Chương 1 SỰ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC PHỔ THÔNG Ở TỈNH THANH HểA TRONG NHỮNG NĂM 1996 - 2000 1. ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH THANH HểA VÀ TÌNH HÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG TRƯỚC NĂM 1996 1. Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội Thanh Hoá là tỉnh nằm ở cực Bắc miền Trung, cách Thủ đô Hà Nội 150 km về phía Nam. Phía Bắc giáp với ba tỉnh Sơn La, Hoà Bình và Ninh Bình; phía Nam giáp tỉnh Nghệ An; phía Tây giáp tỉnh Hủa Phăn - nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào với 192 km đường biên giới; phía Đông là Vịnh Bắc Bộ.
Địa hình của Thanh Hóa đa dạng, thấp dần từ Tây sang Đông, chia làm 3 vựng rừ rệt: vựng núi trung du, vùng đồng bằng và vùng ven biển. Thanh Hoá nằm trong vùng ảnh hưởng của những tác động từ vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, các tỉnh Bắc Lào và vùng trọng điểm kinh tế Trung Bộ. Tỉnh nằm ở vị trí cửa ngõ nối liền Bắc Bộ với Trung Bộ, có hệ thống giao thông thuận lợi như: đường sắt xuyên Việt, đường Hồ Chí Minh, các quốc lộ 1A, 10, 45, 47, 217; có cảng biển nước sâu Nghi Sơn và hệ thống sông ngòi thuận tiện cho lưu thông Bắc Nam và đi quốc tế. Hiện tại, Thanh Húa cú sân bay Sao Vàng và đang dự kiến mở thêm sân bay quốc tế sát biển phục vụ cho Khu kinh tế Nghi Sơn và khách du lịch.
Thanh Hoá thuộcvùng khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa với 4 mùa rõ rệt. Tài nguyên thiên nhiên của Thanh Hóa đa dạng, phong phú: là một trong những tỉnh có tài nguyên rừng lớn với diện tích đất có rừng là 484.Tài nguyên khoáng sản phong phú và đa dạng có 296 mỏ và điểm khoáng sản với 42 loại khác nhau. Sông suối Thanh Hoá chảy qua nhiều vùng địa hình phức tạp, là tiềm năng lớn cho phát triển thủy điện. Nước ngầm ở Thanh Hoá cũng rất phong phú về trữ lượng và chủng loại bởi vì có đầy đủ các loại đất đá trầm tích, mắc ma và phun trào.
Tỉnh có 102 km bờ biển và vùng lãnh hải rộng 17.000 km2, với nhiều bãi cá, bói tụm cú trữ lượng lớn. Thanh Hóa là một tỉnh có nhiều tiềm năng du lịch. Ở đây có nhiều danh lam, thắng cảnh nổi tiếng. Ở phía Đông có bãi biển Sầm Sơn, Hải Tiến, Hải Hoà.
Vùng Tây Nam của tỉnh có rừng quốc gia Bến En với hệ động thực vật phong phú đang được UNESCO khảo sát để công nhận là di sản thiên nhiên thế giới. Vùng Tây Bắc cú cỏc khu bảo tồn thiên nhiên Pự Hu, Pự Luụng, Xuân Liên, là những khu rừng đặc dụng, nơi tồn trữ và bảo vệ các nguồn gien động, thực vật quớ hiếm. Đây là các điểm du lịch hấp dẫn đối với du khách ở khắp mọi nơi. Thanh Hóa là một tỉnh có đông dân số (đứng thứ 3 sau Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội).
Tính đến năm 2010, Thanh Hoỏ cú hơn 3,4 triệu người. Dân số đụng nờn nguồn lao động của tỉnh rất dồi dào. Nguồn lao động của Thanh Hoá tương đối trẻ, có trình độ văn hoỏ khỏ. Trên địa bàn tỉnh có 7 dân tộc anh em sinh sống, đó là: Kinh, Mường, Thỏi, H'mụng, Dao, Thổ, Hoa.
Người Kinh sinh sống chủ yếu ở vùng đồng bằng. Các dân tộc ít người sống chủ yếu ở các huyện vùng núi cao và biên giới. So với các tỉnh khác thì dân số Thanh Hóa theo các tôn giáo không đông: Phật giáo: khoảng 20.000 tín đồ, Công giáo: khoảng 139.170 tín đồ, Tin lành: khoảng 186 tín đồ, Cao đài: khoảng 100 tín đồ. Còn lại các đồng bào thiểu số thì theo tín ngưỡng của dân tộc mình.
