Đảng Lãnh Đạo Phát Triển Giáo Dục Phổ Thông Trong Những Năm 1996-2006

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu đảng cộng sản việt nam lãnh đạo phát triển giáo dục phổ thông trong những năm 1996 2006, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện pháp hoàn

Trường đại học

Trường Đại Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2006

129
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Đảng Lãnh Đạo Phát Triển Giáo Dục 1996 2006

Giáo dục và đào tạo đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của mỗi quốc gia. Trong bối cảnh khoa học công nghệ và kinh tế tri thức phát triển mạnh mẽ, yếu tố con người trở thành động lực chính, và giáo dục là điều kiện tiên quyết. Việt Nam, sau 10 năm đổi mới, đã thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội nhưng vẫn còn nhiều thách thức. Đại hội VIII của Đảng (1996) quyết định đưa đất nước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đặc biệt chú trọng phát triển nguồn lực con người, đặt giáo dục ở vị trí quốc sách hàng đầu. Giáo dục phổ thông là bộ phận trọng yếu, cơ bản của nền giáo dục quốc dân, bao gồm tiểu học và trung học (cơ sở và phổ thông). Giáo dục phổ thông là nền tảng văn hóa và phương tiện quan trọng nhất để hình thành nhân cách và trí tuệ.

1.1. Vai trò Giáo Dục Phổ Thông trong Chiến Lược Phát Triển

Giáo dục phổ thông đóng vai trò then chốt trong việc xây dựng nền tảng kiến thức, kỹ năng và nhân cách cho thế hệ trẻ. Đây là giai đoạn mà học sinh tiếp cận với những kiến thức cơ bản nhất, hình thành tư duy logic, khả năng sáng tạo và kỹ năng giao tiếp. Theo tài liệu gốc, đây là quá trình 'có sự gặp nhau hài hòa giữa ba nhân tố: giáo dục phổ thông, tuổi trẻ và triển vọng nghề nghiệp'. Do đó, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đặc biệt đến việc phát triển giáo dục phổ thông, coi đây là yếu tố then chốt để nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

1.2. Mục Tiêu và Nhiệm Vụ Giáo Dục Phổ Thông Giai Đoạn 1996 2006

Mục tiêu chính của giáo dục phổ thông giai đoạn 1996-2006 là 'giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo'. Đồng thời, giáo dục phổ thông còn có nhiệm vụ 'hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân'. Điều này nhấn mạnh đến việc không chỉ trang bị kiến thức mà còn chú trọng giáo dục đạo đức, lối sống, ý thức trách nhiệm công dân cho học sinh. Giáo dục phổ thông là bước chuẩn bị quan trọng để học sinh tiếp tục học lên các cấp cao hơn hoặc tham gia vào thị trường lao động.

II. Thách Thức Giáo Dục Phổ Thông 1996 2006 Vấn Đề Cần Giải

Giáo dục - đào tạo nói chung và giáo dục phổ thông nói riêng đang đối mặt với những tồn tại và vướng mắc chưa được tháo gỡ. Những vấn đề này được coi là một trong những nguyên nhân làm trì trệ sự phát triển của đất nước. Trước yêu cầu đổi mới để phát triển, giáo dục - đào tạo trở thành chủ đề lớn được quan tâm và cũng là nỗi 'nhức nhối' cần giải quyết của toàn Đảng, toàn dân. Thực tế đòi hỏi phải định hình lại giáo dục, phải có một 'cuộc cách mạng trong giáo dục', đổi mới tư duy về giáo dục, cũng như cách làm cho giáo dục thực sự là quốc sách hàng đầu.

2.1. Thực Trạng Giáo Dục Phổ Thông và Những Hạn Chế

Giai đoạn 1996-2006, giáo dục phổ thông tuy đạt được nhiều thành tựu nhưng vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế. Chất lượng giáo dục chưa đồng đều giữa các vùng miền, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa. Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học còn thiếu thốn, lạc hậu. Phương pháp giảng dạy còn nặng về lý thuyết, chưa phát huy được tính chủ động, sáng tạo của học sinh. Tình trạng học thêm, dạy thêm tràn lan gây áp lực lên học sinh và gia đình. Đội ngũ giáo viên còn thiếu về số lượng, yếu về chất lượng, đặc biệt là ở vùng khó khăn.

