Tổng quan nghiên cứu

Trong bối cảnh đổi mới giáo dục phổ thông, hoạt động dạy học Ngữ văn theo định hướng đọc - hiểu đòi hỏi học sinh phải chủ động giải mã văn bản nghệ thuật thay vì thụ động tiếp nhận kiến thức một chiều. Kết quả khảo sát thực tế tại các trường trung học phổ thông cho thấy có tới 40% giáo viên đánh giá năng lực tưởng tượng của học sinh ở mức yếu và 60% ở mức trung bình, hoàn toàn không có học sinh nào đạt mức độ xuất sắc trong việc tự tái hiện và sáng tạo hình tượng thơ. Vấn đề nghiên cứu then chốt của đề tài là giải quyết tình trạng học sinh học vẹt, sao chép văn mẫu, thiếu năng lực cảm thụ và liên tưởng khi tiếp cận các tác phẩm thơ trữ tình trong chương trình lớp 11.

Mục tiêu cụ thể của luận văn là xác định hệ thống cơ sở lý luận về tư duy hình tượng, khảo sát toàn diện thực trạng dạy học thơ trữ tình, từ đó đề xuất 4 nhóm biện pháp sư phạm nhằm rèn luyện và phát huy năng lực tưởng tượng cho học sinh. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào không gian dạy học lớp 11 tại các trường trung học phổ thông trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, tiêu biểu là Trường THPT Trường Chinh và Trường THPT Nguyễn Hữu Cầu trong giai đoạn 2013-2014. Hai văn bản trọng tâm được lựa chọn để thực nghiệm sư phạm là thi phẩm Tràng giang của Huy Cận và Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử.

Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện qua việc nâng cao rõ rệt các chỉ số tiếp nhận văn học của người học. Việc ứng dụng hệ thống biện pháp mới giúp tăng tỷ lệ bài viết đạt điểm khá giỏi môn Ngữ văn thêm khoảng 18% đến 22%, đồng thời giảm trên 30% các lỗi diễn xuôi hoặc suy diễn tùy tiện, khẳng định giá trị ứng dụng lâu dài trong nhà trường phổ thông.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng đồng bộ hai hệ thống lý thuyết nền tảng gồm Lý thuyết tiếp nhận văn học hiện đại và Tâm lý học nhận thức về tư duy sáng tạo. Mô hình tiếp nhận văn học xác lập mối quan hệ tương tác 4 yếu tố: Nhà văn - Tác phẩm văn bản - Người đọc - Đời sống xã hội. Theo đó, tác phẩm thơ không phải là cấu trúc đóng kín mà luôn mang kết cấu vẫy gọi với nhiều khoảng trống thẩm mỹ cần người đọc lấp đầy bằng vốn sống và năng lực liên tưởng. Đồng thời, lý thuyết tâm lý học phân định rõ 2 cấp độ tưởng tượng: tưởng tượng tái tạo (xây dựng lại hình tượng khách quan dựa trên ngôn từ) và tưởng tượng sáng tạo (nhào nặn, liên kết biểu tượng cũ thành biểu tượng nghệ thuật mới, độc đáo).

Hệ thống khái niệm công cụ của nghiên cứu bao gồm 5 thuật ngữ cốt lõi:

  • Năng lực tưởng tượng trong tiếp nhận văn học: Khả năng biến các ký hiệu ngôn ngữ trừu tượng thành hình ảnh sống động trong tâm trí.
  • Hình tượng thơ trữ tình: Khách thể thẩm mỹ kết tinh cảm xúc, tâm trạng và thế giới quan của thi nhân.
  • Mã nghệ thuật: Hệ thống quy ước biểu đạt bằng hình ảnh, âm thanh, nhịp điệu mà người đọc cần giải mã.
  • Cái tôi trữ tình: Chủ thể phát ngôn trực tiếp bày tỏ cảm xúc trong tác phẩm Thơ mới giai đoạn 1932-1945.
  • Khoảng trắng thẩm mỹ: Những điểm chưa xác định trong văn bản đòi hỏi sự tham gia đồng sáng tạo của học sinh.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu sơ cấp thu thập từ 300 phiếu khảo sát học sinh khối 11 và 15 phiếu khảo sát chuyên sâu dành cho giáo viên thuộc tổ bộ môn Ngữ văn tại các trường trung học phổ thông. Mẫu khảo sát được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên, đảm bảo đại diện cho nhiều trình độ tiếp thu khác nhau. Lý do lựa chọn phương pháp này nhằm thu thập bức tranh toàn diện, khách quan về cả thói quen giảng dạy của giáo viên lẫn khó khăn trong tư duy tiếp nhận của học sinh.

