Tổng quan luận án
Công trình Quá trình thực hiện xã hội hóa giáo dục phổ thông ở Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 1986 đến năm 2010 là luận án tiến sĩ lịch sử thuộc chuyên ngành Lịch sử Việt Nam cận đại và hiện đại (mã số: 62 22 54 05), do nghiên cứu sinh Nguyễn Gia Kiệm thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh năm 2014, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Hà Minh Hồng và TS. Huỳnh Công Minh.
Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ vai trò của giáo dục đối với sự phát triển xã hội và thực tiễn khủng hoảng của ngành giáo dục Việt Nam trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp trước năm 1986. Khi ngân sách nhà nước hạn hẹp, ngành giáo dục rơi vào tình trạng thiếu thốn cơ sở vật chất, đời sống giáo viên gặp nhiều khó khăn, tỷ lệ học sinh lưu ban và bỏ học tăng cao. Từ năm 1980, phương châm "nhà nước và nhân dân cùng làm" đã bước đầu được vận động nhưng chỉ mang tính chất tình thế. Bước vào thời kỳ đổi mới, Thành phố Hồ Chí Minh – đô thị chiếm 8,34% dân số và 0,6% diện tích cả nước, giữ vị trí đầu tàu kinh tế – đã chủ động, linh hoạt tìm kiếm các giải pháp huy động nguồn lực toàn xã hội để duy trì và phát triển mạng lưới trường lớp. Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định là: dù đã có các công trình nghiên cứu về xã hội hóa giáo dục ở tầm vĩ mô hoặc các báo cáo tổng kết riêng lẻ của từng ban ngành, địa phương, nhưng cho đến thời điểm năm 2014 vẫn chưa có công trình nào phục dựng có hệ thống, toàn diện toàn bộ tiến trình thực hiện xã hội hóa giáo dục ở bậc học phổ thông tại Thành phố Hồ Chí Minh trong suốt 25 năm đổi mới (1986-2010) dưới góc độ khoa học lịch sử.
Mục đích nghiên cứu của luận án được xác định gồm các nội dung cụ thể:
- Phục dựng bức tranh phát triển giáo dục ở Thành phố Hồ Chí Minh trong 25 năm đổi mới (1986-2010), làm rõ tính chất xã hội hóa đã hiện diện trong hoạt động giáo dục của thành phố từ trước khi có chủ trương chính thức, cũng như vai trò đi đầu của địa phương trong việc vận dụng sáng tạo chủ trương này ở khu vực phía Nam.
- Đúc kết những bài học kinh nghiệm thực tiễn từ quá trình triển khai xã hội hóa giáo dục phổ thông tại địa bàn.
- Đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm tiếp tục đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục, phục vụ sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là hoạt động giáo dục theo chủ trương xã hội hóa, bao gồm sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ, chính quyền, ngành giáo dục Thành phố Hồ Chí Minh và sự tham gia hưởng ứng của các lực lượng xã hội qua các hoạt động đóng góp cụ thể. Phạm vi nghiên cứu giới hạn ở bậc học phổ thông trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh (theo địa giới hành chính tính đến năm 2010 gồm 19 quận nội thành và 5 huyện ngoại thành). Khung thời gian nghiên cứu từ năm 1986 đến năm 2010, được chia thành hai giai đoạn: giai đoạn 1986-1996 (buổi đầu đổi mới với các thể nghiệm mang tính xã hội hóa theo phương châm nhà nước và nhân dân cùng làm) và giai đoạn 1997-2010 (thời kỳ đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục sau khi có Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII và Nghị quyết 90/CP của Chính phủ).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Trong phần tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề, tác giả đã hệ thống hóa các công trình khoa học trong và ngoài nước thành ba nhóm tiếp cận:
Nhóm nghiên cứu thực tiễn giáo dục tại Thành phố Hồ Chí Minh:
- Đề tài Khảo sát thực trạng giáo dục ngoại thành Thành phố Hồ Chí Minh và những giải pháp cần thiết để phát triển, nâng cao một bước chất lượng giáo dục (1994) do Chu Duy Cán chủ nhiệm, khảo sát 6 huyện ngoại thành nhằm đề xuất huy động nguồn lực xã hội hóa hỗ trợ giáo dục vùng ven, nhưng chưa bao quát toàn bộ địa bàn thành phố.
