Tổng quan luận án

Khoa cử thời trung đại tại Việt Nam giữ vai trò là phương thức tuyển chọn nhân sự chủ yếu cho bộ máy chính quyền phong kiến, đồng thời là con đường nhập thế hành đạo căn bản của tầng lớp Nho sĩ. Trong hệ thống khoa cử truyền thống gồm ba cấp thi (Hương, Hội, Đình), thi Hương là kỳ thi cơ bản đầu tiên được tổ chức tại các địa phương nhằm tuyển chọn nhân lực phục vụ bộ máy hành chính và chọn lọc những người có năng lực lên kinh đô dự thi Hội, thi Đình. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về giáo dục khoa cử trước đây thường tập trung vào cấp thi Hội, thi Đình hoặc khảo cứu hệ thống trường đào tạo (như Quốc Tử Giám, trường phủ, trường huyện), trong khi loại hình trường tổ chức thi cử (trường thi Hương) ít được khảo cứu toàn diện do sự phân tán và khan hiếm tư liệu. Luận án lựa chọn khảo cứu thi Hương thời Nguyễn thông qua trường hợp cụ thể là các trường thi Hà Nội, Nam Định và Hà Nam nhằm bù đắp khoảng trống nghiên cứu về thiết chế trường thi và quy trình vận hành của cấp thi Hương ở miền Bắc trong tiến trình lịch sử từ năm 1807 đến năm 1915.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định gồm bốn nội dung cụ thể:

  1. Phục dựng diện mạo, quy mô, cấu trúc, lịch sử hình thành, biến đổi và phương thức vận hành của hai trường thi Hương Hà Nội và Nam Định (sau sáp nhập thành trường Hà Nam), khảo sát chi tiết hoạt động của quan trường và sĩ tử trước và sau khi thực dân Pháp can thiệp vào chế độ giáo dục bản địa.
  2. Đặt hai trường thi trên trong tương quan so sánh với các trường thi Hương khác trên toàn quốc (Nghệ An, Thanh Hóa, Thừa Thiên, Bình Định, Gia Định) để làm rõ vai trò, chức năng xã hội và phân tích chính sách giáo dục vùng của triều Nguyễn trong bối cảnh lãnh thổ mở rộng.
  3. Làm rõ mối quan hệ tương tác hai chiều giữa khoa cử với các phương diện chính trị, văn hóa, xã hội thời Nguyễn.
  4. Phân tích các điểm tương đồng và khác biệt giữa trường thi Hương Việt Nam và trường thi Hương Trung Quốc thời Minh - Thanh để nhận diện tính chọn lọc và sự thích ứng bản địa của triều Nguyễn khi tiếp nhận mô hình thể chế Đông Á.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động thi Hương thời Nguyễn, trọng tâm là thiết chế trường thi, nội dung thi, bộ máy quan trường, đội ngũ sĩ tử và việc bổ dụng người đỗ đạt thông qua khảo sát hai trường thi Hương Hà Nội và Nam Định (Hà Nam).
  • Phạm vi không gian: Trọng tâm nghiên cứu là khu vực châu thổ đồng bằng sông Hồng ở miền Bắc; mở rộng đối chiếu, so sánh với các trường thi ở miền Trung (Thanh Hóa, Nghệ An, Thừa Thiên, Bình Định) và miền Nam (Gia Định).
  • Phạm vi thời gian: Từ khoa thi Hương đầu tiên của triều Nguyễn tổ chức năm Đinh Mão (1807) dưới thời vua Gia Long đến khoa thi Hương cuối cùng ở miền Bắc tổ chức vào năm Ất Mão (1915) dưới thời vua Duy Tân.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án phân loại và hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu thành các nhóm tư liệu và công trình chính:

  1. Nguồn sử liệu thời Nguyễn và trước thời Nguyễn:
  • Các bộ chính sử thời phong kiến như Việt sử lược, Đại Việt sử ký toàn thư, Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn, Lịch triều hiến chương loại chí (quyển XXVII - "Khoa mục chí") của Phan Huy Chú, Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ ghi chép thể lệ thi cử thời Lý, Trần, Lê.
  • Các bộ quốc sử, hội điển và chính yếu của triều Nguyễn do Quốc Sử quán và Nội các biên soạn: Đại Nam thực lục, Đại Nam liệt truyện, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ tục biên, Minh Mệnh chính yếu, Đồng Khánh Khải Định chính yếu, Đại Nam nhất thống chí.
  • Các bộ Đăng khoa lục: Quốc triều Hương khoa lục và Quốc triều khoa bảng lục của Cao Xuân Dục, ghi chép tiểu sử, danh tính, quê quán, độ tuổi và chức vụ bổ dụng của hơn 5.000 Hương cống, Cử nhân, Tiến sĩ, Phó bảng thời Nguyễn.
  1. Các công trình nghiên cứu từ đầu thế kỷ XX đến nay:
  • Giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX: Các khảo cứu của Dương Bá Trạc (1919) trên tạp chí Nam Phong, Nguyễn Văn Tố (1942), Nguyễn Tường Phượng (1943) trên tạp chí Tri Tân, và công trình Lược khảo về khoa cử Việt Nam của Trần Văn Giáp (1941).
  • Giai đoạn từ thập niên 1980 đến thập niên 2000 về giáo dục thời Nguyễn: Các công trình của Vũ Ngọc Khánh (1985), Phan Trọng Báu (1994), Nguyễn Thế Long (1995), Nguyễn Q. Thắng (1998), Nguyễn Tiến Cường (1998), cùng các hội thảo chuyên đề về chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn (2008).
  • Các nghiên cứu chuyên sâu về Nho giáo và thể chế theo hướng liên ngành: Khảo cứu của Nguyễn Thế Anh (2009), Nguyễn Thị Oanh (2009), Phùng Minh Hiếu (2009), Nguyễn Tuấn Cường (2009), Phạm Văn Ánh (2009), Lê Phương Duy (2009); công trình Quan và Lại ở miền Bắc Việt Nam (1820-1918) của Emmanuel Poisson (2006); các nghiên cứu của Nguyễn Công Lý (2011), Nguyễn Ngọc Quỳnh (2011), Lê Nguyễn Lưu, Nguyễn Văn Đăng.
  • Các công trình về chuyển giao giáo dục thuộc địa và trường thi cụ thể: Trịnh Văn Thảo (2009, 2011), Trần Thị Phương Hoa (2012), Phạm Đức Thành Dũng (2000), Nguyễn Thị Chân Quỳnh (2003). Về trường Hà Nội có khảo cứu của André Masson (2003), Philippe Papin, William Logan (2010), Nguyễn Thừa Hỷ (2010), Đào Thị Diến (2010), Bùi Xuân Đính (2010), Nguyễn Hải Kế (2010). Về trường Nam Định có địa chí của Khiếu Năng Tĩnh, Nguyễn Ôn Ngọc, bài viết của Trần Văn Giáp (1944), Đặng Hữu Thụ (1992), Vũ Ngọc Lý (1997).
  • Các nghiên cứu quốc tế: Alexander Woodside (1971, 2006) so sánh mô hình chính quyền và giáo dục Việt Nam - Trung Quốc; Nola Cooke (1994, 1999) nghiên cứu về Nho giáo hóa và tính chất vùng miền ở Nam Bộ; Benjamin A. Elman (1994, 2000), Ichisada Miyazaki (1981), Liu Haifeng (2007) khảo sát thể chế khoa cử Minh - Thanh và khu vực Đông Á.

Khoảng trống luận án giải quyết: Phần lớn các nghiên cứu trước đây chỉ tiếp cận thi Hương ở mức độ giới thiệu biên niên, mô tả khái lược hoặc nghiên cứu lịch sử đô thị, thiếu sự khảo sát chuyên biệt và phân tích cấu trúc không gian, vận hành tổ chức, giải ngạch, sai phạm quan trường cũng như quá trình biến đổi nội dung thi dưới tác động của chữ Quốc ngữ và tiếng Pháp. Luận án đặt hoạt động của các trường thi Hà Nội và Nam Định vào khung phân tích lịch sử xã hội, định lượng hóa dữ liệu đăng khoa và so sánh đối chiếu đa chiều.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và cách tiếp cận:

  • Lý thuyết về thế giới các nước Hán hóa của Léon Vandermeersch: Nhìn nhận Việt Nam cùng với Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc nằm trong vùng văn hóa đồng văn nhưng có sự chọn lọc và bản địa hóa mô hình giáo dục.
  • Lý thuyết xã hội học lịch sử và văn hóa chính trị: Kế thừa quan điểm của Max Weber về tính di động xã hội thông qua thi cử Nho học tại các xã hội Đông Á, kết hợp khung phân tích của Alexander Woodside và Benjamin A. Elman, coi khoa cử là một thiết chế chính trị - xã hội tác động trực tiếp đến cấu trúc quyền lực và sự vận hành của bộ máy quan liêu.

Phương pháp nghiên cứu cụ thể:

  • Phương pháp lịch sử và logic: Khảo sát thi Hương theo tiến trình lịch đại (từ thời Gia Long đến thời Duy Tân) và cấu trúc đồng đại (đối chiếu giữa các trường thi trong nước và với Trung Quốc cùng thời kỳ).
  • Phương pháp thu thập, phê phán và xử lý văn bản: Khai thác kết hợp các văn bản chữ Hán (chính sử, hội điển, địa chí), Châu bản triều Nguyễn (114 tập mục lục từ thời Gia Long đến Khải Định tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I) và tư liệu tiếng Pháp (gần 50 hồ sơ lưu trữ thuộc Phông Phủ Thống sứ Bắc Kỳ từ năm 1888 đến năm 1912).
  • Phương pháp thống kê định lượng lịch sử xã hội: Sử dụng dữ liệu từ Quốc triều Hương khoa lục để thống kê, xử lý số liệu về số lượng cử nhân, độ tuổi đỗ đạt, quê quán, giải ngạch, tỷ lệ thi đỗ đại khoa và cơ cấu bổ nhiệm quan lại.
  • Phương pháp nghiên cứu so sánh: So sánh giữa trường thi Hà Nội, Nam Định với các trường Thừa Thiên, Nghệ An, Gia Định; so sánh thể lệ thi cử thời Nguyễn với thời Lê và thể chế khoa cử triều Minh - Thanh.
  • Phương pháp điền dã thực địa, khảo sát địa danh và chồng áp bản đồ: Khảo sát thực địa tại Hà Nội, Nam Định, Huế, Sài Gòn; đối chiếu bản đồ cổ (bản đồ Hà Nội năm 1866, 1875-1888; bản đồ Nam Định năm 1883) với bản đồ hành chính hiện đại để xác định chính xác vị trí và mặt bằng cấu trúc các trường thi.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Thi Hương thời Nguyễn: Một cái nhìn tổng quan

Chương 1 hệ thống hóa toàn bộ các quy định pháp chế và cơ chế vận hành của thiết chế thi Hương thời Nguyễn từ cấp trung ương:

  • Trường thi: Triều Nguyễn tổ chức các trường thi Hương trên cả ba miền. Thời gian tổ chức định kỳ 3 năm một khoa (vào các năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu; sau điều chỉnh sang các năm Thìn, Tuất, Sửu, Mùi hoặc xen kẽ các Ân khoa). Cấu trúc trường thi được phân chia thành các vi (thường gồm 4 vi: Giáp, Ất, Tả, Hữu) với rào giậu, chòi canh, nhà Thập đạo và khu vực làm việc phân biệt giữa Nội trường và Ngoại trường.
  • Nội dung thi cử và sự biến đổi:
    • Thời Gia Long (áp dụng từ năm 1807): Thực hiện phép thi 4 kỳ (tứ trường). Kỳ I thi Kinh nghĩa (5 bài Kinh, 1 bài truyện); Kỳ II thi Chiếu, Chế, Biểu; Kỳ III thi Thơ Đường luật thể 8 vần và 1 bài Phú; Kỳ IV thi 1 đề Văn sách.
    • Thời Minh Mệnh (từ năm 1834): Đổi sang phép thi 3 kỳ (tam trường). Kỳ I thi Chế nghĩa 8 vế (văn bát cổ); Kỳ II bãi bỏ Tứ lục, thi Thơ thất ngôn Đường luật và Phú luật; Kỳ III thi Văn sách.
    • Thời Tự Đức: Năm 1851 đổi về 4 kỳ, nhưng đến năm 1855 lại khôi phục phép thi 3 kỳ (bài văn sách gồm 10 câu hỏi chia theo Ngũ kinh, truyện và sử). Năm 1876 điều chỉnh môn thi giữa các kỳ, bỏ hẳn phần Chiếu, Biểu.
    • Thời Thành Thái và Duy Tân (1906-1918): Thành lập Bộ Học (1907). Đưa môn thi chữ Quốc ngữ và tiếng Pháp vào cấu trúc đề thi chính thức hoặc tự nguyện, chuyển đổi cấu trúc các kỳ thi sang hình thức kết hợp luận Hán văn, dịch Pháp văn và luận Quốc ngữ.
Thời kỳ Thể thức Nội dung các kỳ thi
Gia Long (1807) 4 kỳ (Tứ trường) - Kỳ I: Kinh nghĩa (5 bài Kinh, 1 bài truyện)
- Kỳ II: Chiếu, Chế, Biểu
- Kỳ III: Thơ Đường luật (thể 8 vần) và Phú (1 bài)
- Kỳ IV: Văn sách (1 đề)
Minh Mệnh (từ 1834) 3 kỳ (Tam trường) - Kỳ I: Chế nghĩa 8 vế (bát cổ, từ 250 chữ trở lên)
- Kỳ II: Thơ thất ngôn Đường luật và Phú luật
- Kỳ III: Văn sách (đầu bài khoảng 300 chữ, bài làm từ 1000 chữ trở lên)
Tự Đức (1851) 4 kỳ (Tứ trường) - Kỳ I: Kinh nghĩa (5 bài Kinh, 2 bài truyện)
- Kỳ II: Văn sách (trên 1000 chữ)
- Kỳ III: Chiếu, Biểu (thể tứ lục), Luận (thể cổ văn)
- Kỳ IV: Thơ Đường luật, Phú
Tự Đức (1855) 3 kỳ (Tam trường) - Kỳ I: Kinh nghĩa 8 vế (Ngũ Kinh mỗi kinh 1 bài, 2 bài truyện)
- Kỳ II: Chiếu, Biểu, Luận
- Kỳ III: Văn sách 10 đạo (hỏi về Ngũ Kinh, truyện và sử Hán, Đường, Tống)
Duy Tân (1909) 3 kỳ + 1 kỳ Phúc hạch - Kỳ I: Văn sách 10 bài (Ngũ Kinh, truyện, Bắc sử, Nam sử)
- Kỳ II: Thơ, Phú mỗi loại 1 bài
- Kỳ III: Luận chữ Hán (1 đề) và Luận chữ Quốc ngữ (1 đề)
- Kỳ Phúc hạch: Văn sách, Phú, Luận chữ Quốc ngữ (kỳ thi tiếng Pháp chấm điểm thưởng)
  • Bộ máy quan trường và quy trình làm việc: Phân định rành mạch giữa các chức danh Nội trường (Giám khảo, Sơ khảo, Phúc khảo), Ngoại trường (Chủ khảo, Phó Chủ khảo, Phân khảo, Đề điệu), chức năng kiểm sát độc lập của quan Giám sát (thuộc Khoa đạo) cùng lực lượng phục vụ gồm Lại phòng, Mật sát, Thể sát và binh lính canh giữ. Quy trình làm việc tuân thủ nghiêm ngặt từ khâu tiến trường, đóng dấu quyển thi, niêm yết vi, phân số hiệu, rọc phách, chấm sơ khảo, phúc khảo, duyệt khảo đến hợp phách và xướng danh yết bảng.
  • Học vị và ân điển: Quy định tiêu chuẩn phân hạng học vị Cử nhân (Hương cống) và Tú tài (Sinh đồ), chế độ cấp phát học bổng, áo mũ, yến tiệc và ân điển sau khi trúng tuyển.

