Tổng quan luận án
Giáo dục phổ thông giữ vị trí nền tảng trong hệ thống giáo dục quốc dân, cung cấp tri thức cơ bản, định hình nhân cách và tạo tiền đề để người học tiếp tục học lên các bậc học cao hơn hoặc tham gia lao động sản xuất, phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. Thành phố Hải Phòng là đầu mối giao thông thủy, bộ quan trọng, cửa ngõ ra biển của miền Bắc, sở hữu vị trí địa chính trị, kinh tế chiến lược cùng truyền thống cách mạng và hiếu học. Trong giai đoạn 1963 - 1975, Hải Phòng vừa thực hiện nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội, vừa là trọng điểm đánh phá ác liệt của đế quốc Mỹ, đồng thời giữ vai trò hậu phương chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam.
Bên cạnh những kết quả đạt được, giáo dục phổ thông Hải Phòng giai đoạn này cũng bộc lộ một số tồn tại như: chất lượng giáo dục chưa đồng đều, quy mô phát triển có thời điểm chưa cân đối với điều kiện cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên còn thiếu hụt và công tác quy hoạch dài hạn còn hạn chế. Trước yêu cầu thực tiễn đó, việc nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ thành phố Hải Phòng đối với giáo dục phổ thông từ năm 1963 đến năm 1975 nhằm tổng kết lịch sử và đúc rút bài học kinh nghiệm là vấn đề có ý nghĩa khoa học và thực tiễn.
Luận án tiến sĩ Lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (mã số: 62 22 03 15) của nghiên cứu sinh Vũ Thị Liên, do PGS.TS. Nguyễn Thị Mai Hoa hướng dẫn khoa học, được thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội (2018), giải quyết các nội dung cụ thể sau:
- Mục đích nghiên cứu: Làm rõ chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ thành phố Hải Phòng đối với giáo dục phổ thông; trên cơ sở đó, đúc kết những kinh nghiệm lịch sử có giá trị tham khảo cho sự nghiệp phát triển giáo dục hiện nay.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Làm rõ những căn cứ để Đảng bộ thành phố xác định chủ trương phát triển giáo dục phổ thông, đồng thời phục dựng bức tranh toàn cảnh về giáo dục phổ thông tại Hải Phòng từ năm 1963 đến năm 1975.
- Phân tích chủ trương và quá trình chỉ đạo thực hiện của Đảng bộ thành phố Hải Phòng đối với giáo dục phổ thông qua hai giai đoạn: 1963 - 1968 và 1968 - 1975.
- Đánh giá ưu điểm, hạn chế, chỉ ra nguyên nhân và đúc rút những kinh nghiệm lịch sử từ quá trình lãnh đạo, chỉ đạo giáo dục phổ thông của Đảng bộ thành phố.
- Đối tượng nghiên cứu: Các quan điểm, chủ trương và quá trình chỉ đạo phát triển giáo dục phổ thông của Đảng bộ thành phố Hải Phòng từ năm 1963 đến năm 1975.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Nội dung: Các chủ trương, biện pháp, giải pháp của Đảng bộ thành phố Hải Phòng đối với giáo dục phổ thông trên các phương diện quy mô, cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên, chất lượng giáo dục toàn diện, công tác phòng không sơ tán và đào tạo các đối tượng học sinh chuyên biệt.
- Thời gian: Từ năm 1963 (thời điểm hợp nhất tỉnh Kiến An và thành phố Hải Phòng, tổ chức Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ I) đến năm 1975 (kết thúc nhiệm kỳ Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ IV và kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ). Luận án có mở rộng khảo sát giai đoạn trước 1963 và sau 1975 để đối sánh và đúc kết kinh nghiệm.