- Đề tài Đánh giá thực trạng các loại hình trường và đề xuất phương án đa dạng hóa (1994) do Hồ Thiệu Hùng chủ nhiệm, đề xuất mở rộng hệ B trong trường công lập và trường bán công, chưa khảo sát loại hình dân lập, tư thục.
- Đề tài Phát triển giáo dục phổ thông Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2010 và những chỉ tiêu thực hiện 5 năm 2001-2005 (2002) của Sở Giáo dục và Đào tạo Thành phố Hồ Chí Minh do Trương Song Đức chủ nhiệm, nhấn mạnh việc đa dạng hóa nguồn vốn đầu tư.
- Công trình Đa dạng hóa các hình thức học tập không chính quy để nâng cao trình độ học vấn cho người lớn góp phần xây dựng xã hội học tập ở Thành phố Hồ Chí Minh (2005) do Nguyễn Văn Cương chủ nhiệm, tập trung vào đối tượng học viên lớn tuổi.
- Đề tài Xây dựng và thực hiện thí điểm mô hình mở rộng trường học thành trung tâm học tập cộng đồng (2006) của Huỳnh Công Minh và Đỗ Huy Thịnh, đề xuất tận dụng cơ sở vật chất sẵn có của trường chính quy và huy động sức dân cho trung tâm học tập cộng đồng.
- Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Mạnh Thắng (2007) về quản lý nhà nước đối với xã hội hóa giáo dục mầm non tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đề tài Hệ thống giáo dục ngoài công lập ở Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và xu hướng phát triển (2009) do Dương Kiều Linh chủ nhiệm, cung cấp số liệu thực trạng trường ngoài công lập, chưa đi sâu vào hệ thống trường công lập.
- Bài báo Xã hội hóa giáo dục - Thuật ngữ cũ mà vẫn mới (2009) của Hồ Thiệu Hùng, phân tích 9 hình thức xã hội hóa theo Nghị quyết 90-CP.
- Đề tài Xây dựng mô hình xã hội học tập ở Thành phố Hồ Chí Minh thời hội nhập (2007-2010) của Hội Khuyến học Thành phố Hồ Chí Minh.
- Tác phẩm Giáo dục và Đào tạo Thành phố Hồ Chí Minh hội nhập các nền Giáo dục tiên tiến (2010) của Huỳnh Công Minh, đề cập quyền tự chủ cơ sở và đổi mới phương pháp dạy học.
Nhóm công trình lý luận và nghiên cứu trên phạm vi cả nước:
- Tác phẩm Xã hội hóa công tác giáo dục (1997) của Phạm Minh Hạc, định hình nội hàm lý luận của khái niệm xã hội hóa giáo dục tại Việt Nam.
- Đề tài Xã hội hóa giáo dục (2001) của Viện Khoa học Giáo dục do Võ Tấn Quang chủ biên, đối sánh quan niệm xã hội hóa giáo dục ở nhiều quốc gia.
- Công trình Giải pháp phát triển Giáo dục (2006) của Hồ Ngọc Đại, nhấn mạnh mối quan hệ hợp tác giữa học sinh, thầy giáo và cha mẹ học sinh.
- Luận án tiến sĩ của Bùi Tiến Hanh (2007) về hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính nhằm thúc đẩy xã hội hóa giáo dục ở Việt Nam.
- Bộ sách Giáo dục Việt Nam 1945-2010 (2 tập, 2010) do Phạm Tất Dong chủ biên, điểm lại các điển hình phối hợp giữa xã hội và nhà nước trên cả nước.
- Kỷ yếu hội thảo Đổi mới quản lý và nâng cao chất lượng Giáo dục - Đào tạo các tỉnh phía Nam (2010) với các tham luận về hội khuyến học của Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo Tây Ninh, về xây dựng trường học thân thiện của Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo Đồng Nai, và tham luận của Vũ Đình Chiến về huy động nguồn lực xã hội.
- Bài viết Xã hội hóa giáo dục thời lập quốc (2011) của Bá Mạnh, phân tích bài học dựa vào sức dân trong phong trào xóa nạn mù chữ giai đoạn 1945-1946.
