đặt vấn đề nghiên cứu “mối liên hệ mật thiết giữa tư duy sáng tạo trong dạy học tác phẩm văn chương không thể tách rời và biệt lập với những nghiên cứu về vai trò của liên tưởng tưởng tượng trong tâm lí cũng như trong sáng tạo văn học nghệ thuật” [23, tr. Chuyên luận đi sâu nghiên cứu các vấn đề thuộc lĩnh vực tư duy sáng tạo trong dạy học tác phẩm văn chương. Để xây dựng cơ sở lí thuyết cho vấn 10 đề then chốt của tư duy sáng tạo trong lĩnh hội, tiếp nhận nghệ thuật, tác giả lần lượt đi sâu vào các phần: + Những tiền đề khoa học nghiên cứu tư duy sáng tạo trong dạy học tác phẩm văn chương. Trong phần này, từ góc độ hoạt động tâm lí, công trình lí giải các khái niệm cảm giác, tri giác, biểu tượng, trí nhớ và liên tưởng cũng như nêu mối quan hệ giữa liên tưởng và tưởng tượng.Tác giả nêu bật vai trò của tưởng tượng và tư duy đồng thời soi sáng hiện tượng tâm lí và tư duy đặc biệt nói đó vào quá trình sáng tạo và tiếp nhận nghệ thuật.
+ Nội dung phát triển của tư duy sáng tạo trong dạy học tác phẩm văn chương. Nêu luận điểm: “Dạy học tác phẩm văn chương (giảng văn) là một loại hình dạy học đặc thù, đòi hỏi sự nỗ lực sáng tạo từ cả hai phía (giáo viên và học sinh), lấy giá trị của tác phẩm làm điểm xuất phát để hướng tới mục đích”. Vì thế “hoạt động tiếp nhận sáng tạo của học sinh trong nhà trường nói chung và liên tưởng tưởng tượng trong dạy học tác phẩm văn chương nói riêng cũng cần được nhìn nhận đánh giá từ nhiều phía trong hệ thống các phương pháp, biện pháp dạy học với tư cách một hoạt động sáng tạo trí tuệ có đối tượng mục đích, cơ chế cụ thể…” [23, tr. Từ nhận thức đó, công trình tiếp tục tìm hiểu các vấn đề cụ thể như: “Đối tượng tiếp nhận thẩm mĩ của học sinh trong dạy học tác phẩm văn chương”, “Mục đích tiếp nhận thẩm mĩ của học sinh trong dạy học tác phẩm văn chương”, “Xác định phương thức tiếp nhận thẩm mĩ của học sinh trong dạy học tác phẩm văn chương”, “Cơ chế liên tưởng, tưởng tượng trong dạy học tác phẩm văn chương”, “Giới hạn của liên tưởng, tưởng tượng và vấn đề định hướng thẩm mĩ cho học sinh” + Một số giải pháp rèn luyện tư duy sáng tạo trong dạy học tác phẩm văn chương.
Đây là phần vận dụng những hiểu biết và kinh nghiệm từ quá trình nghiên cứu những vấn đề thuộc lĩnh vực khoa học tâm lí trong tư duy và nghệ 11 thuật nói trên để vận dụng vào thực tiễn dạy học Văn nhằm rèn luyện và phát huy năng lực tư duy sáng tạo cho học sinh vào quá trình lĩnh hội tiếp nhận TPVC. Ngoài những công trình vừa nêu trên, có thể nêu thêm một số tài liệu như “Văn học, học văn” (Hoàng Ngọc Hiến), “Công nghệ dạy văn” của Phạm Toàn, “Hiểu văn, dạy văn” (Nguyễn Thanh Hùng), “Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương” (Nguyễn Viết Chữ). Đặc biệt, cần nói tới một số tài liệu dịch như có nguồn gốc từ các tài liệu giáo trình giảng dạy văn học của Liên xô (cũ). Có thể kể tới: - “Phương pháp giảng dạy văn học ở trường Phổ thông” 2 tập (Nhi - xkôn - xki), - “Phương pháp luận dạy văn học” (Z.