- Không gian: Địa bàn thành phố Hải Phòng, có liên hệ so sánh với một số địa phương lân cận và bình diện chung của miền Bắc.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tình hình nghiên cứu trong luận án được tác giả phân chia thành các nhóm công trình trong nước và quốc tế:
Các công trình nghiên cứu chung về giáo dục phổ thông tại Việt Nam
- Tác phẩm của các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước: Tác phẩm "Hồ Chí Minh bàn về công tác giáo dục" tổng hợp các quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục xã hội chủ nghĩa; các công trình của Thủ tướng Phạm Văn Đồng như "Về vấn đề giáo dục - đào tạo", "Hãy tiến mạnh trên mặt trận khoa học và kỹ thuật", "Công tác giáo dục và người thầy giáo xã hội chủ nghĩa", "Thấu suốt đường lối của Đảng, đưa sự nghiệp giáo dục tiến lên mạnh mẽ, vững chắc", "Sự nghiệp giáo dục trong chế độ xã hội chủ nghĩa" phân tích đường lối giáo dục, nhấn mạnh giáo dục là quốc sách hàng đầu; bài viết "Bàn về giáo dục" và "Đổi mới có tính cách mạng nền giáo dục và đào tạo của nước nhà" của Đại tướng Võ Nguyên Giáp; bài viết "Phát triển mạnh mẽ giáo dục - đào tạo phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hóa đất nước" của nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười.
- Sách chuyên khảo, công trình lịch sử giáo dục: Lê Văn Giạng với "Lịch sử giản lược hơn 1000 năm nền giáo dục Việt Nam"; Nguyễn Quang Kính (chủ biên) với "Giáo dục Việt Nam 1945 - 2005"; Nguyễn Văn Huyên với bài viết "Đẩy mạnh phong trào thi đua hai tốt" (Tạp chí Nghiên cứu giáo dục, số 17); Trần Hồng Quân (chủ biên) với "50 năm phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo (1945 - 1995)"; Thanh Long với "Về mục đích và nhiệm vụ của nền giáo dục phổ thông"; Phạm Minh Hạc với "45 năm phát triển nền giáo dục Việt Nam", "Sơ thảo lịch sử giáo dục Việt Nam (1945 - 1990)", "Vấn đề giáo dục và khoa học giáo dục", "Nhân tố mới về giáo dục và đào tạo trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa"; Bùi Minh Hiền (biên soạn) với "Lịch sử giáo dục Việt Nam"; Phạm Vũ Hà với "Nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông"; Võ Thuần Nho với "35 năm phát triển giáo dục phổ thông" (1980, 2 tập); Phan Ngọc Liên (chủ biên) với "Đảng Cộng sản Việt Nam với sự nghiệp giáo dục và đào tạo" (2008); đề tài cấp Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh do PGS. Nguyễn Tấn Phát làm chủ nhiệm: "Lịch sử các trường học sinh miền Nam trên đất Bắc (1954 - 1975)" (2008); đề tài cấp Bộ "Giáo dục Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1975" (2013).
- Luận án, luận văn chuyên ngành Lịch sử Đảng và Lịch sử: Luận án của Đỗ Thị Nguyệt Quang (1996) về nền giáo dục giai đoạn 1945 - 1954; luận án của Duy Thị Hải Hường về giáo dục miền núi phía Bắc giai đoạn 1954 - 1965; luận án của Nguyễn Thúy Quỳnh về giáo dục phổ thông miền Bắc giai đoạn 1954 - 1975; luận án của Phạm Nguyên Phương về sự lãnh đạo của Đảng đối với giáo dục phổ thông miền Bắc (1954 - 1975); các luận văn của Trương Thị Hoa (2007), Nguyễn Thị Hường (2008), Phạm Thị Giang, Đặng Thị Phương (2014) nghiên cứu về giáo dục phổ thông tại các địa phương Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Hưng Yên.
Các công trình nghiên cứu về giáo dục phổ thông tại Hải Phòng
- Cuốn sách "Giáo dục phổ thông, đại học và trung học chuyên nghiệp Hải Phòng" của Nguyễn Đình Tứ phân tích thành tựu, số liệu trường lớp và học sinh Hải Phòng giai đoạn 1965 - 1975.
- Các công trình lịch sử địa phương: "Lịch sử Đảng bộ Hải Phòng (1954 - 1975)", "Đảng bộ Hải Phòng qua các kỳ Đại hội", lịch sử Đảng bộ các huyện An Lão, Thủy Nguyên, Vĩnh Bảo.