Chương 2. Trường thi Hương Thăng Long – Hà Nội

Chương 2 đi sâu phân tích trường hợp trường thi Thăng Long - Hà Nội:

  • Quá trình lịch sử và không gian: Trường thi được thành lập từ thời Gia Long, kế thừa truyền thống khoa cử của đất kinh kỳ Thăng Long. Khảo sát bản đồ cổ xác định vị trí trường thi xưa nằm tại khu đất thuộc Thư viện Quốc gia Việt Nam hiện nay (phố Tràng Thi, Hà Nội). Cấu trúc trường thi gồm 4 vi lớn, quy mô tiếp nhận hàng nghìn sĩ tử mỗi khoa.
  • Biến đổi nửa sau thế kỷ XIX: Tác động của cuộc xâm lược của thực dân Pháp tại Bắc Kỳ (chiến sự đánh phá thành Hà Nội các năm 1873 và 1882) làm gián đoạn và thay đổi không gian đô thị. Đến năm 1879 là khoa thi cuối cùng tổ chức độc lập tại Hà Nội; sau đó triều đình buộc phải sáp nhập trường Hà Nội với trường Nam Định để thành lập trường thi chung Hà Nam từ khoa thi năm 1884.
  • Quan trường và giải ngạch: Khảo sát danh sách, phẩm hàm của các vị Chánh, Phó Chủ khảo (thường do các đại thần nhị phẩm, tam phẩm đảm nhiệm). Thống kê giải ngạch lấy đỗ của trường Hà Nội, hiện tượng tiêu cực và các vụ án sai phạm trường quy bị xử lý nghiêm minh (khiển trách, giáng chức, phạt trượng hoặc cách chức khảo quan vi phạm).
  • Bổ dụng và thành tựu đăng khoa: Phân tích cơ cấu bổ nhiệm các Cử nhân trường Hà Nội vào các vị trí hành chính trong bộ máy triều đình (từ quan phủ, tri huyện đến các chức vụ tại kinh đô); tỷ lệ Cử nhân trường Hà Nội tiếp tục thi đỗ Tiến sĩ, Phó bảng ở cấp thi Hội và thi Đình đạt tỷ lệ cao so với mặt bằng chung cả nước.

Chương 3. Trường thi Hương Nam Định và Hà Nam

Chương 3 tập trung phân tích trường thi Hương Nam Định và giai đoạn chuyển thành trường Hà Nam:

  • Nguồn gốc và cấu trúc: Tiền thân là trường thi Sơn Nam (thời Gia Long), sau chuyển về thành Nam Định năm 1828. Khảo cứu mặt bằng kiến trúc qua sơ đồ của Orband và bản vẽ của Trần Văn Giáp cho thấy cách bố trí các phân khu vi thi, nhà Thập đạo, nhà quan trường và hệ thống tường bao, chòi gác canh phòng.
  • Sự sáp nhập và quy mô trường Hà Nam: Từ năm 1884, sau khi sáp nhập sĩ tử Hà Nội và Nam Định, trường Hà Nam đặt tại Nam Định trở thành trung tâm khoa cử lớn nhất miền Bắc, quy tụ sĩ tử các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ (Nam Định, Hà Nội, Hải Dương, Bắc Ninh, Hưng Yên, Hà Nam, Thái Bình, Ninh Bình).
  • Biến đổi nội dung thi cử cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX: Phân tích hồ sơ lưu trữ Phông Phủ Thống sứ Bắc Kỳ (1888-1912), làm rõ quy định về các kỳ thi bổ sung chữ Quốc ngữ và tiếng Pháp bên cạnh các môn Hán văn truyền thống; yêu cầu thí sinh thực hiện các bài dịch thuật từ chữ Hán sang tiếng Pháp, từ tiếng Pháp sang Quốc ngữ và làm văn luận lịch sử, địa lý thực tế.
  • Khảo quan và bộ máy hỗn hợp: Sự xuất hiện của các giám khảo người Pháp và quan chức bản xứ biết tiếng Tây học tham gia hội đồng khảo thí bên cạnh các khảo quan Nho học do triều đình Huế bổ nhiệm. Phân tích các sai phạm, tranh chấp điểm số và kết quả tuyển chọn cử nhân trong các khoa thi cuối cùng trước khi đóng cửa vào năm 1915.