Ia Rez chủ biên). Bên cạnh đó, có thể nêu thêm các công trình của các nhà nghiên cứu lí luận văn học, tâm lí học đã góp phần làm sáng tỏ thêm những cơ sở lí luận nhằm tìm hiểu vấn đề liên quan tới dạy học Văn là hoạt động liên tưởng tượng như sau đây: - “Tâm lí học nghệ thuật” của L. - “Tâm lí học sáng tạo văn học” của M. Arnaudốp - “Tâm lí văn nghệ” của Chu Quang Tiềm.
Tóm lại, những công trình nêu trên đã đặt nền móng về lí luận và thực tiễn cho đề tài nghiên cứu của chúng tôi. Tuy nhiên, các tài liệu trên còn mới chỉ là những gợi dẫn nặng về lí thuyết, chưa có sự hướng dẫn cụ thể mang tính ứng dụng của biện pháp rèn luyện và phát huy năng lực tưởng tượng cho HS trong giờ học Văn. Hơn nữa, mặc dù vấn đề này đã được đặt ra từ lâu, nhưng trước nay bị bỏ quên, ít được chú ý. Vì vậy, với luận văn này, chúng tôi đã kế thừa lí luận và thực tiễn của các công trình trên, tiếp tục hệ thống, củng cố và bổ sung thêm các biện pháp hữu hiệu để giúp GV áp dụng vào 12 việc rèn luyện, phát huy năng lực liên tưởng, tưởng tượng cho HS, từ đó, góp phần nâng cao năng lực cảm thụ, hiệu quả dạy và học bộ môn Văn ở trường phổ thông.
Nhiệm vụ và mục đích nghiên cứu Luận văn này nhằm thực hiện những nhiệm vụ và mục đích sau: - Xác định cơ sở lí luận của tưởng tượng trong quá trình sáng tạo và tiếp nhận TPVC. - Đề ra những biện pháp rèn luyện năng lực tưởng tượng cho HS trong dạy học Văn nói chung- dạy học tác phẩm thơ trữ tình ở lớp 11 nói riêng. - Thiết kế giáo án và dạy thực nghiệm đọc - hiểu văn bản - tác phẩm Tràng giang (Huy Cận), Đây thôn Vĩ Dạ (Hàn Mặc Tử) ở lớp 11 theo hướng rèn luyện năng lực tưởng tượng cho HS để kiểm chứng, đánh giá, khẳng định tính khả thi của những biện pháp đề xuất. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đề tài của luận văn giới hạn trong đối tượng và phạm vi: - Vấn đề, năng lực tưởng tượng của HS trong giờ dạy học Đọc- hiểu tác phẩm văn chương ở trường THPT.
- Những vấn đề lí luận và thực tiễn qua những tài liệu đã được công bố liên quan đến hoạt động tưởng tượng. - Vận dụng hoạt động liên tưởng, tưởng tượng vào dạy học đọc - hiểu văn bản - tác phẩm Tràng giang (Huy Cận), Đây thôn Vĩ Dạ (Hàn Mặc Tử) ở lớp 11. Phương pháp nghiên cứu Để phù hợp với mục đích nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu, chúng tôi sử dụng một số phương pháp sau đây: - Phương pháp tổng hợp lí luận và thực tiễn: Phương pháp này được sử dụng để tổng hợp cơ sở lí luận từ các công trình nghiên cứu về năng lực tưởng 13 tượng trong dạy học Văn, tổng hợp các đề tài nghiên cứu thực tiễn dạy học Văn, trên cơ sở đó hình thành phương pháp dạy Văn phù hợp với đối tượng học sinh THPT. - Phương pháp khảo sát, thống kê: Phương pháp này được sử dụng để thống kê các phiếu tham khảo ý kiến của GV và HS về thực tế dạy học Văn; thống kê kết quả thực nghiệm sư phạm, phân loại và đánh giá những kết quả thu được nhằm kiểm nghiệm biện pháp đã được vận dụng trong quá trình dạy Văn.
