo bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống. Trên cơ sở lý luận vững chắc và khảo sát thực tiễn công phu tại 4 trường tiểu học ở Hải Phòng, tác giả đã đề xuất 4 nguyên tắc cùng 4 nhóm dạng câu hỏi mang tính ứng dụng cao. Kết quả thực nghiệm sư phạm khẳng định tính khả thi của giải pháp, góp phần cung cấp tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn cho giáo viên và sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học.