- Cuốn sách "Giáo dục và đào tạo Hải Phòng 60 năm (1955 - 2015) xây dựng và phát triển" (2015) tái hiện khái quát chặng đường phát triển giáo dục thành phố qua các thời kỳ.
Các công trình nghiên cứu của học giả nước ngoài
- Fonds David Marr với "Country education profiles Vietnam: A comparative study" (Úc, 1993) khái quát hệ thống giáo dục Việt Nam và sự chuyển đổi các hệ thống 9 năm, 10 năm, 12 năm.
- Mu Thị Minh Chi với luận án tiến sĩ "Lịch sử biến động xã hội và giáo dục ở Việt Nam: Thực thái và diễn trình lịch sử" (1998) khảo sát nền giáo dục đương đại Việt Nam từ năm 1945.
- Nguyễn Khắc Bình với luận văn "A study on development of lifelong education policy in Vietnam from 1945 to 2000".
Khoảng trống nghiên cứu
Các công trình đã công bố chủ yếu tiếp cận giáo dục dưới góc độ khoa học giáo dục, lịch sử giáo dục tổng quát hoặc nghiên cứu trên phạm vi toàn miền Bắc, hoặc chỉ đề cập đến giáo dục Hải Phòng ở từng khía cạnh riêng lẻ. Chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống và chuyên sâu về sự lãnh đạo của Đảng bộ thành phố Hải Phòng đối với sự nghiệp giáo dục phổ thông trong toàn bộ giai đoạn lịch sử 1963 - 1975 từ góc độ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận: Luận án dựa trên quan điểm duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò của giáo dục và các quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển sự nghiệp giáo dục.
- Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp lịch sử: Dùng để phân kỳ lịch sử (hai giai đoạn 1963 - 1968 và 1968 - 1975), phục dựng tiến trình đề ra chủ trương và chỉ đạo thực hiện của Trung ương Đảng và Đảng bộ thành phố Hải Phòng theo trình tự thời gian.
- Phương pháp lôgíc: Dùng để xâu chuỗi sự kiện, phân tích nội dung cốt lõi của các văn kiện, khái quát quá trình vận động của đường lối giáo dục, đánh giá ưu điểm, hạn chế và đúc kết các bài học kinh nghiệm.
- Kết hợp phương pháp lịch sử và lôgíc: Tái hiện khách quan bức tranh giáo dục phổ thông Hải Phòng và luận giải bản chất các sự kiện lịch sử.
- Các phương pháp bổ trợ: Phương pháp phân tích, tổng hợp, đối chiếu, so sánh và thống kê sử liệu.
- Nguồn tư liệu:
- Tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin và Chủ tịch Hồ Chí Minh.
- Văn kiện của Đảng Lao động Việt Nam, Chính phủ, Bộ Giáo dục.
- Văn kiện của Đảng bộ thành phố Hải Phòng, các Đảng bộ trực thuộc, báo cáo, đề án lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III, Văn phòng Thành ủy Hải Phòng, Văn phòng UBND thành phố Hải Phòng, Chi cục Văn thư - Lưu trữ thành phố Hải Phòng, Sở Giáo dục và Đào tạo Hải Phòng.
- Niên giám thống kê, báo cáo tổng kết ngành giáo dục thành phố qua các năm học.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án
Chương 1 hệ thống hóa các công trình nghiên cứu theo ba nhóm: các nghiên cứu chung về giáo dục phổ thông tại Việt Nam; các nghiên cứu về giáo dục và sự lãnh đạo của Đảng bộ đối với giáo dục tại Hải Phòng; các công trình nghiên cứu của học giả nước ngoài. Tác giả phân tích những kết quả nghiên cứu đã đạt được về mặt lý luận, thực tiễn và nguồn tư liệu; đồng thời chỉ rõ khoảng trống nghiên cứu mà luận án tập trung giải quyết: phân tích toàn diện căn cứ xác định chủ trương, quá trình chỉ đạo thực hiện, đánh giá ưu khuyết điểm và đúc rút bài học kinh nghiệm lịch sử của Đảng bộ thành phố Hải Phòng đối với giáo dục phổ thông thời kỳ 1963 - 1975.
