mở đầu quá trình xâm lược nước ta. Trước sự chống trả quyết liệt của quân dân ta, làm thất bại kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh của thực dân Pháp, buộc Pháp phải chuyển hướng đánh vào Gia Định. Bốn năm sau (1862), Pháp đã buộc triều đình phong kiến nhà Nguyễn kí hòa ước cắt ba tỉnh miền Đông Nam Kì và một năm sau đó, 3 tỉnh miền Tây Nam Kì cũng rơi vào tay thực dân Pháp. Chiếm được Nam Kì, Pháp nhận ra rằng: Rào cản lớn nhất trong việc thiết lập nền thống trị là sự bất đồng ngôn ngữ.
Chính tên cáo già thực dân Vian đã thừa nhận: “đối với một nước thực dân chướng ngại khó khăn phải khắc phục, đứng trước những dân tộc bị chinh phục là sự khác biệt về ngôn ngữ”. Thứ ngôn ngữ đầu tiên mà chúng quan tâm đến chính là chữ Quốc ngữ. Bởi “Những quan chức, nhà buôn Pháp sẽ học thứ chữ đó một cách dễ dàng và như vậy, việc giao thiệp giữa ta (Pháp) và dân bản xứ sẽ rất thuận lợi. Bởi vậy, sau khi chiếm được Đại đồn Chí Hòa, 9/1861, với sự giúp đỡ của giáo hội công giáo, Đô đốc Charner đã cho thành lập Trường Thông dịch Bá Đa Lộc để dạy tiếng Pháp cho người Việt và dạy tiếng Việt cho Người Pháp.
Người Việt muốn học được trường ày phải qua một kì thi gồm một bài chính tả chữ Latin và chữ Quốc Ngữ, một bài dịch chữ Pháp hoặc Latin ra Quốc ngữ và một bài dịch ngược, điều đó chứng tỏ khi thực dân Pháp xâm chiếm Nam Bộ thì thứ chữ này đã có một dấu ấn rất đặc biệt ở mảnh đất này. 1864, cho xuất bản tờ Gia Định báo do Trương Vĩnh Kí, một trí thức công giáo làm chủ bút. Nhà cầm quyền Pháp ở Nam Kì rất quan tâm đến việc tuyên truyền, phổ biến chữ Quốc ngữ. Điều này tạo cơ hội thuận lợi cho Chữ Quốc ngữ nhanh chóng phổ biến rộng rãi ở Nam Kì.
Câu hỏi đặt ra: việc sử dụng chữ Quốc ngữ thay thế cho chữ Hán như vậy có phải là thực dân Pháp muốn biến chữ Quốc ngữ trở thành quốc tự của nước ta hay không? Để lí giả nghi vấn trên cùng phân tích chính sách giáo dục của thực dân Pháp và ý đồ của chúng đối với chữ Quốc ngữ, nhất là khi chúng hoàn thành quá trình xâm lược toàn bộ nước ta và đặt ách thống trị trên toàn cõi Đông Dương. Sau hàng loạt các hiệp ước bất bình đẳng được kí kết giữa triều đình phong kiến nhà Nguyễn với thực dân Pháp, đến 1884, Việt Nam trở thành 17 c nước thuộc địa nửa phong kiến dưới quyền bảo hộ của thực dân Pháp. Sau khi hoàn thành công cuộc chinh phục bằng quân sự, thực dân pháp bắt tay vào công cuộc chinh phục bằng tư tưởng. Sự nghiệp ấy chính là xây dựng một nền giáo dục nô dịch, thực hiện bằng chính sách ngu dân, mị dân ở nước ta.