Quy trình phân tích kết hợp phương pháp định lượng (thống kê mô tả tỷ lệ phần trăm, lập bảng so sánh tần số điểm số) và phương pháp định tính (phân tích lỗi tư duy trong 300 bài viết văn nghị luận của học sinh, quan sát tiến trình giờ dạy thực nghiệm). Phương pháp thực nghiệm sư phạm được tiến hành với 2 nhóm lớp thực nghiệm và đối chứng có trình độ tương đương, tuân thủ đúng tiến trình từ tháng 9 năm 2013 đến năm 2014.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực tiễn mang lại 4 phát hiện then chốt về thực trạng dạy và học thơ trữ tình:

Thứ nhất, 100% giáo viên tham gia khảo sát nhận thức rõ việc khám phá tác phẩm phải đi từ hình thức đến nội dung và sử dụng câu hỏi khơi gợi. Tuy nhiên, chỉ có 46,67% giáo viên thực sự quan tâm thường xuyên đến việc rèn luyện năng lực tưởng tượng trong từng giáo án; 53,33% còn lại chỉ thực hiện ngẫu hứng hoặc bỏ qua do áp lực truyền thụ kiến thức thi cử.

Thứ hai, đánh giá của giáo viên về năng lực tưởng tượng của học sinh bộc lộ sự thiếu hụt nghiêm trọng: 0% học sinh đạt mức tốt, 60% ở mức trung bình và có tới 40% bị đánh giá ở mức yếu kém. Học sinh thường lúng túng khi chuyển hóa từ ngữ thi ca thành hình ảnh thị giác hay xúc cảm nội tâm.

Thứ ba, phân tích 300 bài viết của học sinh chỉ ra trên 70% bài làm rơi vào tình trạng diễn xuôi thơ, ghi nhớ máy móc lời giảng của giáo viên mà không có rung động cá nhân. Nhiều học sinh đồng nhất tuyệt đối hoàn cảnh tác giả với nhân vật trữ tình, dẫn đến cách hiểu cơ học, sai lệch mã nghệ thuật.

Thứ tư, kết quả can thiệp thực nghiệm với 2 tác phẩm Tràng giang và Đây thôn Vĩ Dạ chứng minh tính vượt trội của các biện pháp mới: Tỷ lệ học sinh đạt điểm giỏi (từ 8,0 đến 10 điểm) ở lớp thực nghiệm đạt 24,5%, cao hơn 18,2% so với lớp đối chứng (chỉ đạt 6,3%). Tỷ lệ điểm dưới trung bình ở lớp thực nghiệm giảm xuống còn 3,2% so với 16,8% ở lớp đối chứng.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân của thực trạng trên bắt nguồn từ việc giáo viên còn thói quen giảng giải một chiều, đọc cho học sinh chép và áp đặt định kiến thẩm mỹ. Khi học sinh bộc lộ các liên tưởng mới lạ, nhiều thầy cô vội vã cắt ngang hoặc phê phán là suy diễn lan man, làm triệt tiêu động lực tư duy sáng tạo của các em.

Dữ liệu thực nghiệm khi được biểu diễn trực quan qua bảng đối sánh điểm số và biểu đồ cột thể hiện rõ bước nhảy vọt về 5 chỉ số năng lực: tri giác ngôn từ, liên tưởng không gian, dự đoán cảm xúc, lập sơ đồ hình tượng và tái hiện nghệ thuật. Học sinh lớp thực nghiệm không chỉ biết phân tích hình ảnh củi một cành khô trong Tràng giang hay thuyền chở trăng trong Đây thôn Vĩ Dạ dưới góc độ ngôn từ mà còn hình dung trọn vẹn bức tranh tâm trạng cô đơn, khát khao giao cảm của tác giả. Kết quả này hoàn toàn nhất quán với các nghiên cứu lý luận của GS. Phan Trọng Luận và TS. Nguyễn Trọng Hoàn, khẳng định việc kích hoạt trí tưởng tượng là chìa khóa then chốt để chuyển hóa văn bản trong sách giáo khoa thành tác phẩm sống động trong tâm trí người học.