Chương 2: Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ thành phố Hải Phòng đối với giáo dục phổ thông từ năm 1963 đến năm 1968
Chương 2 trình bày bối cảnh lịch sử, căn cứ hoạch định chủ trương và quá trình Đảng bộ thành phố Hải Phòng lãnh đạo giáo dục phổ thông trong giai đoạn kháng chiến chống chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của đế quốc Mỹ:
- Căn cứ xác định chủ trương: Luận án phân tích điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, vị trí đầu mối giao thông, cảng biển; truyền thống văn hóa - giáo dục của vùng đất có 78 tiến sĩ Nho học thời phong kiến (nổi bật là Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, Trạng nguyên Lê Ích Mộc, Trạng nguyên Trần Tất Văn); thực trạng giáo dục phổ thông sau khi hợp nhất Hải Phòng và Kiến An (năm 1963); đường lối phát triển giáo dục xã hội chủ nghĩa tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (1960), Chỉ thị số 102-CT/TW (1965), Chỉ thị số 120-CT/TW (1966), Chỉ thị số 122-CT/TW (1966) và Thông tư số 131/TTg-VG (1967).
- Thực trạng trước năm 1963: Sự phát triển quy mô trường lớp từ năm học 1961 - 1962 đến năm học 1962 - 1963 được thể hiện qua số liệu thống kê:
| Năm học |
Số trường phổ thông |
Số học sinh phổ thông |
| 1961 - 1962 |
271 |
164.184 |
| 1962 - 1963 |
335 |
(Số liệu tiếp tục tăng trưởng theo báo cáo) |
- Chủ trương của Đảng bộ thành phố: Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố lần thứ I (tháng 7/1963) xác định phát triển giáo dục phổ thông có kế hoạch từ cấp I đến cấp III; Chỉ thị số 06-CT/TU (ngày 11/2/1965) về tăng cường công tác chính trị, tư tưởng đối với giáo viên; Nghị quyết số 16-NQ/TU (ngày 28/9/1965) về chuyển hướng công tác giáo dục trong tình hình mới (phân tán trường học về nông thôn, phổ cập cấp I từ năm học 1965 - 1966, mở rộng cấp II và cấp III); Nghị quyết số 65-NQ/TU (ngày 27/12/1967) về tăng cường lãnh đạo sự nghiệp giáo dục theo hướng cải cách; Chỉ thị số 36/CT-TU (ngày 29/12/1967) về giữ gìn sức khỏe cho học sinh và giáo viên; Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố lần thứ II (tháng 4/1968).
- Chỉ đạo thực hiện:
- Mở rộng quy mô và tăng cường cơ sở vật chất: Năm học 1967 - 1968, toàn thành phố huy động 78,3% trẻ em trong độ tuổi 6 - 16 ra lớp với tổng số 245.218 học sinh (tăng 719% so với năm học 1954 - 1955); học sinh cấp I đạt 138.478 em, cấp II đạt 49.171 em. Đến năm học 1967 - 1968, Hải Phòng hoàn thành mục tiêu phổ cập cấp I.
- Số lượng học sinh và quy mô lớp học tăng trưởng giai đoạn 1964 - 1968:
| Cấp học |
Số học sinh năm học 1966 - 1967 |
Số học sinh năm học 1967 - 1968 |
Tăng trưởng số lượng |
Tỷ lệ tăng |
| Cấp I |
129.869 |
(Số liệu tổng hợp theo báo cáo) |
15.925 (tính chung các cấp) |
118% |
| Cấp học |
Số lớp năm học 1964 - 1965 |
Số lớp năm học 1966 - 1967 |
Số lớp tăng thêm |
| Cấp I |
2.588 |
3.070 |
482 |
| Cấp II |
728 |
956 |
228 |
| Cấp III |
73 |
117 |
44 |
* *Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên:* Mở rộng mạng lưới trường sư phạm địa phương, bồi dưỡng chính trị và chuẩn hóa trình độ chuyên môn.