Nhóm nghiên cứu quốc tế:
- Báo cáo The Role of the Private School Sector in Education in Viêt Nam (1998) của Paul Glewwe Harry và Anthony Patrinos (Ngân hàng Thế giới), khảo sát thu nhập hộ gia đình và đề xuất chính sách phiếu học bổng (voucher) cho học sinh trường tư thục.
- Công trình Socialization of Education in Việt Nam - Lessons from International Experience (2000) của Yeow Poon, tiếp cận xã hội hóa giáo dục dưới mô hình đối tác công - tư (PPP) với 3 hình thức: PPP từ thiện, PPP hợp đồng và PPP thực thể.
- Nghiên cứu Giáo dục Việt Nam - Nguồn gốc lịch sử, xu hướng phát triển gần đây (2007) của Nguyễn Kim Dung, nêu 3 vấn đề lớn về cung cầu giáo dục, chính sách thiếu ổn định và chất lượng đào tạo.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Kế thừa các kết quả nghiên cứu trên, tác giả tập trung lấp đầy khoảng trống về một công trình lịch sử chuyên biệt, khảo sát toàn diện quá trình thực hiện xã hội hóa giáo dục phổ thông tại Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 1986 đến năm 2010, phân tích đồng bộ từ chủ trương lãnh đạo, các thể nghiệm mô hình trường lớp, hoạt động đóng góp của nhân dân cho đến các chuyển biến về chất lượng giáo dục và cơ chế quản lý.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Về cơ sở lý thuyết, luận án tiếp cận các khái niệm nền tảng:
- Giáo dục và các hình thức giáo dục: Tiếp cận định nghĩa từ Từ điển Bách khoa, xác định giáo dục là hoạt động hình thành nhân cách và năng lực người học thông qua 3 phương thức lịch sử (kèm cặp trực tiếp, tuyên truyền cộng đồng, trường lớp tập trung) và phương thức giáo dục từ xa dựa trên công nghệ thông tin.
- Khái niệm xã hội hóa: Điểm lại quan niệm của Emile Durkheim (1902-1903) tại Đại học Sorbonne xem giáo dục là phương pháp xã hội hóa (socialisation méthodique); quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin về sự chuyển hóa từ tính chất cá nhân thành tính chất xã hội; quan niệm trong Từ điển Từ và Ngữ Việt Nam; cách tiếp cận của Võ Tấn Quang xem xã hội hóa là quá trình học tập suốt đời; định nghĩa trong Nghị quyết 90-CP (1997) xác định xã hội hóa là xây dựng cộng đồng trách nhiệm của các tầng lớp nhân dân đối với môi trường giáo dục.
- Khái niệm xã hội hóa giáo dục: Dựa trên Từ điển Giáo dục học, Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII (huy động toàn xã hội làm giáo dục), Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội VIII (1996) và Nghị quyết 90-CP (1997). Tác giả tổng hợp quan điểm cốt lõi của xã hội hóa giáo dục là "All for Education, Education for All" (toàn xã hội làm giáo dục, giáo dục phục vụ mọi người), kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và xã hội.
- Khảo cứu kinh nghiệm quốc tế: Luận án phân tích chính sách giáo dục của 6 quốc gia: Trung Quốc (Luật Giáo dục bắt buộc 9 năm 1986, Luật khuyến khích giáo dục tư thục 2003, chính sách "hai miễn, một trợ cấp" và "Tân cơ chế"); Singapore (4 giai đoạn phát triển: vì sự sinh tồn, hiệu quả, năng lực, đổi mới); Nhật Bản (vai trò công lập giữ vai trò chính, khối tư thục chiếm 80,8% mầm non và 29,4% trung học phổ thông, chi tiêu công 3,3% GDP); Phần Lan (đứng đầu khảo sát PISA 2006, 60% cơ sở do địa phương quản lý, trường tư được cấp ngân sách như trường công nhưng bị cấm thu học phí, trao quyền tự chủ tuyệt đối cho giáo viên); Hoa Kỳ (quản lý phân cấp phi tập trung, 85% học sinh học trường công miễn phí, trường tư hoàn toàn tự chủ chương trình); Hàn Quốc (chi cho giáo dục đạt 7,6% GDP, chi tiêu gia đình cho các trung tâm luyện thi Hagwons và gia sư chiếm 22% thu nhập).