Chương 4. Một số đặc điểm thi Hương thời Nguyễn

Chương 4 tổng hợp các phân tích so sánh và đúc kết quy luật lịch sử xã hội:

  • So sánh các trường thi Hương trên toàn quốc: Phân tích dữ liệu về thời gian hoạt động, quy mô trường ốc, giải ngạch phân bổ và số lượng Cử nhân tốt nghiệp giữa các vùng Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ. Khảo sát chỉ ra sự phân hóa rõ nét về số lượng và chất lượng khoa bảng, trong đó miền Bắc và dải đất Bắc Trung Bộ (Nghệ An, Hà Tĩnh) chiếm ưu thế áp đảo về số người đỗ đạt.
  • Chính sách vùng của triều đình: Triều Nguyễn duy trì chính sách định ngạch lấy đỗ linh hoạt theo từng vùng nhằm cân đối nguồn nhân lực hành chính cho các địa phương mới khai phá (như Gia Định, Nam Bộ) hoặc vùng sâu, vùng xa, đồng thời kiểm soát ảnh hưởng chính trị của giới Nho sĩ miền Bắc.
  • Mối quan hệ giữa khoa cử với chính trị, văn hóa và xã hội: Khoa cử là công cụ then chốt duy trì trật tự ý thức hệ Nho giáo, củng cố quyền lực của chế độ quân chủ chuyên chế. Đồng thời, thi cử định hình tâm lý xã hội, thúc đẩy truyền thống hiếu học, tạo lập dòng chảy di động xã hội cho phép con em bình dân vươn lên tầng lớp quan lại thống trị.
  • So sánh đối chiếu với trường thi Hương Trung Quốc thời Minh - Thanh:
    • Về cấu trúc vật chất: Trường thi Trung Quốc (Cống viện) được xây dựng kiên cố bằng gạch đá, chia thành hàng nghìn gian ngõ xà cố định (hiệu xá); trong khi trường thi Việt Nam mang tính chất dã chiến bằng rào tre, phân chia vi, sĩ tử tự mang lều chõng vào cắm trại làm bài.
    • Về nội dung và thể lệ: Đều coi trọng văn bát cổ và kinh điển Tứ thư, Ngũ kinh theo hệ thống chú giải Chu Hy; tuy nhiên, thi Hương Việt Nam linh hoạt điều chỉnh giữa tam trường và tứ trường, đồng thời tích hợp thêm Nam sử và văn luận địa phương.
    • Về quan trường và sĩ tử: Cả hai nước đều áp dụng các biện pháp phòng ngừa gian lận (hồi tỵ, phong di, giấu tên, chấm chéo, giám sát Khoa đạo), nhưng quy mô sĩ tử và số lượng phân bổ cử nhân của Trung Quốc lớn hơn nhiều so với Việt Nam.

Kết quả và những đóng góp mới

  1. Đóng góp về mặt tư liệu:
  • Luận án hệ thống hóa và khai thác khối lượng lớn tư liệu sơ cấp đa ngữ, đặc biệt là 114 tập mục lục Châu bản triều Nguyễn và gần 50 hồ sơ lưu trữ tiếng Pháp thuộc Phông Phủ Thống sứ Bắc Kỳ chưa từng được công bố hoặc phân tích chi tiết liên quan đến trường thi Nam Định và trường Hà Nam.
  • Khôi phục bức tranh chi tiết về vị trí địa lý, quy mô diện tích và sơ đồ không gian của các trường thi Thăng Long - Hà Nội và Nam Định thông qua việc đối chiếu tài liệu địa chí với bản đồ địa chính thế kỷ XIX và khảo sát điền dã thực tế.
  1. Đóng góp về mặt nhận thức lịch sử và lý luận:
  • Làm sáng tỏ diện mạo toàn diện của cấp thi Hương thời Nguyễn trong suốt tiến trình tồn tại (1807-1915), phân tích rõ sự biến đổi thể lệ từ phép thi 4 kỳ sang 3 kỳ và quá trình chuyển đổi sang giáo dục tân học thời Pháp thuộc.
  • Chứng minh và luận giải sự tồn tại của "chính sách giáo dục vùng" của triều Nguyễn, thể hiện qua việc phân bổ giải ngạch cử nhân và bố trí mạng lưới trường thi nhằm dung hòa sự khác biệt vùng miền và đáp ứng nhu cầu cai trị của một quốc gia có lãnh thổ trải dài.
  • Chỉ rõ tính chủ động và sự thích nghi của triều Nguyễn trong việc tiếp thu mô hình khoa cử Trung Hoa, tạo nên mô hình trường thi mang tính chất thực dụng, tiết kiệm chi phí xây dựng nhưng vẫn bảo đảm các quy chuẩn khảo thí nghiêm ngặt của Nho giáo.

