CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN GIÁO DỤC TINH THẦN HIẾU HỌC CHO HỌC SINH LỚP 4, LỚP 5 1. Khái niệm Văn hóa là khái niệm khá rộng với cách hiểu đa chiều nhiều lớp nghĩa. Có thể hiểu, văn hóa bao gồm tất cả những giá trị tinh thần và vật chất mà con người sáng tạo nên song hành cùng chiều dài lịch sử của mỗi đất nước, mỗi dân tộc. Trong tác phẩm Nhật ký trong tù, chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại đã nói về văn hóa như sau: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng.
Những sáng tạo và phát minh đó chính là văn hóa.102] Văn hóa do con người sáng tạo ra để phục vụ chính lợi ích, nhu cầu, mong muốn của cá nhân. Văn hóa dành cho con người vì mục đích nhân văn. Những giá trị của văn hóa được cộng đồng người gìn giữ, khai thác và lưu truyền qua các thế hệ, sử dụng chính điều đó để phục vụ đời sống con người; nên văn hóa có tính lưu truyền và kế thừa. Với những nội dung tích cực, có giá trị sẽ được lưu giữ và đào thải với những giá trị thiếu tính tích cực và không linh hoạt phù hợp với yếu tố thời đại.
Theo Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hợp Quốc UNESCO nhận định: “Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động và sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại.197] Theo khái niệm văn hóa trong Đại từ điển tiếng Việt: “Văn hóa là những giá trị vật chất, tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử”.129] 10 Như vậy, có thể hiểu văn hóa là tất cả những giá vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trên nền thế giới tự nhiên. Văn hóa có liên quan mật thiết, gắn bó đến mọi mặt đời sống của con người, bao gồm tất cả những sản phẩm do con người tạo ra. Các loại hình văn hóa Văn hóa hiển hiện trong từng nếp sống, nếp nghĩ, tư tưởng đạo đức xã hội, tinh hoa văn hóa nghệ thuật…Văn hóa chính là nền tảng, cốt lõi các giá trị tinh thần thể hiện tầm cao và chiều sâu về trình độ phát triển của một dân tộc. Văn hóa là chủ thể của quá trình phát triển văn minh loài người, thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển toàn diện nền văn minh của xã hội loài người trong tiến trình lịch sử.
Có nhiều tài liệu phân chia văn hóa thành các loại hình khác nhau. Nhưng trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, chúng tôi đề cập đến hai loại hình văn hóa. Đó là văn hóa tinh thần và văn hóa vật chất. - Văn hóa tinh thần (văn hóa phi vật chất): Đó là những chuẩn mực, lý luận, những quan niệm, tín ngưỡng, phong tục, tập quán mà con người sáng tạo ra trong quá trình lao động sản xuất, phục vụ cho đời sống tinh thần của con người.
Những giá trị đó được tạo ra nhằm phục vụ cho các hoạt động tinh thần như: kỹ năng ứng xử, những truyền thống, những đạo lý trong cuộc sống hằng ngày, với những nguyên tắc, tiêu chí mang tính chi phối cao tới các hoạt động của con người. - Văn hóa vật chất: Tất cả những phát minh của con người thể hiện qua hình thái vật chất cụ thể, do con người làm ra chính là văn hóa vật chất. Từ các vật thể đó, ta có thể đưa ra những đánh giá sơ giản đầu tiên, nhận xét năng lực tại thời điểm đó của con người đã tạo ra. Những phát minh về cơ sở hạ tầng như nhà cửa, các công trình kiến trúc, nhà máy xí nghiệp, tòa cao ốc, khu đô thị, cầu đường, phương tiện giao thông hiện đại, đền chùa, miếu mạo, máy móc thiết bị thông minh,… đều là sáng tạo vĩ đại của con người… Vậy nên, 11 văn hóa vật chất phản ánh sự vận dụng linh hoạt các kiến thức văn hóa vào sinh hoạt trong giới tự nhiên một cách có hiệu quả.
Đặc trưng của văn hóa Với đặc thù và những giá trị riêng biệt với con người và xã hội, văn hóa mang những nét đặc trưng sau: Thứ nhất là văn hóa có tính hệ thống giúp phát hiện những mối liên hệ giữa các sự kiện, hiện tượng văn hóa, các quy luật hình thành, phát triển cùng đặc trưng của nó, hướng đến giúp tổng thể các mối quan hệ trở nên có giá trị tích cực hơn. Thứ hai là tính giá trị của văn hóa: Ta có thể kiểm chứng tính giá trị của văn hóa trên nhiều bình diện, khía cạnh khác nhau. Nếu kiểm chứng về loại hình giá trị thì văn hóa bao gồm giá trị vật chất và tinh thần. Xét về mặt ý nghĩa, văn hóa là tổng hòa các giá trị: đạo đức, thẩm mĩ và sử dụng.
Dưới góc độ thời gian, nhất thời và vĩnh cửu là hai hình thái chính của văn hóa. Theo từng phương diện, góc độ nghiên cứu, một hiện tượng, sự vật có thể tồn tại mang lại những giá trị khác nhau. Để ghi nhận, đánh giá một hiện tượng có thuộc phạm trù văn hóa hay không cần được phân loại các mặt giá trị và phi giá trị mối quan hệ tương quan của nó. Thứ ba là tính nhân sinh: Văn hóa bao gồm các sản phẩm do con người sáng tạo nên theo suốt chiều dài lịch sử nhằm phục vụ lợi ích của con người.