Về phương pháp nghiên cứu, luận án sử dụng hai phương pháp chủ đạo của khoa học lịch sử:
- Phương pháp lịch sử: Phục dựng quá trình vận động cụ thể của giáo dục phổ thông Thành phố Hồ Chí Minh theo trình tự thời gian và bối cảnh kinh tế - xã hội qua các mốc lịch sử.
- Phương pháp logic: Phân tích bản chất, các mối liên hệ nhân quả, quy luật vận động nội tại giữa nhu cầu xã hội, chủ trương chính sách và hiệu quả triển khai thực tế.
Bên cạnh đó, tác giả sử dụng các phương pháp bổ trợ: phương pháp phân tích tài liệu văn bản; xử lý số liệu thống kê xã hội học; phương pháp phỏng vấn sâu các nhà khoa học, nhà quản lý giáo dục các cấp tại Thành phố Hồ Chí Minh; và phương pháp so sánh lịch sử giữa hai giai đoạn 1986-1996 và 1997-2010.
Nguồn tư liệu nghiên cứu gồm:
- Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc (từ khóa VI đến khóa XI), các Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương (Trung ương 6 khóa VI, Trung ương 4 khóa VII, Trung ương 2 khóa VIII) và Văn kiện Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh.
- Văn bản quy phạm pháp luật và quyết định quản lý của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Bộ Giáo dục và Đào tạo.
- Báo cáo tổng kết công tác năm học từ 1986 đến 2011 của Sở Giáo dục và Đào tạo Thành phố Hồ Chí Minh, số liệu thống kê của Cục Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh.
- Dữ liệu phỏng vấn thực tế cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên và các báo cáo tổng kết của Hội Khuyến học thành phố.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan về xã hội hóa giáo dục và sự phát triển của giáo dục ở Thành phố Hồ Chí Minh trước thời kỳ đổi mới
Chương này trình bày cơ sở lý luận về xã hội hóa giáo dục, kinh nghiệm quốc tế và lịch sử giáo dục tại vùng đất Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh từ khởi thủy đến năm 1985. Về điều kiện tự nhiên - xã hội, tác giả nêu rõ thành phố có diện tích 2.095,5 km², dân số tăng từ 3.120.000 người (năm 1975) lên 7.864.000 người (năm 2010), chiếm 0,63% diện tích và 8,34% dân số cả nước, đóng góp 20,2% tổng sản phẩm quốc nội, 27,9% giá trị sản xuất công nghiệp và 34,9% dự án đầu tư nước ngoài.
Trước năm 1975, giáo dục Sài Gòn - Gia Định trải qua các thời kỳ: thời phong kiến (năm 1805 đặt chức Đốc học Gia Định, năm 1853 lập Học điền nuôi thầy dạy chữ); thời Pháp thuộc (lập Trường Collège d'Adran năm 1861, Collège des Interprètes năm 1864, Chasseloup Laubat năm 1874, Collège Mỹ Tho năm 1879; lập Sở Học chánh Nam Kỳ ngày 17/3/1879).
| Địa hạt |
Số tổng |
Số làng |
Học chữ quốc ngữ: Số trường |
Học chữ quốc ngữ: Số học sinh |
Học chữ Hán: Số trường |
Học chữ Hán: Số học sinh |
| Chợ Lớn |
12 |
207 |
13 |
400 |
47 |
600 |
| Sài Gòn |
18 |
58 |
76 |
1.828 |
Không |
Không |
Bảng: Số lượng trường (lớp) quốc ngữ và chữ Hán ở Sài Gòn - Gia Định năm 1883 (Nguồn: Hồ Hữu Nhật, tr. 33)
Giai đoạn 1954-1975 tại miền Nam ghi nhận sự hỗ trợ của cơ quan USAID (Mỹ) thông qua phái đoàn Đại học Ohio phát triển 12 trường trung học tổng hợp thí điểm. Hệ thống trường tư thục phát triển áp đảo trường công lập, chiếm tới 70% tổng số học sinh trung học (năm học 1974-1975, Sài Gòn - Gia Định có 263 trường trung học tư thục).