* *Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện:* Thực hiện nguyên lý học đi đôi với hành, gắn nhà trường với lao động sản xuất và phục vụ chiến đấu.
* *Công tác phòng không sơ tán:* Tổ chức đưa các trường nội thành sơ tán về khu vực ngoại thành và nông thôn, xây dựng hệ thống hầm hào, mũ rơm bảo đảm an toàn tính mạng cho giáo viên và học sinh.
* *Xây dựng điển hình tiên tiến và phong trào thi đua:* Phát động sâu rộng phong trào thi đua "Hai tốt" (Dạy tốt - Học tốt).
* *Đào tạo học sinh miền Nam:* Tiếp nhận, tổ chức nuôi dưỡng và giảng dạy cho con em cán bộ, đồng bào miền Nam tập kết ra Bắc.
Chương 3: Sự lãnh đạo của Đảng bộ thành phố Hải Phòng đối với giáo dục phổ thông từ năm 1968 đến năm 1975
Chương 3 làm rõ quá trình lãnh đạo của Đảng bộ thành phố trong bối cảnh miền Bắc tạm ngừng chiến tranh phá hoại (1968 - 1972), sau đó tiếp tục đương đầu với cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai của đế quốc Mỹ (1972) và giai đoạn khôi phục, phát triển (1973 - 1975):
- Yếu tố tác động và chủ trương: Sự chuyển hướng chỉ đạo từ thời chiến sang khôi phục kinh tế - xã hội, củng cố nền nếp trường lớp; các chủ trương lãnh đạo ứng phó linh hoạt khi chiến sự tái diễn năm 1972 và đẩy mạnh phát triển giáo dục sau Hiệp định Paris năm 1973.
- Chỉ đạo thực hiện:
- Mở rộng quy mô và cơ sở vật chất: Khôi phục trường sở bị tàn phá, kiên cố hóa phòng học, đáp ứng nhu cầu gia tăng học sinh sau chiến tranh.
- Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý: Thực hiện chỉ tiêu tuyển sinh các trường sư phạm cấp I, cấp II (như năm học 1969 - 1970), chuẩn hóa đội ngũ theo yêu cầu mới.
- Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện: Theo dõi và điều chỉnh tỷ lệ cân đối tốt nghiệp, chuyển cấp giữa cấp I, cấp II và cấp III (đặc biệt trong năm học 1972 - 1973); đánh giá kết quả các kỳ thi tốt nghiệp các cấp giai đoạn 1973 - 1975.
- Chuyển hướng hoạt động giáo dục phù hợp tình hình: Tổ chức sơ tán khẩn cấp trường lớp trong năm 1972 và nhanh chóng ổn định việc dạy - học trở lại từ năm 1973.
- Đẩy mạnh phong trào thi đua và giáo dục đối tượng đặc thù: Xây dựng các trường tiên tiến, thực hiện công tác đào tạo học sinh Hoa kiều trên địa bàn thành phố.
Chương 4: Nhận xét và kinh nghiệm
Chương 4 tổng kết những thành công, hạn chế và đúc kết 5 bài học kinh nghiệm lịch sử từ thực tiễn lãnh đạo của Đảng bộ thành phố:
- Ưu điểm: Đảng bộ thành phố đã quán triệt và vận dụng sáng tạo đường lối giáo dục của Trung ương; duy trì quy mô phát triển liên tục ngay trong điều kiện chiến tranh; bảo đảm an toàn cho thầy và trò; đóng góp nguồn nhân lực trực tiếp cho công cuộc kháng chiến và xây dựng chủ nghĩa xã hội.
- Hạn chế và nguyên nhân:
- Hạn chế: Cơ sở vật chất trường lớp có thời điểm thiếu thốn, chắp vá; chất lượng giáo dục toàn diện chưa thật đồng đều giữa nội thành và nông thôn, hải đảo; cơ cấu đào tạo và phân luồng học sinh sau cấp II, cấp III còn bất cập; đội ngũ giáo viên còn thiếu về số lượng cơ học tại một số thời điểm.