2.2. Nguyên Nhân của Những Tồn Tại trong Giáo Dục Phổ Thông

Những tồn tại trong giáo dục phổ thông giai đoạn 1996-2006 có nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan. Về khách quan, do điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước còn nhiều khó khăn, nguồn lực đầu tư cho giáo dục còn hạn chế. Về chủ quan, do nhận thức về vai trò của giáo dục chưa đầy đủ, chưa có sự phối hợp đồng bộ giữa các cấp, các ngành. Cơ chế quản lý giáo dục còn nhiều bất cập, chưa tạo được động lực cho sự phát triển. Chính sách đãi ngộ đối với giáo viên chưa thỏa đáng, chưa thu hút được nhân tài.

III. Đổi Mới Giáo Dục Giải Pháp của Đảng 1996 2006 Hiệu Quả

Để giải quyết những thách thức và thúc đẩy sự phát triển của giáo dục phổ thông, Đảng đã đề ra nhiều chủ trương, giải pháp đổi mới. Các giải pháp tập trung vào việc nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, đổi mới chương trình và phương pháp giảng dạy, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, và mở rộng hợp tác quốc tế. Trong đó, việc xác định lại mục tiêu và nội dung giáo dục, đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức dạy học là những yếu tố then chốt. Cần đánh giá tính hiệu quả của các giải pháp này để có những điều chỉnh phù hợp trong giai đoạn tiếp theo.

3.1. Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Giáo Viên Biện Pháp Thực Hiện

Để nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, Đảng và Nhà nước đã thực hiện nhiều biện pháp đồng bộ. Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho giáo viên; thực hiện chuẩn hóa đội ngũ giáo viên theo từng cấp học; có chính sách ưu đãi về lương, thưởng, nhà ở để thu hút giáo viên giỏi về công tác tại các vùng khó khăn; tạo điều kiện để giáo viên tham gia các hoạt động nghiên cứu khoa học, trao đổi kinh nghiệm với đồng nghiệp trong và ngoài nước. Bên cạnh đó, cần tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá chất lượng giáo viên để kịp thời phát hiện và chấn chỉnh những hạn chế.

3.2. Đổi Mới Chương Trình và Phương Pháp Giảng Dạy Nội Dung Cải Cách

Việc đổi mới chương trình và phương pháp giảng dạy là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của ngành giáo dục giai đoạn 1996-2006. Chương trình học được thiết kế theo hướng tích hợp, giảm tải kiến thức, tăng cường thực hành, gắn lý thuyết với thực tiễn. Phương pháp giảng dạy được đổi mới theo hướng phát huy tính chủ động, sáng tạo của học sinh; tăng cường sử dụng các phương tiện dạy học hiện đại; tổ chức các hoạt động ngoại khóa, tham quan, dã ngoại để học sinh có cơ hội trải nghiệm thực tế. Cần đánh giá hiệu quả của việc đổi mới chương trình và phương pháp giảng dạy để có những điều chỉnh phù hợp với từng đối tượng học sinh.

IV. Chính Sách Giáo Dục Tác Động Phát Triển Giai Đoạn 1996 2006

Các chính sách giáo dục của Đảng giai đoạn 1996-2006 đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng và thúc đẩy sự phát triển của giáo dục phổ thông. Các chính sách tập trung vào việc tăng cường đầu tư cho giáo dục, mở rộng quy mô giáo dục, nâng cao chất lượng giáo dục, và đảm bảo công bằng trong giáo dục. Việc thực hiện các chính sách này đã góp phần quan trọng vào việc nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Cần tiếp tục hoàn thiện các chính sách giáo dục để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội.

4.1. Tăng Cường Đầu Tư Cho Giáo Dục Ngân Sách và Nguồn Lực

Đảng và Nhà nước đã có chủ trương tăng cường đầu tư cho giáo dục, coi đây là đầu tư cho phát triển. Ngân sách nhà nước dành cho giáo dục được tăng lên hàng năm, đồng thời khuyến khích các thành phần kinh tế khác tham gia đầu tư vào giáo dục. Nguồn lực đầu tư được sử dụng để xây dựng, nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học; mua sắm sách giáo khoa, tài liệu tham khảo; đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên; và hỗ trợ học sinh nghèo, học sinh có hoàn cảnh khó khăn. Cần có cơ chế quản lý, sử dụng hiệu quả nguồn lực đầu tư cho giáo dục để tránh lãng phí, thất thoát.