| Năm học |
Số lượng trường |
| 1957-1958 |
10 |
| 1967-1968 |
15 |
| 1969-1970 |
44 |
| 1970-1971 |
68 |
| 1973-1974 |
89 |
Bảng: Số trường Trung học công lập tại Sài Gòn qua các năm (Nguồn: Hồ Hữu Nhật, tr. 35)
Giai đoạn 10 năm sau ngày giải phóng (1975-1985), thực hiện Chỉ thị 221/CT-TW ngày 17/6/1975 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, thành phố thực hiện công lập hóa 1.514 trường tư thục với 382.492 học sinh; hoàn thành xóa mù chữ cho 95.392 người vào ngày 31/3/1977; xây dựng hệ thống bổ túc văn hóa (Trường Phổ thông Lao động, Trường Bổ túc văn hóa Công nông, 4 trường Dân chính cấp trung học phổ thông, 19 trường Dân chính cấp tiểu học và trung học cơ sở); mạng lưới nhà trẻ đến năm 1985 đạt 564 cơ sở chăm sóc 31.089 trẻ.
Tuy nhiên, trong cơ chế bao cấp hoàn toàn bằng ngân sách (ngân sách giáo dục chỉ chiếm 3,5% - 3,7% tổng chi ngân sách nhà nước, trong đó 80% dành trả lương), hệ thống giáo dục rơi vào khủng hoảng: lạm phát năm 1986 lên tới 774,7%, cơ sở vật chất xuống cấp nghiêm trọng, khu vực nội thành và vùng ven tồn tại khoảng 800 lớp phải học ca 3 và ca 4. Tỷ lệ học sinh lưu ban và bỏ học tăng cao (năm học 1982-1983 tỷ lệ bỏ học chung của thành phố khoảng 19%).
| Năm |
Cấp I (học sinh) |
Cấp II (học sinh) |
Cấp III (học sinh) |
| 1978 |
459.000 |
259.000 |
56.000 |
| 1979 |
480.000 |
225.000 |
54.000 |
| 1980 |
475.000 |
234.000 |
53.000 |
| 1981 |
482.000 |
233.000 |
56.000 |
| 1985 |
501.000 |
236.000 |
62.000 |
Bảng: Quy mô số lượng học sinh phổ thông tại Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 1978-1985 (Đơn vị: Người; Nguồn: Cục Thống kê TP.HCM, tr. 42)
Chương 2: Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện đổi mới phát triển giáo dục phổ thông theo hướng xã hội hóa (1986-1996)
Chương 2 phân tích các bước đi ban đầu và những cuộc thể nghiệm mô hình xã hội hóa trong thập niên đầu đổi mới:
- Giai đoạn 1986-1990: Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh triển khai đường lối đổi mới giáo dục, tổ chức Đại hội Giáo dục các cấp nhằm huy động các ban ngành, đoàn thể và nhân dân cùng tham gia quản trị trường lớp. Ngành giáo dục phối hợp với các tổ chức chính trị - xã hội trong phong trào chống mù chữ, đẩy mạnh phổ cập giáo dục tiểu học và ngăn chặn tình trạng học sinh bỏ học, cải thiện hiệu suất đào tạo.
- Giai đoạn 1990-1996: Thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII về huy động toàn xã hội làm giáo dục, thành phố nhân rộng mô hình Đại hội Giáo dục; vận động các đoàn thể quần chúng tham gia chống lưu ban, bỏ học; tổ chức các phong trào xã hội chăm lo cải thiện đời sống giáo viên. Thành phố tăng cường cơ sở học tập cho trẻ khuyết tật, phát động phong trào nhân dân đóng góp công sức, tiền của xây dựng và sửa chữa trường học; bước đầu hình thành quan hệ hợp tác quốc tế nhằm thu hút nguồn lực tài trợ giáo dục từ bên ngoài.
- Các thể nghiệm đa dạng hóa trường lớp: Luận án ghi nhận Thành phố Hồ Chí Minh là nơi khởi xướng các mô hình tổ chức trường lớp mới, tiêu biểu là việc thí điểm hệ B (hệ đóng học phí) trong các trường công lập và xây dựng mô hình trường bán công nhằm giảm áp lực tuyển sinh công lập và giải quyết bài toán thiếu hụt ngân sách.