- Nguyên nhân: Hoàn cảnh chiến tranh đánh phá ác liệt kéo dài; nguồn lực kinh tế - tài chính địa phương còn hạn hẹp; công tác quản lý và dự báo quy hoạch giáo dục có lúc chưa theo kịp tốc độ phát triển dân số và yêu cầu thực tiễn.
- 5 bài học kinh nghiệm được đúc kết:
- Đưa giáo dục phổ thông thành sự nghiệp của toàn Đảng bộ, của toàn thể người dân đất Cảng.
- Chú trọng nâng cao năng lực bộ máy và đội ngũ cán bộ, giáo viên làm công tác giáo dục phổ thông.
- Tổ chức các phong trào thi đua phát triển giáo dục phổ thông rộng khắp trên cơ sở phát huy tinh thần, ý chí chiến đấu và sự ủng hộ của người dân.
- Coi trọng việc chỉ đạo các ban, ngành, đoàn thể phối kết hợp chặt chẽ trong các hoạt động liên quan đến giáo dục phổ thông.
- Chú trọng đảm bảo tính ổn định của giáo dục phổ thông trong điều kiện phải kịp thời chuyển hướng phù hợp với yêu cầu của thời chiến.
Kết quả và những đóng góp mới
- Về mặt khoa học và lý luận:
- Làm rõ quá trình Đảng bộ thành phố Hải Phòng vận dụng quan điểm, đường lối của Trung ương Đảng Lao động Việt Nam về giáo dục vào điều kiện cụ thể của một thành phố công nghiệp, cảng biển trọng điểm trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ.
- Khái quát và luận giải tính quy luật, đặc điểm đặc thù của sự nghiệp giáo dục phổ thông trong hoàn cảnh vừa sản xuất, vừa chiến đấu và chuyển hướng thời chiến.
- Về mặt thực tiễn và tư liệu:
- Khai thác, hệ thống hóa và công bố nhiều nguồn tư liệu lưu trữ tại địa phương (Chi cục Văn thư - Lưu trữ Hải Phòng, Thành ủy Hải Phòng, Sở Giáo dục và Đào tạo) về quy mô trường lớp, đội ngũ giáo viên, số liệu học sinh sơ tán, tỷ lệ tốt nghiệp từ năm 1963 đến năm 1975.
- Tái hiện bức tranh lịch sử chân thực về các mô hình giáo dục thời chiến: lớp học dưới hầm chữ A, công tác nuôi dạy học sinh miền Nam, giáo dục học sinh Hoa kiều tại Hải Phòng.
- Giá trị ứng dụng và kiến nghị:
- Cung cấp 5 bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo cho công tác lãnh đạo, quản lý giáo dục phổ thông hiện nay: bài học về xã hội hóa giáo dục, xây dựng đội ngũ giáo viên, duy trì phong trào thi đua, cơ chế phối hợp liên ngành và tính chủ động thích ứng của hệ thống giáo dục trước các biến động xã hội.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án tập trung nghiên cứu dưới góc độ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam trên địa bàn thành phố Hải Phòng trong khung thời gian 1963 - 1975; nguồn tư liệu chủ yếu tập trung vào các văn bản chỉ đạo của Đảng bộ và báo cáo hành chính, số liệu thống kê định tính và định lượng lịch sử chuyên ngành.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng nghiên cứu so sánh chuyên sâu giữa mô hình giáo dục thời chiến của thành phố Hải Phòng với các đô thị lớn khác ở miền Bắc (như Hà Nội, Nam Định).
- Khai thác sâu hơn các nguồn tư liệu hồi ức, lịch sử truyền khẩu từ các thế hệ cán bộ, giáo viên và học sinh từng tham gia giảng dạy, học tập trong giai đoạn 1963 - 1975 tại Hải Phòng.
Giá trị tham khảo
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên, sinh viên ngành Lịch sử: Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo về phương pháp tiếp cận lịch sử - lôgíc, cách khai thác và xử lý nguồn tư liệu lưu trữ địa phương trong nghiên cứu lịch sử Đảng bộ địa phương và lịch sử giáo dục Việt Nam.