4.2. Đảm Bảo Công Bằng Trong Giáo Dục Hỗ Trợ Vùng Khó Khăn

Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến việc đảm bảo công bằng trong giáo dục, đặc biệt là đối với học sinh ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, học sinh có hoàn cảnh khó khăn. Có nhiều chính sách hỗ trợ học sinh nghèo, học sinh khuyết tật được đến trường; xây dựng các trường dân tộc nội trú; cử giáo viên giỏi về công tác tại các vùng khó khăn; và cung cấp sách giáo khoa, đồ dùng học tập miễn phí cho học sinh nghèo. Cần tiếp tục hoàn thiện các chính sách hỗ trợ để đảm bảo mọi trẻ em đều có cơ hội được học tập, phát triển.

V. Kết Quả Giáo Dục Đánh Giá Giai Đoạn 1996 2006 Thành Tựu

Giai đoạn 1996-2006, giáo dục phổ thông đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Quy mô giáo dục được mở rộng, chất lượng giáo dục được nâng cao, đội ngũ giáo viên được củng cố, cơ sở vật chất được cải thiện, và công bằng trong giáo dục được đảm bảo. Những thành tựu này đã góp phần quan trọng vào việc nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề cần giải quyết để giáo dục phổ thông phát triển bền vững.

5.1. Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Toàn Diện Kết Quả Cụ Thể

Chất lượng giáo dục được nâng cao thể hiện ở nhiều mặt. Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp các cấp học tăng lên; kết quả thi cử được cải thiện; số lượng học sinh đạt giải cao trong các kỳ thi học sinh giỏi quốc gia, quốc tế tăng lên; khả năng tư duy, sáng tạo của học sinh được phát huy; và kỹ năng sống của học sinh được nâng cao. Cần có những đánh giá khách quan, toàn diện về chất lượng giáo dục để có những giải pháp phù hợp, hiệu quả.

5.2. Mở Rộng Quy Mô Giáo Dục Phổ Thông Phạm Vi Tiếp Cận

Quy mô giáo dục được mở rộng thể hiện ở số lượng trường lớp, học sinh tăng lên ở tất cả các cấp học. Mạng lưới trường lớp được phủ rộng khắp cả nước, kể cả vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số. Tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi đi học được huy động đến trường ngày càng cao. Cần tiếp tục mở rộng quy mô giáo dục để đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng tăng của người dân.

VI. Bài Học Tương Lai Phát Triển Giáo Dục Phổ Thông Bền Vững

Từ quá trình lãnh đạo phát triển giáo dục phổ thông giai đoạn 1996-2006, có thể rút ra nhiều bài học kinh nghiệm quý báu. Cần tiếp tục quán triệt sâu sắc quan điểm giáo dục là quốc sách hàng đầu, tăng cường đầu tư cho giáo dục, đổi mới chương trình và phương pháp giảng dạy, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, đảm bảo công bằng trong giáo dục, và tăng cường hợp tác quốc tế. Với sự chung sức của toàn Đảng, toàn dân, giáo dục phổ thông sẽ tiếp tục phát triển bền vững, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

6.1. Bài Học Kinh Nghiệm về Lãnh Đạo và Quản Lý Giáo Dục

Để lãnh đạo và quản lý giáo dục hiệu quả, cần có sự thống nhất cao trong nhận thức và hành động của toàn Đảng, toàn dân về vai trò của giáo dục. Cần có cơ chế quản lý giáo dục khoa học, dân chủ, minh bạch, và hiệu quả. Cần phát huy vai trò của các tổ chức xã hội, các nhà khoa học, các nhà giáo dục trong việc xây dựng và thực hiện chính sách giáo dục. Cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá chất lượng giáo dục để kịp thời phát hiện và chấn chỉnh những sai sót.

6.2. Định Hướng Phát Triển Giáo Dục Phổ Thông Trong Tương Lai

Trong tương lai, giáo dục phổ thông cần tiếp tục phát triển theo hướng hiện đại, hội nhập quốc tế. Cần chú trọng giáo dục toàn diện, phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh. Cần đổi mới mạnh mẽ chương trình và phương pháp giảng dạy, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục. Cần xây dựng đội ngũ giáo viên có phẩm chất, năng lực, tâm huyết với nghề. Cần tăng cường hợp tác quốc tế để học hỏi kinh nghiệm của các nước tiên tiến trên thế giới.

