CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Năng lực và dạy học phát triển năng lực Theo P. Rudich, năng lực là tính chất tâm sinh lí của con người chi phối các quá trình tiếp thu các kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo cũng như hiệu quả thực hiện một hoạt động nhất định. Xavier Roegiers (1996) quan niệm năng lực là một vấn đề tích hợp ở chỗ nó bao hàm cả những nội dung, những hoạt động cần thực hiện và những tình huống trong đó diễn ra các hoạt động.
Weitnert (2001) cho rằng năng lực là những khả năng và kĩ xảo học được hoặc sẵn có của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng như sự sẵn sàng về động cơ, xã hội,… khả năng vận dụng giải quyết vấn đề một cách có trách nhiệm, hiệu quả trong những tình huống linh hoạt. Theo quan niệm của những nhà tâm lí học, năng lực là thống kê các đặc điểm, tính chất tâm lí của cá nhân thích hợp với yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt kết quả cao. Các năng lực hình thành trên cơ sở của các tư chất tự nhiên của cá nhân mới làm vai trò cần thiết, năng lực của con người chẳng phải hoàn toàn do tự nhiên mà có, phần đông do công tác, do tập luyện mà có. Năng lực có một số đặc điểm chung, cơ bản như sau: - Đề cập tới kết quả nào đó của một công việc cụ thể, do một con người thực hiện (năng lực học tập, năng lực tư duy, năng lực tự quản lí bản thân…).
- Có sự tác động của một cá nhân cụ thể tới một đối tượng cụ thể (kiến thức, quan hệ xã hội…) để có một sản phẩm nhất định; có thể phân biệt người này với người khác. - Trong một hoạt động cụ thể, năng lực là một yếu tố không thể thiếu - yếu tố cấu thành nên hoạt động. Năng lực chỉ tồn tại trong quá trình vận động, phát triển của một hoạt động cụ thể. Vì vậy, năng lực vừa là mục tiêu, vừa là kết quả hoạt động, nó là điều kiện của hoạt động, nhưng cũng phát triển trong chính hoạt động đó.
Quá trình dạy học, giáo dục nhằm hình thành, rèn luyện, phát triển năng lực ở cá nhân tất yếu phải đưa cá nhân tham gia vào các hoạt động. Bản chất của năng lực là khả năng kết hợp một cách linh hoạt, có tổ chức, hợp lí các kiến thức, kĩ năng với thái độ, giá trị, động cơ, nhằm đáp ứng những yêu cầu phức hợp của một hoạt động, bảo đảm cho hoạt động đó đạt kết quả tốt đẹp trong 9 một bối cảnh (tình huống) nhất định của chủ thể. Năng lực của một cá nhân được biểu hiện ở chỗ biết sử dụng các nội dung và kĩ năng phù hợp trong một tình huống có ý nghĩa, không ở tiếp thu lượng tri thức rời rạc. Văn bản và văn bản nghệ thuật Văn bản là tuy gần gũi nhưng lại rất đa dạng về thể loại.
Chính vì vậy, có nhiều quan điểm giải thích về văn bản. Quan điểm thứ nhất cho rằng, văn bản là phương thức để truyền đạt thông tin từ một cá nhân này đến cá nhân khác hoặc từ một tổ chức đến cá nhân/tổ chức khác thông qua ngôn ngữ viết trên chất liệu giấy hoặc điện tử. Theo quan điểm này thì các loại giấy tờ như giấy phép, thông báo, báo cáo, câu hỏi, tài liệu… đều được coi là văn bản. Quan điểm khác lại cho rằng, văn bản là các loại giấy tờ, tài liệu được sử dụng trong những cơ quan, đoàn thể và tổ chức xã hội.
Theo đó, các loại giấy tờ này được sử dụng để điều hành và quản lý hoạt động của cơ quan, đoàn thể hay để truyền đạt thông tin đến các cá nhân, tổ chức trong xã hội. Ví dụ như: Quyết định, Chỉ thị Công văn… Nhìn chung, văn bản là hình thức truyền đạt thông tin bằng ngôn ngữ viết. Có thể hiểu, văn bản là một phương tiện dùng để ghi nhận, lưu giữ và truyền đạt các thông tin từ chủ thể này sang chủ thể khác thông qua chữ viết. Văn bản gồm tập hợp các câu văn có nội dung và liên kết chặt chẽ với nhau để hướng tới một mục tiêu giao tiếp nhất định.
Văn bản nghệ thuật là một hình thức sáng tạo văn hóa, trong đó ngôn ngữ được sử dụng một cách độc đáo để truyền tải ý nghĩa và tạo ra trải nghiệm esthetic (thẩm mỹ) thông qua việc sử dụng các phương tiện như từ ngữ, hình ảnh và âm thanh, văn bản nghệ thuật mang lại cho người đọc không chỉ thông tin mà còn cảm xúc và suy ngẫm về cuộc sống và con người. Văn bản nghệ thuật không chỉ có vai trò giải trí mà còn mang lại những ý nghĩa sâu xa cho người đọc. Nó có thể khám phá các khía cạnh của cuộc sống, con người và xã hội thông qua việc phản ánh các cảm xúc, suy ngẫm về cuộc sống và truyền đạt những giá trị triết lý. Văn bản nghệ thuật cũng có thể truyền đạt thông điệp xã hội, đề cao nhân văn và khích lệ sự phát triển cá nhân.