- Đối với giảng viên và cơ sở đào tạo: Cung cấp tư liệu giảng dạy thực chứng cho các học phần Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Lịch sử Việt Nam hiện đại, Lịch sử giáo dục Việt Nam.
- Đối với cán bộ quản lý và cơ quan hoạch định chính sách giáo dục: Cung cấp luận cứ lịch sử và bài học kinh nghiệm về công tác xây dựng đội ngũ nhà giáo, sự phối hợp giữa gia đình - nhà trường - xã hội, và các giải pháp quản lý giáo dục linh hoạt trong bối cảnh biến động phức tạp.
Câu hỏi thường gặp
1. Mốc thời gian 1963 và 1975 được xác định dựa trên căn cứ lịch sử nào?
Năm 1963 là thời điểm hai tỉnh Kiến An và thành phố Hải Phòng hợp nhất thành thành phố Hải Phòng mới, đồng thời diễn ra Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố lần thứ I (tháng 7/1963) - nơi đề ra các mục tiêu lớn về giáo dục phổ thông. Năm 1975 là mốc kết thúc nhiệm kỳ Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ IV và cũng là thời điểm cuộc kháng chiến chống Mỹ kết thúc thắng lợi.
2. Đảng bộ Hải Phòng đề ra chủ trương chuyển hướng giáo dục thời chiến thông qua văn kiện nào?
Chủ trương chuyển hướng giáo dục được thể hiện tập trung trong Nghị quyết số 16-NQ/TU ngày 28/9/1965 của Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố Hải Phòng về việc chuyển hướng công tác giáo dục trong tình hình mới, chỉ đạo chuyển học sinh về nông thôn học tập, phân tán trường lớp quy mô nhỏ và bảo đảm chất lượng dạy - học.
3. Thành tựu phổ cập giáo dục cấp I của thành phố Hải Phòng đạt được vào năm học nào?
Theo số liệu thống kê của luận án, toàn thành phố Hải Phòng đã hoàn thành mục tiêu phổ cập giáo dục cấp I vào năm học 1967 - 1968.
4. Quy mô lớp học phổ thông các cấp của Hải Phòng tăng trưởng như thế nào giữa năm học 1964 - 1965 và 1966 - 1967?
Trong giai đoạn này, quy mô lớp học tăng thêm ở cả ba cấp: cấp I tăng từ 2.588 lớp lên 3.070 lớp (tăng 482 lớp); cấp II tăng từ 728 lớp lên 956 lớp (tăng 228 lớp); cấp III tăng từ 73 lớp lên 117 lớp (tăng 44 lớp).
5. Luận án đúc kết được bao nhiêu bài học kinh nghiệm từ thực tiễn lãnh đạo của Đảng bộ thành phố?
Luận án đúc kết 5 bài học kinh nghiệm lịch sử: biến giáo dục thành sự nghiệp của toàn dân; nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, giáo viên; tổ chức phong trào thi đua sâu rộng; phối kết hợp chặt chẽ giữa các ban, ngành, đoàn thể; và bảo đảm tính ổn định của hệ thống giáo dục khi chuyển hướng thời chiến.
Kết luận
Luận án của tác giả Vũ Thị Liên là công trình khoa học chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam nghiên cứu một cách có hệ thống về sự lãnh đạo của Đảng bộ thành phố Hải Phòng đối với giáo dục phổ thông từ năm 1963 đến năm 1975. Thông qua nguồn tư liệu lưu trữ phong phú, luận án đã phục dựng bức tranh giáo dục phổ thông thời kỳ chống Mỹ cứu nước và làm rõ các giai đoạn chuyển hướng chỉ đạo linh hoạt của Thành ủy Hải Phòng. Các kết quả nghiên cứu và 5 bài học kinh nghiệm được đúc kết từ luận án mang giá trị khoa học thực tiễn, đóng góp thiết thực cho công tác nghiên cứu lịch sử Đảng bộ địa phương và cung cấp luận cứ tham khảo cho sự nghiệp phát triển giáo dục hiện nay.