28/05/2025
Luận văn thạc sĩ đảng cộng sản việt nam lãnh đạo phát triển giáo dục phổ thông trong những năm 1996 2006

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu chƣơng trình toàn khóa - bàn về giáo dục và đào tạo và khoa học và công nghệ với quyết tâm tìm đƣợc những giải pháp có tính cách mạng huy động đƣợc sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội để đầu tƣ cho giáo dục và khoa học. Hội nghị Trung ƣơng 2 khóa VIII đã làm việc một cách khoa học và tâm huyết, ra một nghị quyết quan trọng và thiết thực cho giáo dục và đào tạo, Nghị quyết số 02-NQ/HNTW “Về định hướng chiến lược phát triển giáo dục (LUAN.2006 - 16 - TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2006 - đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và nhiệm vụ đến năm 2000”, đánh dấu một mốc quan trọng trong sự nghiệp phát triển giáo dục nƣớc nhà. Sự phát triển của giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ sẽ quyết định sự thành bại của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc. Và thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc bằng giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ là tƣ tƣởng của thời đại.

Để định hƣớng đúng chiến lƣợc phát triển giáo dục - đào tạo trong thời kì mới, Hội nghị đã đánh giá thực trạng giáo dục - đào tạo của cả nƣớc, vạch ra nguyên nhân khách quan, chủ quan và nhận định: “Hiện nay sự nghiệp giáo dục - đào tạo đang đứng trƣớc những mâu thuẫn lớn, giữa yêu cầu phải phát triển nhanh quy mô giáo dục - đào tạo vừa phải gấp rút nâng cao chất lƣợng giáo dục - đào tạo, trong khi khả năng và điều kiện đáp ứng yêu cầu còn nhiều hạn chế” [22,tr. Từ đó, Nghị quyết Trung ƣơng 2 khóa VIII đã xác định những tư tưởng chỉ đạo về phát triển giáo dục và đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhƣ sau: Một là, nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của giáo dục - đào tạo, trong đó có giáo dục phổ thông là nhằm xây dựng những con ngƣời và thế hệ thiết tha gắn bó với lý tƣởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cƣờng xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc; giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc, có năng lực tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; phát huy tiềm năng của dân tộc và con ngƣời Việt Nam, có ý thức cộng đồng và phát huy tính tích cực của cá nhân, làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiện đại, có tƣ duy sáng tạo, có kỹ năng thực hành giỏi, có tác phong công nghiệp, có tính tổ chức và kỷ luật; có sức khỏe, là những ngƣời kế thừa xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên” nhƣ lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh.2006 - 17 - TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2006 Nhƣ vậy, nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của giáo dục Việt Nam là nhằm xây dựng những con người và thế hệ phát triển toàn diện. Điều này thống nhất với đƣờng lối xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nƣớc ta, đƣợc khẳng định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1991), trong đó nhấn mạnh một trong những đặc trƣng của xã hội xã hội chủ nghĩa là phải “có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân”. Phát triển toàn diện con ngƣời vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc nói riêng và xây dựng Tổ quốc xã hội chủ nghĩa nói chung.

Hai là, phải thực sự coi giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu. Nhận thức sâu sắc vai trò của giáo dục - đào tạo cùng với khoa học - công nghệ là nhân tố quyết định tăng trƣởng kinh tế và phát triển xã hội, Nghị quyết Trung ƣơng 2 khóa VIII đã khẳng định đầu tƣ cho giáo dục là đầu tƣ cơ bản, quan trọng nhất, “đầu tƣ cho phát triển”, không chỉ về tài chính mà là về mọi mặt. Sự ƣu tiên cho giáo dục phải thể hiện ở các mặt chính sách, đội ngũ cán bộ và công tác quản lý. Thực hiện những ƣu tiên đó thì giáo dục mới đúng là “quốc sách hàng đầu” và quốc sách này mới đƣợc thực hiện thành công.

Ba là, giáo dục - đào tạo là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và toàn dân. Mọi ngƣời phải học thƣờng xuyên, học suốt đời. Mọi ngƣời chăm lo cho giáo dục. Các cấp ủy, chính quyền, các đoàn thể nhân dân, các tổ chức kinh tế - xã hội, gia đình và cá nhân đều có trách nhiệm tích cực góp phần phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo.