Đề xuất và khuyến nghị

Để phát huy tối đa năng lực tưởng tượng cho học sinh, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp sư phạm đồng bộ:

  • Triển khai kỹ thuật đọc sáng tạo đa giác quan: Giáo viên tổ chức cho 100% học sinh tham gia đọc diễn cảm, đọc phân vai hoặc đọc thầm tái hiện ít nhất từ 2 đến 3 lần trong mỗi tiết dạy. Mục tiêu là giúp học sinh nắm bắt 100% nhịp điệu, ngữ điệu và nhạc tính của bài thơ trong 15 phút đầu giờ, tạo tiền đề cảm xúc vững chắc trước khi giải mã chi tiết.
  • Xây dựng hệ thống câu hỏi gợi mở đa tầng bậc: Tổ chuyên môn biên soạn ngân hàng câu hỏi khơi gợi liên tưởng và giả định tình huống nghệ thuật. Giáo viên áp dụng linh hoạt trong toàn bộ 100% các tiết đọc - hiểu thơ lớp 11, kích thích học sinh huy động vốn sống để tái hiện không gian và tâm trạng nhân vật trữ tình.
  • Vận dụng lời bình ngắn truyền cảm: Giáo viên thực hiện rèn luyện giọng điệu, chọn lọc ngôn từ hàm súc để đưa ra các lời bình chốt ý dưới 2 phút cho mỗi hình tượng trọng tâm. Mục tiêu định hướng cho 90% học sinh giải mã chính xác chiều sâu biểu cảm mà không áp đặt tư duy.
  • Thiết kế bài tập sáng tạo chuyển thể: Ban giám hiệu và tổ bộ môn Ngữ văn tổ chức định kỳ 2 tuần một lần các hoạt động vẽ tranh minh họa, lập sơ đồ tư duy hình tượng hoặc viết đoạn văn cảm nhận tự do cho học sinh khối 11 trong suốt năm học, nâng cao 25% kỹ năng biểu đạt ngôn ngữ nghệ thuật.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị thiết thực cho 4 nhóm đối tượng:

  • Giáo viên Ngữ văn trung học phổ thông: Tiếp cận hệ thống 2 giáo án thực nghiệm mẫu chuẩn mực của bài thơ Tràng giang và Đây thôn Vĩ Dạ. Giáo viên có thể sử dụng ngay trong các tiết thao giảng, đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực người học.
  • Sinh viên chuyên ngành Sư phạm Ngữ văn: Nắm vững khung lý thuyết tiếp nhận văn học và quy trình 4 bước tổ chức giờ đọc - hiểu tác phẩm trữ tình. Nguồn tài liệu này phục vụ trực tiếp cho các học phần phương pháp dạy học và kỳ thực tập sư phạm tại trường phổ thông.
  • Cán bộ quản lý và chuyên viên phụ trách môn Văn tại các Sở Giáo dục: Có thêm căn cứ khoa học và số liệu thực chứng từ 300 mẫu khảo sát để xây dựng các chuyên đề bồi dưỡng giáo viên, định hướng đổi mới kiểm tra, đánh giá môn Ngữ văn theo hướng mở.
  • Học viên cao học và nghiên cứu sinh ngành Lý luận và Phương pháp dạy học Văn: Kế thừa mô hình đánh giá 5 chỉ số năng lực tưởng tượng để mở rộng nghiên cứu sang các thể loại văn học khác như truyện ngắn, ký, kịch hoặc các khối lớp khác trong chương trình giáo dục phổ thông.

Câu hỏi thường gặp

Năng lực tưởng tượng trong tiếp nhận thơ trữ tình có dẫn đến việc suy diễn tùy tiện thoát ly văn bản không? Không. Tưởng tượng trong học văn luôn dựa trên nguyên tắc đi từ hình thức đến nội dung. Học sinh phải bám sát câu chữ, hình ảnh, nhịp điệu của văn bản làm điểm tựa trước khi mở rộng trường liên tưởng. Khảo sát 15 giáo viên cho thấy 100% đều yêu cầu bám sát tín hiệu nghệ thuật để kiểm soát giới hạn cảm thụ.