Hội nghị thuộc địa ở Pari năm 1906 đã khẳng định: Giáo dục là công cụ chắc chắn và mạnh mẽ nhất trong tay người đi chinh phục”.Nền giáo dục mà chúng ta xây dựng ở Việt Nam chỉ “nhằm đào tạo những công chức hạ đẳng, những giáo viên sơ cấp, những thông ngôn và thư lại để làm việc cho bộ máy thống trị và nhà buôn”. Thực hiện phương châm này, trong thười kì đầu, bên cạnh việc duy trì nền giáo dục cũ với các lớp Hán học là việc mở, khuyến khích các lớp dạy chữ Quốc ngữ của các giáo xứ Bắc và Trung Kì, từ đó đã đưa chữ Quốc ngữ thay thế chữ Hán vào đời sống nhân dân Nam Kì. Đầu thế kỉ XX, để phục vụ cho công cuộc khai thác thuộc địa lần thứ Nhất và tuyên truyền chiêu bài khai hóa văn minh, ngăn chặn luồng tư tưởng mới từ Trung Quốc, Nhật Bản tràn vào Việt Nam, năm 1903, ngay sau khi nhận chức, toàn quyền Paul Beau đã cho thi hành nghị định bắt buộc thi tiếng Pháp và Tiếng Việt trong các kì thi Hương mà toàn quyền Paul Doumer đã kí hồi tháng 6/1898, đồng thời xúc tiến cải cách giáo dục lần thứ nhất. Trong cuộc cải cách này, nhà cầm quyền Pháp đã tổ chức lại hai hệ thống : Trường Pháp - Việt và trường dạy chữ Hán, quy định lại nội dung và chương trình giảng dạy, thi cử, ngôn ngữ sử dụng ở cả hai cấp tiểu học và trung học.
Có thể nói, ý đồ thực chất của cuộc cải cách này là nhằm từng bước xóa bỏ nền giáo dục phong kiến tiến tới Pháp hóa nền giáo dục Việt Nam. Trong đó, ngôn ngữ chính thức được dạy trong các trường học là tiếng Pháp, chữ Quốc ngữ được dạy như một ngoại ngữ và từng bước thay thế dần cho chữ Hán để rồi tiến tới dạy hoàn toàn bằng tiếng Pháp. Vì vậy, số giờ dạy bằng chữ Quốc ngữ từ chỗ đứng hàng thứ ba sau chữ Hán và chữ Pháp dần vươn lên hàng thứ hai chỉ sau tiếng Pháp. Năm 1917, toàn quyền Albert Sarraut lại tiến hành cải cách giáo dục thuộc địa lần thứ hai bằng việc ban hành Bộ học chính Tổng Quy.
Theo bộ học quy này thì giáo dục Việt Nam được chia làm 2 loại: Trường Pháp chuyên dạy cho học sinh người Pháp theo chương trình chính quốc; trường Pháp-Việt 18 c chuyên dạy cho học sinh người Việt theo chương trình bản xứ. Tiếp đó năm 1919, Sarraut lại ra lệnh bãi bỏ các trường học chữ Hán, cấm các trường tư hoạt động (trừ 30 trường tư Thiên Chúa giáo do Cố đạo mở). Như vậy là từ đây, Pháp đã hoàn toàn nắm độc quyền giáo dục Việt Nam. Chúng chia giáo dục Việt Nam thành ba cấp phỏng theo mô hình chính quốc là: tiểu học, trung học, cao đẳng dạy nghề, đại học.
Ngôn ngữ dùng trong các trường thời kì này chủ yếu là tiếng Pháp vì đây là chủ trương bất di bất dịch của nhà cầm quyền Pháp ở Việt Nam. Điều 134 của Bộ học chính Tổng quy đã ghi rõ: “Về nguyên tắc, tất cả các môn học ở bậc tiểu học đều phải dùng chữ Pháp để làm phương tiện giảng dạy”. Song thực tế đã chứng minh là không thể làm như vậy, do đó ngày 23/3/1918 Sarraut đã phải ra thông tư hướng dẫn: tiếng Pháp được bắt đầu dạy từ lớp nhì đệ nhất. Như vậy là từ lớp đồng ấu đến sơ đẳng, học sinh được học toàn bằng tiếng mẹ đẻ, tức là chữ Quốc ngữ.
Trường học quá ít không đáp ứng nhu cầu học tập của một đất nước vốn có truyền thống hiếu học như ở nước ta. Song, ngay từ những trường được lập ra cũng không ra trường, ra lớp phần lớn là những nhà tranh dột nát. Cơ sở vật chất càng nghèo nàn, bệ rạc hơn khi nhà cầm quyền giáo cho làng xã tự tổ chức và quản lí. Đã vậy, đội ngũ giáo viên lại còn thiếu thốn, trình độ hạn chế, phần lớn là người lớp trên dạy cho người lớp dưới, hay những người Pháp già không về quê xin ở lại, không có năng lực, thiếu kiến thức sư phạm.