Chương 3: Thành phố Hồ Chí Minh đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục phổ thông (1997-2010)
Chương 3 khảo sát giai đoạn phát triển toàn diện của công tác xã hội hóa giáo dục sau khi khung pháp lý được thiết lập:
- Giai đoạn 1997-2000: Triển khai Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII và Nghị quyết 90/CP của Chính phủ. Thành phố đẩy mạnh công tác phổ cập giáo dục trung học cơ sở; khuyến khích phát triển mạng lưới trường ngoài công lập (dân lập, tư thục); chọn năm 1999 là "Năm Giáo dục" để tập trung mọi nguồn lực của toàn thành phố chỉnh trang cơ sở vật chất học đường.
- Giai đoạn 2001-2010: Thực hiện Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010, thành phố ghi nhận phong trào nhân dân hiến đất, góp vốn xây dựng trường lớp diễn ra sôi nổi tại nhiều quận huyện. Mạng lưới trường học được đa dạng hóa mạnh mẽ (chuyển đổi trường bán công, mở rộng trường dân lập, tư thục và các trường có vốn đầu tư nước ngoài). Thành phố đẩy mạnh phổ cập bậc trung học; nhân rộng mô hình Trung tâm Học tập Cộng đồng (TTHTCĐ) tại các phường xã nhằm thúc đẩy công bằng giáo dục; phát triển các chương trình liên kết đào tạo quốc tế và tạo điều kiện cho học sinh du học tự túc.
Chương 4: Nhận định và đánh giá về quá trình thực hiện xã hội hóa giáo dục phổ thông ở Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 1986 đến năm 2010
Chương 4 tổng kết các thành tựu, chỉ ra các hạn chế và đề xuất bài học thực tiễn:
- Các thành tựu đạt được: Thành phố đã giải quyết căn bản tình trạng học ca 3, ca 4, mở rộng quy mô trường lớp đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân; xã hội hình thành ý thức và cộng đồng trách nhiệm đối với sự nghiệp giáo dục; thúc đẩy tiến trình xây dựng xã hội học tập; nâng cao trình độ dân trí và hỗ trợ đào tạo nâng chuẩn cho đội ngũ giáo viên.
- Những vấn đề đang đặt ra: Mức độ huy động sức dân có sự khác biệt giữa các địa bàn; cơ chế quản lý các nguồn lực tài chính đóng góp tự nguyện cần được kiểm soát chặt chẽ; đòi hỏi sự linh hoạt trong đổi mới cơ chế quản trị của các cơ quan quản lý nhà nước địa phương.
- Hạn chế: Công tác xã hội hóa có lúc, có nơi còn bị hiểu đồng nhất với việc đóng góp tiền của, tạo thêm gánh nặng tài chính cho phụ huynh có hoàn cảnh khó khăn; chất lượng đào tạo và điều kiện cơ sở vật chất giữa các loại hình trường ngoài công lập chưa đồng đều; khoảng cách tiếp cận giáo dục chất lượng giữa nội thành và ngoại thành còn tồn tại.
- Bài học kinh nghiệm và kiến nghị: Cần hoàn thiện cơ chế, chính sách hỗ trợ đất đai và thuế cho các trường ngoài công lập; thực hiện công khai, dân chủ trong quản lý tài chính; kết hợp chặt chẽ trách nhiệm giữa nhà trường, gia đình và các tổ chức xã hội.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án xác định các đóng góp khoa học chính về mặt lý luận và thực tiễn:
- Về mặt khoa học và lý luận: Trên cơ sở nguồn tư liệu lịch sử thực chứng, luận án đã phục dựng bức tranh chân thực và toàn diện về tiến trình thực hiện xã hội hóa giáo dục phổ thông tại Thành phố Hồ Chí Minh trong 25 năm đổi mới (1986-2010). Kết quả nghiên cứu cung cấp hệ thống luận cứ thực tế, góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về xã hội hóa giáo dục vốn còn nhiều ý kiến và cách hiểu khác nhau trong xã hội. Luận án làm rõ bước chuyển biến của lịch sử giáo dục Việt Nam nói chung và Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng trong giai đoạn chuyển đổi từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Về mặt thực tiễn và chính sách: Luận án tổng kết có hệ thống thực tiễn sinh động của một trung tâm đô thị lớn, cung cấp cơ sở dữ liệu xác thực cho các cơ quan quản lý giáo dục các cấp tại Thành phố Hồ Chí Minh và các nhà hoạch định chính sách tham khảo để xây dựng các chương trình, kế hoạch phát triển mạng lưới trường lớp trong các giai đoạn tiếp theo.