Luận án không đưa ra các giải pháp chính sách đương đại mà tập trung tổng kết các giá trị lịch sử về quản trị khoa cử, cơ chế khảo thí độc lập, kiểm soát quyền lực của quan trường và bài học kinh nghiệm trong việc tuyển chọn nhân tài.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của đề tài: Do đối tượng nghiên cứu tập trung vào thiết chế trường thi và quy trình tổ chức thi Hương, luận án không đi sâu phân tích nội dung tư tưởng triết học Nho giáo thể hiện trong các bài văn thi của sĩ tử (vốn phù hợp hơn ở cấp thi Hội và thi Đình). Về không gian, nghiên cứu tập trung chuyên sâu vào hai trường thi Hà Nội và Nam Định, các trường thi ở miền Trung và miền Nam chủ yếu giữ vai trò đối chiếu, so sánh. Về thời gian, luận án kết thúc ở mốc năm 1915 khi kỳ thi Hương cuối cùng ở miền Bắc chấm dứt, không bao quát giai đoạn 1918-1919 khi kỳ thi cuối cùng ở miền Trung khép lại.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục mở rộng khảo sát chi tiết đối với các trường thi Hương còn lại (trường Nghệ An, Thanh Hóa, Thừa Thiên, Bình Định, Gia Định); nghiên cứu sâu hơn về tiểu sử, hành trạng của các tầng lớp sĩ tử không đỗ đạt (Tú tài, Nho sinh) và tác động của họ đối với đời sống văn hóa làng xã nông thôn Việt Nam thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX.

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo chuyên môn đối với:

  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Lịch sử Việt Nam cổ trung đại, Lịch sử giáo dục, Văn hóa học, Hán Nôm và Xã hội học lịch sử.
  • Các nhà nghiên cứu lịch sử đô thị Hà Nội và Nam Định trong việc xác định các di tích lịch sử và không gian văn hóa giáo dục truyền thống.
  • Các cơ quan quản lý văn hóa, bảo tồn di sản trong việc khôi phục, cắm mốc hoặc phục dựng tư liệu về các địa danh trường thi lịch sử (khu vực Thư viện Quốc gia tại Hà Nội và phường Trường Thi tại thành phố Nam Định).

Các phần đáng tham khảo nhất trong luận án gồm: hệ thống bảng thống kê quan trường, quy trình tổ chức khảo thí chi tiết ở Chương 1; sơ đồ khảo cứu cấu trúc trường thi ở Chương 2 và Chương 3; hệ thống tư liệu dịch thuật từ Phông Phủ Thống sứ Bắc Kỳ và bảng phân tích so sánh Việt Nam - Trung Quốc ở Chương 4.

Câu hỏi thường gặp

  1. Thể lệ thi Hương thời Nguyễn thay đổi số lượng kỳ thi như thế nào qua các triều vua? Dưới thời Gia Long (năm 1807), thi Hương gồm 4 kỳ (Kỳ I: Kinh nghĩa; Kỳ II: Chiếu, Chế, Biểu; Kỳ III: Thơ, Phú; Kỳ IV: Văn sách). Đến năm 1832 thời Minh Mệnh, thể thức chuyển thành 3 kỳ (áp dụng từ khoa 1834: Kỳ I thi Chế nghĩa 8 vế; Kỳ II thi Thơ thất ngôn Đường luật và Phú luật; Kỳ III thi Văn sách). Năm 1851 (Tự Đức thứ 4), triều đình đổi lại thành 4 kỳ, nhưng đến năm 1855 lại quay về 3 kỳ. Đến năm 1906 thời Thành Thái, thi Hương lại đổi thành 4 kỳ kết hợp thi Hán văn, chữ Quốc ngữ và tiếng Pháp.