Hơn nữa, chương trình học lại chắp vá, nặng nề, luật lệ thì cứ chặt chẽ, bởi vậy một số học sinh từ lớp dưới lên lớp trên thường rơi rụng quá phần nửa. Đấy là chưa kể chính sách bàn cùng hóa nhân dân lao động Việt Nam của thực dân Pháp khiến cho họ ăn còn chả đủ, quanh năm đói rách thì làm sao dám nghĩ đến việc học hành của con cái. Nói như vậy không có nghĩa là nền giáo dục Pháp - Việt lại lạc hậu hơn nền giáo dục khoa cử phong kiến, cũng không thể phủ nhận nền giáo dục của Pháp ở Việt Nam - một nền giáo dục đã góp phần đào tạo nên một đội ngũ tri thức Tây học đa dạng với nhiều trình độ khác nhau và trong số ấy, có những người trở thành tri thức lớn góp phần xây dựng nền văn hóa dân tộc, thậm trí có người tham gia tích cực vào cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và xây 19 c dựng đất nước sau này. Thực tế Lịch sử 80 năm kháng chiến chống Pháp đã chứng minh rằng với tinh thần dân tộc và truyền thống hiếu học, mặc dù dùng mọi thủ đoạn nhưng thực dân Pháp vẫn không thể Pháp hóa được tầng lớp tri thức, đồng hóa được dân tộc ta.
Chữ Quốc ngữ vẫn tồn tại và ngày càng phổ biến hơn. Song một cách khách quan mà nói, chính sách giáo dục của Pháp đã tạo cơ hội lớn cho việc phổ biến chữ Quốc ngữ. Sau khi thiết lập nền giáo dục mới ở Nam Kì, chữ Quốc ngữ được đưa vào chương trình giảng dạy cho học sinh nhằm loại bỏ chữ Hán. Chữ Quốc ngữ do các cố đạo tạo ra giờ đây lại được nhà cầm quyền Pháp khuyến khích.
Trong khi đó, người Việt vốn coi những gì của bọn tà đạo (chỉ đạo Thiên Chúa) hoặc của bọn thực dân hay đi đi với quân xâm lược đều đáng ghét, đáng khinh bỉ. Bởi vậy, thời kì đầu của chữ Quốc ngữ chỉ được phổ biến trong các trường học của Pháp như trường thông ngôn, trường Pháp-Việt và các trường dòng, các trường do giáo hội Công giáo tổ chức;còn phần đông người Việt Nam không học vì coi là thứ chữ của Tây, của công giáo vốn xa lạ với truyền thống tổ tiên. Chính những tri thức công giáo là những người đầu tiên nhận ra tính ưu Việt và sự tiện lợi của chữ Quốc ngữ. Họ đã sớm vượt qua sự kì thị thường có của người dân mất nước để cổ vũ cho việc học và dùng chữ Quốc ngữ.
Họ viêt sách, báo nhằm truyền bá, cổ động mọi người học và dùng nó. Tiêu biểu cho những người ấy là Trương Vĩnh Kí và Huỳnh Tịnh Của. Trương Vĩnh Kí không những là chủ bút tờ báo Quốc ngữ đầu tiên (Gia Định Báo- ra đời 1865) mà cũng là người đầu tiên dùng chữ Quốc ngữ để viết sách báo. Ông là tác giả của hành chục đầu sách in bằng chữ Quốc ngữ, trong đó có nhiều sách dạy chữ Quốc ngữ.
Huỳnh Tịnh Của là tác giả bộ Pháp-Việt từ điển nổi tiếng cuối thế kỉ XIX. Tất nhiên, lúc này chữ Quốc ngữ đã tiến bộ và hoàn chỉnh hơn nhiều so với chữ Quốc ngữ hồi thế kỉ XVII nhưng lúc bấy giờ vẫn chưa được gọi là chữ Quốc ngữ. Tuy nhiên có sự tiến bộ và mức phổ biến được rộng rãi hơn nhưng chủ yếu cũng chỉ ở Nam Kì, còn ở Bắc và Trung Kì thì hầu như không mấy người biết đến chữ Quốc ngữ.