- Hệ thống kiến nghị, giải pháp: Luận án đề xuất các nhóm giải pháp nhằm hoàn thiện khung thể chế quản lý, đổi mới chính sách giao đất xây dựng trường học, mở rộng quyền tự chủ cho các cơ sở giáo dục, chuẩn hóa công tác quản trị tài chính đối với các nguồn đóng góp xã hội, và hoàn thiện chính sách hỗ trợ tài chính để đảm bảo công bằng tiếp cận giáo dục cho học sinh diện chính sách và các gia đình có hoàn cảnh khó khăn.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, do giới hạn nguồn tư liệu và phạm vi nghiên cứu của một luận án tiến sĩ chuyên ngành lịch sử, công trình chỉ tập trung khảo sát phạm vi bậc học phổ thông trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh trong khung thời gian 1986-2010, chưa đi sâu khảo sát các bậc học khác như mầm non, giáo dục đại học hoặc dạy nghề. Luận án chủ yếu tiếp cận theo phương pháp lịch sử và phương pháp logic dựa trên các báo cáo lưu trữ, chưa thể đi sâu lượng hóa tác động kinh tế học giáo dục hoặc thực hiện các khảo sát đo lường xã hội học trên cỡ mẫu lớn đối với từng nhóm thu nhập dân cư.
Các hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo sát giai đoạn sau năm 2010, nghiên cứu đối sánh quá trình xã hội hóa giáo dục phổ thông giữa Thành phố Hồ Chí Minh với các đô thị đặc biệt khác trong cả nước (như Hà Nội, Đà Nẵng), hoặc nghiên cứu sâu hơn về hiệu quả quản lý tài chính và cơ chế đối tác công - tư (PPP) trong lĩnh vực giáo dục phổ thông.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn đối với các đối tượng cụ thể:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, Lịch sử Đảng và Giáo dục học: Có thể sử dụng công trình như một tài liệu nghiên cứu chuyên đề về lịch sử giáo dục Việt Nam thời kỳ đổi mới.
- Cán bộ quản lý giáo dục và nhà hoạch định chính sách: Tham khảo các kinh nghiệm thực tế về quản lý mạng lưới trường lớp đa dạng hóa (công lập, bán công, dân lập, tư thục), cơ chế phối hợp giữa ngành giáo dục với Hội Khuyến học và các tổ chức đoàn thể.
- Các phần đáng chú ý nhất trong luận án: Phần tổng hợp tư liệu lịch sử giáo dục Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh qua các giai đoạn tại Chương 1; các mô hình thể nghiệm hệ B và bán công trong giai đoạn 1986-1996 tại Chương 2; và hệ thống bảng thống kê số liệu về quy mô trường lớp, học sinh phổ thông được tác giả tập hợp.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án phân chia tiến trình xã hội hóa giáo dục phổ thông tại Thành phố Hồ Chí Minh thành mấy giai đoạn và dựa trên căn cứ nào?
Luận án phân chia tiến trình nghiên cứu thành 2 giai đoạn: Giai đoạn 1986-1996 bắt đầu từ mốc Đại hội Đảng lần thứ VI mở ra thời kỳ đổi mới, trong đó các hoạt động giáo dục mang tính thể nghiệm linh hoạt theo phương châm "nhà nước và nhân dân cùng làm" khi chưa có hệ thống văn bản pháp quy hoàn chỉnh. Giai đoạn 1997-2010 được đánh dấu bởi sự ra đời của Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII (tháng 12/1996) và Nghị quyết 90/CP của Chính phủ (ngày 21/8/1997) chính thức thể chế hóa chủ trương xã hội hóa giáo dục, kéo dài đến năm 2010 là mốc kết thúc Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010.
2. Tình trạng khó khăn của giáo dục phổ thông Thành phố Hồ Chí Minh trước thời kỳ đổi mới (1975-1985) được luận án mô tả bằng những dữ kiện nào?