Từ xa xưa, con người đã sáng tạo ra các sản phẩm điêu khắc, chạm khảm gỗ đó là những hoạt động mang tính vật chất. Việc đặt tên cho các sự vật, các địa danh, xây dựng những cốt truyện truyền thuyết về cuộc sống xung quanh chính là các hoạt động mang tính tinh thần của con người. Thứ tư là tính lịch sử: Thời gian chính là thước đo giá trị hoàn hảo nhất giúp nhận định rõ nét văn hóa chính là sản phẩm của quá trình lao động và sáng tạo của chính con người. Nền văn hóa của mỗi dân tộc, mỗi vùng đất được tích lũy qua nhiều thế hệ, giai đoạn lịch sử phát triển khác nhau.
Lịch sử văn hóa tạo nên chiều sâu, bề dày của văn hóa và từ đó đặt ra yêu cầu văn hóa 12 phải linh hoạt, vận động biến đổi không ngừng, phải phân định lại các giá trị một cách thường xuyên theo xu hướng tất yếu của dòng chảy thời gian. Đó là các giá trị tương đối ổn định, ít dịch chuyển, thay đổi được tích lũy và phát triển theo thời gian học tập, lao động, sáng tạo của cộng đồng người. Các giá trị đúc kết nên khuôn mẫu xã hội, lưu truyền dưới hình thái chính là ngôn ngữ, phong tục, tập quán, lối sống, tư tưởng, các quy định, luật lệ hay những ngôn luận chung… 1. Chức năng của văn hóa Thứ nhất là chức năng nhận thức của văn hóa chính là ranh giới rõ nét của lịch sử tiến hóa so với các loài động vật khác trên Trái Đất.
Con người học hỏi hay rút kinh nghiệm từ những giá trị lịch sử để lại nhằm hướng đến điều mới mẻ tốt đẹp hơn, hình thành nên một xã hội nhân bản, nhân văn, tích cực hơn. Thứ hai là chức năng thẩm mĩ của văn hóa giúp con người không ngừng hoàn thiện chính mình hơn. Văn hóa là cái đẹp, đẹp từ hình thức tới chính bản ngã của con người được hoàn thiện và đẹp đẽ hơn. Thứ ba là chức năng giáo dục của văn hóa giúp con người nâng tầm cái tôi nhận thức, phát hiện và giúp tiềm năng của bản thân được cải thiện, phát huy tối đa khả năng.
Con người lĩnh hội kiến thức, tự trau dồi nhân cách, tư tưởng đạo đức, nếp sống, nếp nghĩa, cách gìn giữ, phát triển các mối quan hệ xã hội theo chiều hướng tích cực. Thứ tư là chức năng điều tiết của văn hóa làm cho xã hội đi theo định hướng nhất định, hướng đến những điều tốt đẹp. Từ đó xã hội vận hành ổn định vì mục đích chung của cộng đồng. Thể hiện rõ nét ở pháp luật, văn hóa pháp luật giúp con người luôn chấp hành để giữ gìn trật tự xã hội, giúp mọi người sinh sống tương sinh với nhau, giữ vững các trường đạo đức đảm bảo tính quy chuẩn.
Thứ năm là chức năng động lực của văn hóa giúp tạo động lực tích cực nhằm định hướng cho xã hội phát triển lành mạnh, hướng tới một xã hội tốt 13 đẹp hơn, nhân bản hơn. Đó chính là mục đích tiến lên của xã hội loài người, giúp chất lượng sống của con người tốt hơn cả về vật chất và tinh thần, trí tuệ cảm xúc. Khái niệm Ở thời điểm hiện tại thì vẫn chưa có nhiều văn bản đề cập đến khái niệm về văn hóa truyền thống. Tuy nhiên khi chúng ta nhắc đến văn hóa truyền thống chính là nhắc đến những hiện tượng văn hóa xã hội đã được định hình, tuy độ dài lịch sử chưa phải là yếu tố cốt lõi tạo nên văn hóa truyền thống, nhưng cái cốt lõi chính là yếu tố xã hội của nó.
Khi nói đến văn hóa truyền thống của mỗi dân tộc, chúng ta chỉ nói đến những nét văn hóa xã hội có ích, có ý nghĩa tích cực, góp phần vào sự tiến bộ xã hội. Tựu chung lại, theo chúng tôi, thì văn hóa truyền thống chính là sự kết tinh tất cả những gì tốt đẹp nhất của dòng chảy lịch sử của một dân tộc để tạo nên bản sắc riêng, được truyền lại cho các thế hệ sau và theo thời gian sẽ được bổ sung các giá trị mới. Xuyên suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, văn hóa truyền thống đã khẳng định vai trò to lớn của mình và chúng được sử dụng như là vũ khí sắc bén, tạo ra một sức mạnh đại đoàn kết dân tộc. Ngày nay, văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam đóng một vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Tính chất cơ bản của văn hóa truyền thống Một là tính giá trị của văn hóa truyền thống Đó là chuẩn mực, là thước đo đạo đức, nền tảng tâm lý cơ bản thuần khiết nhất, có khả năng điều hướng cho những quan hệ ứng xử trong một cộng đồng người nhất định.