Kết hợp giáo dục nhà trƣờng, giáo dục gia đình và giáo dục xã hội, tạo nên một môi trƣờng giáo dục lành mạnh. Bốn là, phát triển giáo dục - đào tạo gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, những tiến bộ khoa học - công nghệ và củng cố quốc phòng, an ninh. Coi trọng cả ba mặt: mở rộng quy mô, nâng cao chất lƣợng và phát huy hiệu quả. Thực hiện giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nghiên cứu khoa học, giáo dục gắn liền với gia đình và xã hội.2006 - 18 - TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2006 Năm là, thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục - đào tạo.

Tạo điều kiện để ai cũng đƣợc học hành. Ngƣời nghèo đƣợc Nhà nƣớc và cộng đồng giúp đỡ để học tập. Đảm bảo điều kiện cho những ngƣời học giỏi phát triển tài năng. Sáu là, giữ vai trò nòng cốt của các trường công lập đi đôi với đa dạng hóa các loại hình giáo dục - đào tạo trên cơ sở Nhà nƣớc thống nhất quản lý, từ nội dung chƣơng trình, quy chế học, thi cử, văn bằng, tiêu chuẩn giáo viên, tạo cơ hội cho mọi ngƣời có thể lựa chọn cách học phù hợp với nhu cầu và hoàn cảnh của mình.

Phát triển các trƣờng bán công, dân lập ở những nơi có điều kiện, từng bƣớc mở các trƣờng tƣ thục ở một số bậc học, trong đó có bậc phổ thông trung học… Với tƣ tƣởng chiến lƣợc phát triển giáo dục - đào tạo trên, đối với giáo dục phổ thông, trong những năm 1996 - 2000 phải đạt đƣợc mục tiêu về nâng cao chất lƣợng toàn diện bậc tiểu học; hoàn thành phổ cập trung học cơ sở vào năm 2010 và trung học phổ thông vào năm 2020; phát triển giáo dục ở vùng dân tộc thiểu số và các vùng khó khăn, phấn đấu giảm chênh lệch về phát triển giữa các vùng, miền. Nâng cao chất lƣợng và bảo đảm đủ số lƣợng giáo viên cho toàn bộ hệ thống giáo dục phổ thông; tiêu chuẩn hóa và hiện đại hóa các điều kiện dạy và học… Cùng với việc xác định định hƣớng chiến lƣợc và nhiệm vụ cơ bản của giáo dục - đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nghị quyết Trung ƣơng 2 khóa VIII nhấn mạnh những việc làm cụ thể của giáo dục - đào tạo, trong đó có giáo dục phổ thông những năm 1996 - 2000 là: “Phát huy những thành tựu đã đạt đƣợc, khắc phục các mặt yếu kém theo hƣớng: chấn chỉnh công tác quản lý, khẩn trƣơng lập lại trật tự, kỷ cƣơng, kiên quyết đẩy lùi tiêu cực; sắp xếp và củng cố hệ thống giáo dục - đào tạo và mạng lƣới trƣờng lớp; nâng cao chất lƣợng và hiệu quả giáo dục phổ thông; phát triển quy mô giáo dục - đào tạo, chuẩn bị tiền đề cho những bước phát triển (LUAN.2006 - 19 - TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2006 mạnh vào đầu thế kỷ XXI” [22, tr. Nhƣ vậy, nhiệm vụ và mục tiêu phát triển giáo dục phổ thông trong những năm 1996 - 2000 đƣợc định hƣớng tập trung vào 10 chữ: “chấn chỉnh”, “sắp xếp”, “củng cố”, “nâng cao”, “phát triển” và thực hiện các mục tiêu cụ thể đến năm 2000 nhƣ sau: - Phổ cập giáo dục bậc tiểu học đƣợc học đủ 9 môn theo chƣơng trình quy định. Thực hiện tốt 5 điều dạy của Bác Hồ.

Phổ cập trung học cơ sở ở các thành phố, đô thị, các vùng kinh tế trọng điểm và những nơi có điều kiện. - Tính chung cả nƣớc có khoảng 60% trẻ em độ tuổi 11-15 học trung học cơ sở. Mở rộng và nâng cao chất lƣợng dạy kỹ thuật tổng hợp, hƣớng nghiệp, ngoại ngữ, tin học ở trƣờng trung học. Nâng cao năng lực tự học và thực hành cho học sinh.