Tại sao giáo viên cần cho học sinh đọc văn bản ít nhất từ 2 đến 3 lần trước khi phân tích? Đọc sáng tạo là bước khởi đầu của quá trình tri giác ngôn từ. Thơ mới 1932-1945 rất giàu nhạc tính và sự giao thoa giác quan. Việc đọc 2 đến 3 lần giúp học sinh thẩm thấu âm điệu, gợi mở biểu tượng tâm lý trong tâm trí, từ đó nâng cao 30% hiệu quả giải mã hình tượng ở các bước tiếp theo.

Làm thế nào để giáo viên xử lý khi học sinh đưa ra những liên tưởng khác lạ so với giáo án? Giáo viên cần tôn trọng tính chủ thể trong cảm thụ của học sinh, lắng nghe các em giải thích căn cứ liên tưởng thay vì vội vàng bác bỏ. Thầy cô đóng vai trò người định hướng, dùng lời bình ngắn để uốn nắn những phát hiện lệch hướng và khích lệ các phát hiện độc đáo, hợp lý.

Hiệu quả cụ thể của phương pháp đọc - hiểu sáng tạo thể hiện qua bài thơ Tràng giang như thế nào? Phương pháp giúp học sinh không chỉ nhìn thấy cảnh sông nước mênh mông mà còn hình dung được không gian 3 chiều sâu chót vót, cảm nhận nỗi sầu nhân thế và tình yêu quê hương thầm kín. Tỷ lệ học sinh lớp thực nghiệm hiểu sâu ý nghĩa biểu tượng cành củi khô đạt trên 85%.

Mô hình rèn luyện năng lực tưởng tượng này có thể áp dụng cho các thể loại khác ngoài thơ trữ tình không? Hoàn toàn có thể áp dụng. Cơ chế liên tưởng và tái tạo biểu tượng là quy luật chung của tư duy nghệ thuật. Giáo viên có thể chuyển hóa các kỹ thuật đặt câu hỏi, lập sơ đồ và lời bình ngắn sang giảng dạy truyện ngắn, tiểu thuyết hoặc ký trung học phổ thông rất hiệu quả.

Kết luận

  • Khẳng định vai trò then chốt của năng lực tưởng tượng như một cầu nối thẩm mỹ biến văn bản ngôn từ thành thế giới hình tượng sống động trong tâm trí học sinh.
  • Xác lập hệ thống 5 năng lực thành phần cần rèn luyện: năng lực giác quan, tri giác ngôn ngữ, liên tưởng phát hiện, suy đoán giả định và biểu đạt hình tượng.
  • Đề xuất quy trình 4 biện pháp sư phạm đồng bộ bao gồm đọc sáng tạo, hệ thống câu hỏi mở, lời bình ngắn truyền cảm và bài tập chuyển thể nghệ thuật.
  • Cung cấp minh chứng thực nghiệm vững chắc trên 300 học sinh, nâng tỷ lệ bài viết đạt loại khá giỏi lên 24,5% và giảm thiểu tối đa tình trạng diễn xuôi tác phẩm.
  • Đóng góp bộ giáo án thực nghiệm mẫu cho hai thi phẩm kinh điển của phong trào Thơ mới, sẵn sàng chuyển giao cho các trường phổ thông ứng dụng.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là đã cụ thể hóa các lý thuyết tiếp nhận văn học trừu tượng thành hệ thống thao tác sư phạm rõ ràng, dễ áp dụng. Kế hoạch tiếp theo trong 6 đến 12 tháng tới là tiếp tục nhân rộng mô hình thực nghiệm sang toàn bộ chương trình Ngữ văn cấp trung học phổ thông. Quý thầy cô và các nhà nghiên cứu hãy áp dụng ngay các biện pháp sư phạm này vào thực tiễn giảng dạy để cùng kiến tạo những giờ học Văn giàu cảm xúc, khơi dậy tiềm năng sáng tạo vô hạn của học sinh.