  2. Cấu trúc trường thi Hương ở Việt Nam có điểm gì khác biệt căn bản so với trường thi Hương (Cống viện) ở Trung Quốc? Trường thi Hương Trung Quốc thời Minh - Thanh được xây dựng kiên cố bằng gạch đá, chia thành hàng nghìn gian ngõ xà cố định (hiệu xá) khép kín để sĩ tử ăn ở, làm bài tại chỗ suốt nhiều ngày. Ngược lại, trường thi Hương Việt Nam thời Nguyễn là bãi đất trống rào giậu xung quanh, chia làm 4 vi; sĩ tử tự mang lều, chõng, chiếu, thức ăn vào cắm trại làm bài trong ngày và nộp quyển trước khi hết canh một.

  3. Bộ máy quan trường thi Hương gồm những chức danh chủ chốt nào và phân định trách nhiệm ra sao? Bộ máy quan trường chia thành ba nhóm:

  • Quan Nội trường: Giám khảo (nhận quyển), Sơ khảo (chấm sơ loại, lấy từ Cử nhân, Huấn đạo), Phúc khảo (chấm lại bài bị loại, lấy từ Giáo thụ).
  • Quan Ngoại trường: Chủ khảo và Phó Chủ khảo (quyết định lấy đỗ hay đánh hỏng), Phân khảo (giúp duyệt quyển), Đề điệu (quản lý số quyển, niêm phong, giữ sổ phách, không tham gia chấm bài).
  • Quan Giám sát (thuộc Khoa đạo): Đi lại kiểm soát độc lập ở cả Nội và Ngoại trường để phát hiện gian lận nhưng không được can thiệp vào chuyên môn chấm bài.
  1. Trường thi Hương Hà Nội được sáp nhập vào trường Nam Định trong bối cảnh lịch sử nào? Do thực dân Pháp tiến hành đánh chiếm thành Hà Nội vào các năm 1873 và 1882, tình hình an ninh và không gian đô thị Hà Nội bị xáo trộn nghiêm trọng. Sau khoa thi năm 1879, triều đình nhà Nguyễn bãi bỏ việc tổ chức thi tại trường Hà Nội và ra lệnh sáp nhập trường thi Hà Nội với trường Nam Định thành trường thi chung Hà Nam, tổ chức thi tại trường thi Nam Định từ khoa thi năm Giáp Thân (1884).

  2. Môn thi chữ Quốc ngữ và tiếng Pháp bắt đầu xuất hiện trong thi Hương thời Nguyễn từ thời điểm nào? Các môn thi chữ Quốc ngữ và tiếng Pháp bắt đầu được đưa vào thi cử tại trường thi Nam Định (Hà Nam) từ cuối thế kỷ XIX theo các quy định của chính quyền thực dân Pháp phối hợp với triều đình Huế. Đến năm 1906 (năm Thành Thái thứ 18) và từ năm 1907 khi Bộ Học được thành lập dưới thời vua Duy Tân, chữ Quốc ngữ và tiếng Pháp trở thành nội dung thi chính thức gồm các bài thi luận Quốc ngữ, dịch Pháp văn ra Hán văn hoặc Quốc ngữ trong các khoa thi 1908, 1911, 1915 và 1918.

Kết luận

Luận án của nghiên cứu sinh Đỗ Thị Hương Thảo là công trình chuyên khảo lịch sử phục dựng toàn diện thiết chế thi Hương thời Nguyễn từ năm 1807 đến năm 1915 qua trường hợp trường thi Hà Nội, Nam Định và Hà Nam. Bằng việc kết hợp phương pháp lịch sử xã hội, định lượng hóa tư liệu Đăng khoa lục và khai thác các nguồn sử liệu Châu bản, tư liệu tiếng Pháp, luận án đã làm rõ cấu trúc không gian, quy trình khảo thí, sai phạm quan trường cũng như quá trình biến đổi nội dung thi cử dưới tác động của bối cảnh thuộc địa. Công trình đã luận giải mối quan hệ giữa khoa cử với chính trị, văn hóa, xã hội và làm sáng tỏ chính sách giáo dục vùng cùng tính thích ứng bản địa của triều Nguyễn trong dòng chảy văn hóa Đông Á.