Luận án chỉ ra rằng sau giải phóng, thành phố tiếp quản và công lập hóa 1.514 trường tư thục, vận hành hoàn toàn dựa vào ngân sách bao cấp (ngân sách giáo dục chỉ chiếm 3,5% - 3,7% tổng chi ngân sách nhà nước, 80% dành trả lương). Trong bối cảnh lạm phát năm 1986 đạt 774,7%, cơ sở vật chất xuống cấp nghiêm trọng, khu vực nội thành và vùng ven tồn tại khoảng 800 lớp phải học ca 3 và ca 4. Tỷ lệ học sinh bỏ học năm học 1982-1983 lên tới khoảng 19%, học sinh lưu ban cấp I năm 1980 là 9,1% và bỏ học là 8%.
3. Khái niệm "xã hội hóa giáo dục" được tác giả luận án xác định theo những căn cứ lý luận nào?
Tác giả dựa vào lý luận của Emile Durkheim (giáo dục là phương pháp xã hội hóa), quan điểm Mác - Lênin về chuyển hóa tính chất cá nhân thành tính chất xã hội, định nghĩa trong Từ điển Giáo dục học, Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII, Báo cáo tại Đại hội Đảng lần thứ VIII và Nghị quyết 90-CP của Chính phủ. Bản chất của xã hội hóa giáo dục được luận án đúc kết qua triết lý "All for Education, Education for All", khẳng định giáo dục là sự nghiệp của toàn xã hội, xây dựng cộng đồng trách nhiệm giữa nhà trường, gia đình và các tổ chức kinh tế - xã hội.
4. Những mô hình trường lớp thể nghiệm nào được Thành phố Hồ Chí Minh triển khai trong giai đoạn 1986-1996?
Trong giai đoạn này, thành phố đã chủ động triển khai các mô hình thể nghiệm đa dạng hóa trường lớp để tự giải cứu khỏi tình trạng quá tải trường công lập, tiêu biểu là mô hình phát triển hệ B (hệ thu học phí để bù đắp chi phí) lồng ghép trong các trường công lập, xây dựng mô hình trường bán công, và từng bước vận động các nguồn lực xã hội để chuẩn bị cho sự ra đời của hệ thống trường dân lập, tư thục.
5. Luận án đã khảo cứu những kinh nghiệm quốc tế nào về xã hội hóa giáo dục để đối sánh với Việt Nam?
Luận án khảo cứu chính sách giáo dục của 6 quốc gia: Trung Quốc (Luật Giáo dục bắt buộc 9 năm 1986, Luật khuyến khích giáo dục tư thục 2003, chính sách "hai miễn, một trợ cấp"); Singapore (4 giai đoạn cải cách giáo dục, đề cao hợp tác phụ huynh - nhà trường); Nhật Bản (công lập đóng vai trò chủ đạo, tư nhân chiếm 80,8% mầm non, chi tiêu công 3,3% GDP); Phần Lan (đứng đầu khảo sát PISA 2006, 60% cơ sở do địa phương quản lý, trường tư được cấp kinh phí như trường công nhưng cấm thu học phí); Hoa Kỳ (quản lý phân cấp phi tập trung, 85% học sinh học trường công miễn phí); Hàn Quốc (chi tiêu giáo dục chiếm 7,6% GDP, hộ gia đình đầu tư trung bình 22% thu nhập cho việc học ngoài giờ của con em).
Kết luận
Luận án tiến sĩ lịch sử của tác giả Nguyễn Gia Kiệm là công trình nghiên cứu hệ thống, phục dựng chân thực tiến trình 25 năm thực hiện xã hội hóa giáo dục phổ thông tại Thành phố Hồ Chí Minh (1986-2010). Dựa trên nguồn tư liệu phong phú và phương pháp lịch sử kết hợp logic, tác giả đã làm rõ tính năng động của thành phố trong việc tìm kiếm các mô hình đa dạng hóa trường lớp, huy động sức dân và hoàn thiện cơ chế quản lý nhằm giải quyết áp lực trường lớp. Công trình không chỉ cung cấp các bài học kinh nghiệm có giá trị thực tiễn cho công tác quản trị giáo dục tại Thành phố Hồ Chí Minh mà còn đóng góp cứ liệu quan trọng cho việc nghiên cứu lịch sử giáo dục Việt Nam trong thời kỳ đổi mới.