- Thanh toán nạn mù chữ cho những ngƣời trong độ tuổi 15-35, thu hẹp diện mù chữ ở độ tuổi khác, đặc biệt chú ý vùng cao, vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, để tất cả các tỉnh đều đạt chuẩn quốc gia về xóa mù chữ và phổ cập tiểu học trƣớc khi bƣớc vào thế kỷ XXI. - Đối với miền núi, vùng sâu, vùng khó khăn, xóa “điểm trắng” về giáo dục ở bản, ấp. Mở thêm trƣờng dân tộc nội trú và bán trú ở cụm xã, các huyện… Để thực hiện những mục tiêu và nhiệm vụ trên, Nghị quyết Trung ƣơng 2 khóa VIII đã đề ra bốn nhóm giải pháp chủ yếu sau: Thứ nhất, tăng cường các nguồn lực cho giáo dục phổ thông. Đây đƣợc coi là một trong những biện pháp chính tạo điều kiện, cơ sở, nền tảng để phát triển giáo dục phổ thông; thể hiện một phần quan điểm đầu tƣ cho giáo dục là đầu tƣ cho phát triển, đầu tƣ cơ bản, quan trọng nhất.

Đầu tƣ cho giáo dục phổ thông lấy từ nguồn chi thƣờng xuyên và nguồn chi phát triển trong ngân sách nhà nƣớc và ngân sách nhà nƣớc giữ vai trò chủ yếu. Các nguồn thu ngoài ngân sách nhà nƣớc đƣợc huy động tích cực bằng các biện pháp nhƣ: thu học phí; lập quỹ khuyến học; lập quỹ giáo dục quốc gia; phát triển các trƣờng dân (LUAN.2006 - 20 - TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2006 lập ở tất cả các bậc học; sử dụng vốn vay và viện trợ của nƣớc ngoài để xây dựng cơ sở vật chất, trƣờng lớp. Thứ hai, xây dựng đội ngũ giáo viên, tạo động lực cho người dạy, người học. Đây là một trong những biện pháp quan trọng hàng đầu trong việc đảm bảo và nâng cao chất lƣợng giáo dục.

Để xây dựng đội ngũ giáo viên, trƣớc hết cần củng cố và tập trung đầu tƣ nâng cấp các trƣờng sƣ phạm; xây dựng một số trƣờng sƣ phạm trọng điểm; không thu học phí và thực hiện chế độ ƣu đãi đối với học sinh, sinh viên ngành sƣ phạm. Bên cạnh đó, đào tạo giáo viên phải gắn với địa chỉ và có chính sách sử dụng hợp lý để khắc phục nhanh chóng tình trạng thiếu giáo viên.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Đảng Lãnh Đạo Phát Triển Giáo Dục Phổ Thông Giai Đoạn 1996-2006" cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự phát triển của giáo dục phổ thông tại Việt Nam trong giai đoạn này. Tài liệu nêu bật vai trò của Đảng trong việc định hướng và cải cách giáo dục, từ đó giúp nâng cao chất lượng giáo dục và đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin quý giá về các chính sách, chương trình giáo dục và những thách thức mà ngành giáo dục phải đối mặt trong thời kỳ này.

Để mở rộng kiến thức về giáo dục và các ảnh hưởng văn hóa, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn thạc sĩ giáo dục nho học ở quảng nam dưới triều nguyễn 1802 1919, nơi khám phá ảnh hưởng của giáo dục nho học trong lịch sử Việt Nam. Bên cạnh đó, tài liệu Skkn vận dụng dạy học theo định hướng phát triển năng lực người học với chủ đề văn hóa việt nam từ thế kỉ x đến nửa đầu thế kỉ xix sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về phương pháp dạy học hiện đại và sự phát triển năng lực của người học. Cuối cùng, tài liệu Luận văn thạc sĩ ảnh hưởng của nho giáo đến giáo dục đạo đức thời nguyễn sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về ảnh hưởng của tư tưởng nho giáo đối với giáo dục đạo đức trong bối cảnh lịch sử Việt Nam. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về giáo dục và văn hóa Việt Nam qua các thời kỳ.