Mặc dù dân số đông và đa dạng về dân tộc nhưng Thanh Hóa rất ổn định về chính trị - xã hội. Các dân tộc và tín đồ tôn giáo Thanh Húa luụn đoàn kết gắn bó cùng phát triển. Trình độ dân trí của tỉnh tương đối cao. Đến nay, tỉnh đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học - chống mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, phổ cập giáo dục THCS và đang tiến hành phổ cập THPT.
Số học sinh phổ thông năm học 2009-2010 là 587899 em, số giáo viên toàn tỉnh là 43178 người. Số thày thuốc có 5.300 người, bình quân y, bác sĩ trên 1 vạn dân là 11,8 người. Tỉnh có 27 đơn vị hành chính gồm một thành phố (Thanh Hóa), hai thị xã (Bỉm Sơn, Sầm Sơn) và 24 huyện lị, trong đú có 11 huyện miền núi. Kinh tế của tỉnh trong những năm gần đây liên tục tăng trưởng ở mức khá cao, giai đoạn 2006 - 2010 là 11,3%.
GDP theo giá so sánh năm 2010 gấp 1,7 lần 2005. GDP bình quân đầu người năm 2010 ước đạt 810 USD. Cơ cấu kinh tế của tỉnh chuyển dịch theo đúng hướng nhu cầu của nền kinh tế thị trường. Từ năm 2005 đến 2010: tỉ trọng nông nghiệp đã giảm từ 32,3% xuống còn; tỉ trọng ngành công nghiệp - xây dựng đã tăng từ 34,6% lên 44,1%; tỉ trọng các ngành dịch vụ tăng từ 33,1% lên 34,4%.
Chuyển dịch cơ cấu trong nội bộ từng ngành kinh tế cũng có sự tiến bộ ngày càng phù hợp với tiềm năng kinh tế địa phương. Cơ cấu kinh tế theo lãnh thổ chuyển dịch theo hướng hình thành cỏc vựng động lực tăng trưởng, các khu công nghiệp, khu kinh tế, cỏc vựng chuyên canh sản xuất hàng hóa trên cơ sử phát huy lợi thế so sánh của cỏc vựng miền. Việc huy động vốn đầu tư phát triển tăng rõ nét. Năm 2010, tổng vốn huy động ước đạt 85 395 tỉ đồng tăng 55% so mục tiêu đề ra.
Trong đó vốn tín dụng nhà nước giảm, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoai tăng. Nhờ vậy, đời sống của nhân dân địa phương cũng không ngừng được nâng cao. Nhưng nhìn chung Thanh Hóa vẫn là một tỉnh nghèo. Năms 2008, cả nước có 62 huyện nghốo thỡ Thanh Hoỏ cú 7 huyện, bình quân thu nhập GDP/người năm 2009 so với cả nước vẫn còn rất thấp (ước 720 USD/1.
Truyền thống văn hóa - lịch sử Trước thời Hán, Thanh Hoá thuộc quận Cửu Chân, thời Hán quận Cửu Chân thuộc bộ Giao Chỉ. Sang thời nhà Lương Cửu Chân được đổi thanh Ái Châu. Thời Lý, năm Thuận Thiên thứ nhất, vùng đất này đổi thành phủ Thanh Hoá, cái tên Thanh Hoá bắt đầu có từ đấy. Sau này, trải qua các triều đại, cú lỳc Thanh Hoá được gọi là phủ, trấn, lộ, trại, thừa tuyên ., cái tên Thanh Húa cú từ thời Lý cũng cú lỳc đổi thành Thanh Đụ, Tõy Đụ, Thanh Hoa.
Năm Thiệu Trị thứ nhất, chính thức đổi tên thành tỉnh Thanh Hoá và tồn tại tới ngày nay. Thanh Hoá là một vùng đất lịch sử lâu đời. Có lẽ hiếm có vùng đất nào như Thanh Hoá lại có đầy đủ những mốc nổi tiếng đánh dấu các giai đoạn lớn của lịch sử, từ tối cổ đến tận ngày nay. Di chỉ Núi Đọ phát hiện năm 1960 ở huyện Thiệu Hoá, là cái mốc tối cổ, nơi tìm được dấu tích con người thuộc thời đại sơ kỳ đá cũ đã khẳng định Thanh Hóa là nơi sinh sống của người nguyên thuỷ.