- Phương pháp thực nghiệm: Chúng tôi tiến hành thực nghiệm sư phạm trong một số giờ ở trường THPT bằng cách xây dựng nội dung thực nghiệm, trình tự tiến hành thực nghiệm, đối tượng thực nghiệm, soạn giảng,… Qua kết quả thực nghiệm, chúng tôi muốn kiểm định lại tính khả thi của đề tài, hiệu quả đạt được và phạm vi ứng dụng của đề tài trong dạy học Văn nói chung, dạy học thơ trữ tình nói riêng ở trường phổ thông. Đóng góp của luận văn - Nắm bắt lại những vấn đề lí luận và thực tiễn về rèn luyện năng lực tưởng tượng cho HS. - Lựa chọn, xây dựng cách thức, biện pháp để tiến hành việc rèn luyện, phát huy năng lực tưởng tượng cho HS trong dạy học tác phẩm văn chương ở trường THPT. - Luận văn đưa ra thiết kế giáo án cụ thể cho dạy học hai văn bản “Tràng giang” và “Đây thôn Vĩ Dạ”, giúp GV tham khảo và vận dụng trong dạy học.
Kết cấu luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm 3 chương: Chương 1. Cơ sở lí luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu. Biện pháp rèn luyện và phát huy năng lực tưởng tượng cho học sinh trong dạy học đọc- hiểu văn bản thơ trữ tình ở THPT. Thực nghiệm sư phạm.
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Vai trò của tưởng tượng trong hoạt động nhận thức 1. Quan hệ giữa tư duy và tưởng tượng Tìm về định nghĩa “thế nào là con người?”, chúng ta đều biết tới câu nói của Pascal, nhà tư tưởng Pháp: “Con người chẳng qua chỉ là một cây sậy, một thứ yếu ớt nhất trong giới tự nhiên, nhưng lại biết tư duy” [49, tr. Như vậy, nhờ điều khiển chức năng tư duy độc đáo của bộ não, con người tạo nên sức mạnh thần kì để sinh tồn và phát triển một cách mạnh mẽ, vô song.
Trong nghiên cứu triết học, tâm lí học, chúng ta biết tới nhiều định nghĩa về tư duy: - “Tư duy là sự phản ánh của bộ não con người đối với thuộc tính bản chất và quy luật nội tại của sự vật khách quan. Tư duy là hoạt động tâm lí mà con người vạch ra thuộc tính bản chất và quy luật nội tại của sự vật” [49, tr. - “Tư duy là một quá trình tâm lí phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ và quan hệ bên trong có tính qui luật của sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan, mà trước đó ta chưa biết. - Tư duy là “giai đoạn cao của quá trình nhận thức, đi sâu vào bản chất và phát hiện ra tính quy luật của sự vật bằng những hình thức như biểu tượng, khái niệm, phán đoán và suy lí” [44, tr.
Dựa vào đặc điểm của tư duy, lí luận nhận thức thường xếp tư duy vào ba bình diện khác nhau: Tư duy trực quan - hành động là hình thức liên hệ trực tiếp với hiện thực trên cơ sở thực tiễn. Nó giúp con người đối chiếu hoạt động tư duy với các thuộc tính của khách thể tác động, đảm bảo một sự nhận thức khách quan phù hợp đối tượng. 16 Tư duy logic - khái niệm là sự phản ánh tách khỏi đối tượng, nhưng nó xâm nhập vào bản chất của các hiện tượng. Loại tư duy này vận dụng các phương pháp cơ bản như phân tích, tổng hợp, trừu tượng, khái quát v.v… từ đó vạch ra bản chất và mối liên hệ có tính quy luật của sự vật, đi sâu vào những điều bí ẩn mà tư duy trực quan không vươn tới được.
Tư duy hình tượng- cảm tính đảm bảo sự tiếp xúc cảm tính, nhưng cách xa đối với khách thể trên cơ sở nghe, nhìn, tưởng tượng.