Dưới đây là một số ví dụ về văn bản nghệ thuật: Tiểu thuyết: Tác phẩm viết dài, tường thuật câu chuyện và phát triển nhân vật trong một thế giới tưởng tượng. Thơ: Sử dụng ngôn từ tuỳ ý và các kỹ thuật thể hiện để truyền đạt cảm xúc và ý nghĩa sâu xa. 10 Kịch: Trình diễn trực tiếp trên sân khấu, kịch bản được viết để diễn xuất và gợi lên cảm xúc của khán giả. Truyện ngắn: Tác phẩm viết ngắn, tập trung vào việc phát triển một câu chuyện hoặc ý tưởng trong một khoảnh khắc ngắn.
Như vậy, văn bản nghệ thuật là một bộ phận nhỏ của văn bản, nói cách khác, văn bản bao gồm văn bản nghệ thuật. Với vai trò quan trọng của nó trong việc giao tiếp và lan tỏa ý nghĩa, văn bản nghệ thuật đóng góp vào sự phát triển của văn hóa và giáo dục. Đọc và đọc văn bản Đọc là một năng lực tiếp nhận văn bản, là hoạt động người học đọc chữ, xem các kí hiệu, bảng biểu, hình ảnh trong nhiều loại văn bản (được trình bày bằng nhiều phương thức, được biểu đạt bằng nhiều phong cách ngôn ngữ), nhằm xử lí thông tin trong văn bản vào những mục đích khác nhau trong thực tiễn đời sống, học tập của cá nhân và cộng đồng. Văn bản không chỉ để đọc mà chúng ta cần hiểu ý nghĩa của văn bản.
Hay nói cách khác, khi đọc văn bản cần đi đôi với việc hiểu văn bản. Qua đó, hiểu là phát hiện và nắm vững mối liên hệ của sự vật, hiện tượng, đối tượng nào đó và ý nghĩa của mối quan hệ đó. Hiểu còn là sự bao quát hết nội dung và có thể vận dụng vào đời sống. Cụ thể, hiểu là phải trả lời được các câu hỏi: “cái gì?”, “như thế nào?”, "làm như thế nào?".
Đọc hiểu văn bản là đọc kết hợp với sự hình thành năng lực giải thích, phân tích, khái quát, biện luận đúng sai về logic, tức là kết hợp với năng lực, tư duy và biểu đạt. Câu hỏi đọc hiểu văn bản là vừa đọc và vừa hiểu nội dung của văn bản đó thông qua các câu hỏi có sẵn hoặc tự phát trong văn bản đó hay của một người nào đó hỏi về văn bản đó. Như vậy, đọc văn bản không chỉ là việc đọc qua các dòng chữ mà còn là khả năng hiểu và tương tác sâu hơn với nội dung văn bản. Vậy luyện tập đọc văn bản là gì và làm thế nào để luyện tập đọc văn bản? Luyện tập đọc văn bản là một quá trình hữu ích để nâng cao khả năng đọc hiểu và tương tác với nội dung văn bản.
Dưới đây là một số gợi ý để luyện tập đọc văn bản: - Chọn văn bản phù hợp: Bắt đầu bằng việc chọn những văn bản phù hợp với trình độ của mình. Đừng ngần ngại bắt đầu từ những văn bản ngắn và dễ hiểu. - Đọc hàng ngày: Hãy dành ít nhất 15-30 phút mỗi ngày để đọc văn bản. Điều này giúp chúng ta quen thuộc với cách sử dụng ngôn ngữ và cấu trúc câu.
11 - Hiểu nghĩa từ và ngữ pháp: Khi gặp từ mới, hãy tra từ điển để hiểu nghĩa và cách sử dụng. Nắm vững ngữ pháp cơ bản để đọc hiểu tốt hơn. - Tìm hiểu ngữ cảnh: Đọc văn bản không chỉ là đọc từng câu một, hiểu ngữ cảnh, xem văn bản đang nói về chủ đề gì, ai là tác giả, và mục đích của tác giả là gì? - Tóm tắt nội dung: Sau khi đọc xong một đoạn văn, hãy tóm tắt nội dung bằng cách viết hoặc nói. Điều này giúp chúng ta kiểm tra hiểu biết của mình.
- Phân tích cấu trúc văn bản: Xem xét cấu trúc của văn bản, bao gồm đoạn văn, câu chuyện, và các phần khác. Hãy tìm hiểu cách tác giả xây dựng nội dung. - Đọc thêm văn bản văn học: Đọc thêm các tác phẩm văn học để trải nghiệm ngôn ngữ nghệ thuật và hình tượng văn học. Điều này giúp chúng ta phát triển khả năng đọc hiểu sâu hơn.
Luyện tập đọc văn bản là một quá trình dần dần, hãy kiên nhẫn và không ngừng nỗ lực để cải thiện khả năng đọc hiểu của chúng ta. Dạy học theo hướng phát triển năng lực Dạy học phát triển năng lực chính là phát triển năng lực hành động, khả năng thực hiện có trách nhiệm và hiệu quả các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, các vấn đề trong những tình huống khác nhau trên cơ sở hiểu biết, kĩ xảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động. Trong thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể của Bộ GD&ĐT đã đưa ra 10 năng lực cần phát triển cho HSTH, trong đó có 3 năng lực chung và 7 năng lực đặc thù. Các năng lực chung và năng lực đặc thù cần được phát triển đồng thời qua quá trình dạy học các môn học mà không thể tách rời nhau.
Trong đó, các năng lực chung đóng vai trò điều kiện then chốt trong việc phát triển các năng lực đặc thù, còn các năng lực đặc thù là cơ sở, hỗ trợ việc phát triển năng lực chung. Dạy học phát triển năng lực không đặt nặng vào kết quả kiến thức, kĩ năng mà chú trọng quá trình học tập, phát triển năng lực HS.