Di chỉ hang Con Moong phát hiện ở Thạch Thành, chứa đựng các dấu vết khảo cổ học từ văn hoá Sơn Vi (hậu kỳ đá cũ) ở lớp dưới, trên đó là các lớp văn hoá Hoà Bình, Bắc Sơn cho thấy con người đã tiếp tục sinh sống ở đây suốt từ hậu kỳ đá cũ qua sơ kỳ và trung kỳ đá mới. Văn hoá khảo cổ Đa Bút ở lưu vực sông Mã là một phát hiện quan trọng của giới khảo cổ học, vì Đa Bút là sự phát triển nối tiếp của văn hoá Hòa Bình - Bắc Sơn trong quá trình chinh phục đồng bằng ven biển Thanh Hoá thời đá mới, cách ngày nay khoảng trên dưới 6000 năm. Văn hóa Hoa Lộc là văn hoá khảo cổ thuộc sơ kỳ thời đại kim khí, phát hiện ở huyện Hậu Lộc, phân bố chủ yếu ở vùng ven biển, có niên đại khoảng 4000 năm. Đông Sơn là văn hoá thời đại kim khí (đồ đồng, sơ kỳ sắt) , phát hiện lần đầu tiên năm 1924 tại làng Đông Sơn, huyện Đông Sơn, Thanh Hoá.
Hiện vật tiêu biểu của văn hoỏ Đụng Sơn là trống đồng cũng tìm thấy nhiều ở đây với các kiểu dạng khác nhau. Đây là giai đoạn phát triển rực rỡ của văn hoá, văn minh lúa nước trên cơ sở phát triển nông nghiệp ruộng đồng, kỹ thuật đúc đồng, rèn sắt. Như vậy, hơn bất cứ một địa phương nào khác, Thanh Hoá là nơi đã phát hiện được các di chỉ khảo cổ học thuộc hầu hết các thời đại chứng minh cho quá trình con người từng tồn tại ở đây từ thời tiền sử và sơ sử. Thanh Hoá cùng với đồng bằng châu thổ Bắc Bộ là cái nôi hình thành dân tộc Việt nam, quốc gia Việt Nam và nền văn hoá Việt Nam.
Thanh Hóa là vùng địa linh nhân kiệt. Suốt một nghìn năm đất nước bị đô hộ, Thanh Hóa là vùng đất đã anh dũng, quật cường chống lại ách đô hộ phương Bắc trong đó tiêu biểu nhất là khởi nghĩa Bà Triệu năm 248. Năm 981 Lê Hoàn đại phá quân Tống bảo vệ nền độc lập từ sau chiến thắng của Ngô Quyền năm 938. Quê hương này đã sản sinh ra nhiều các bậc đế vương sáng nghiệp gắn với những mốc son quan trọng của lịch sử dân.
Hồ Quý Ly có gốc tích từ Nghệ An, tuy nhiên đến đời thứ 4 tính từ Hồ Quý Ly trở lên, tổ tiên đã chuyển về Thanh Hoá. Khi Vương triều Trần đã trở nên thối nát, ông tiến hành cải cách, lật đổ nhà Trần lập ra vương triều mới: Triều Hồ năm 1400. Ông cho xây dựng kinh đô mới An Tôn tức Tõy Đụ, (dân gian gọi là thành Nhà Hồ thuộc Vĩnh Lộc, Thanh Hoá. Dưới ách đô hộ hà khắc của nhà Minh, Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa ở mảnh đất Lam Sơn (1418 - 1427) chiêu mộ danh tài để đánh đuổi quân xâm lược ra khỏi bờ cõi sáng lập ra triều Hậu Lê.
Đây là một triều đại phong kiến lớn và rực rỡ nhất của chế độ quân chủ Việt Nam.Vương triều cuối cùng trong lịch sử Việt Nam, tuy không xây dựng trờn chớnh mảnh đất Xứ Thanh, nhưng những người sáng nghiệp lại có gốc rễ từ đây, đó là nhà Nguyễn. Người khởi nghiệp cỏc Chỳa Nguyễn Đàng Trong là Nguyễn Hoàng huyện Hà Trung, Thanh Hoá. Nguyễn Hoàng và những người kế nghiệp, như Nguyễn Phúc Chu, Nguyễn Phỳc Khoỏt., một mặt đối địch với Chúa Trịnh ở Đàng ngoài, mặt khác, tăng cường mở rộng lãnh thổ, khai phá vào phía nam, tạo nên giang sơn riêng.