Chương 1 Một số vấn đề về giáo dục và đổi mới giáo dục. Đổi mới Giáo dục ở thành phố Hồ chí Minh 1.1Giáo dục và đổi mới giáo dục Theo tự điển “ Bách Khoa Việt Nam” thuật ngữ Giáo dục được định nghĩa như sau: - “ Giáo dục là quá trình đào tạo con người một cách có mục đích, nhằm chuẩn bị cho con người tham gia đời sống xã hội, tham gia lao động sản xuất, nó được thực hiện bằng cách được truyền thụ và lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử- xã hội của loài người. Theo đó Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc trưng của xã hội loài người. Giáo dục nẩy sinh cùng với xã hội loài người, trở thành một chức năng sinh hoạt không thể thiếu được và không bao giờ mất đi ở mọi giai đoạn phát triển của xã hội.
Giáo dục là một bộ phận của quá trình tái sản xuất mở rộng sức lao động xã hội, một trong những nhân tố quan trọng nhất thúc đẩy xã hội phát triển về mọi mặt. Giáo dục mang tính lịch sử cụ thể, tính chất, mục đích, nhiệm vụ, nội dung, phương pháp và tổ chức giáo dục biến đổi theo các giai đoạn phát triển của xã hội, theo các chế độ chính trị- kinh tế của xã hội - Giáo dục cũng là hệ thống các biện pháp, các tổ chức đào tạo và giáo dục của một nước” [22:120] Theo định nghĩa trên thì giáo dục thực hiện chức năng cần thiết cho sự tồn tại và phát triển xã hội. Điều kiện để xã hội tồn tại và phát triển là có sự tiếp nối những hiểu biết kinh nghiệm, các giá trị đạo đức…từ thế hệ này sang thế hệ khác. Sự liền lạc này thông qua chức năng của giáo dục, hay nói một cách khác Giáo dục thực hiện 13 chức năng mã di truyền văn hóa cho sự tồn tại và phát triển của nền văn hóa và xã hội loài người.
Chức năng của giáo dục bản thân đã hàm chứa yêu cầu đổi mới liên tục vì xã hội là luôn đổi mới và phát triển, có như vậy giáo dục mới đảm nhận nhiệm vụ quan trọng trong quá trình vận động tiến lên của xã hội. Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người việc truyền đạt những hiểu biết, năng lực và phẩm chất được tiến hành theo các phương thức khác nhau: a/ Phương thức kèm cặp ngay trong cuộc sống, đây là phương thức giáo dục chủ yếu trong các xã hội nguyên thủy và vẫn tiếp tục tồn tại trong tất cả các xã hội tiếp theo. b/ Phương thức giáo dục bằng tuyên truyền qua cộng đồng, bằng dư luận, bằng các hình thức văn học-nghệ thuật, bằng tập quán, tín ngưỡng…Phương thức giáo dục này đã có từ xã hội nguyên thủy và ngày càng phát triển đa dạng.[29:19] c/ Phương thức giáo dục có trường lớp, có thầy và trò, có chương trình và thời gian nhất định để dạy và học, thầy và trò liên hệ trực tiếp với nhau trong dạy và học. Phương thức giáo dục này xuất hiện sau hai phương thức trên khi lượng tri thức của xã hội tăng lên, sự phân công trong xã hội trở thành nền nếp.
Ngày nay nhờ vào tiến bộ của công nghệ thông tin, phương thức giáo dục có trường lớp có phát triển hình thức mới là phương thức giáo dục từ xa có nội dung, có chương trình, có người dạy và người học, nhưng không có (hay gần như không có) trường lớp, hình thức giáo dục này đang phát triển. Giáo dục theo nghĩa rộng bao gồm cả ba phương thức nêu trên. Còn giáo dục theo nghĩa hẹp là giáo dục theo phương thức thứ ba, giáo dục đươc tiến hành trong các trường, lớp với một chương trình học được xác định. Với sự 14 phát triển của lịch sử, phương thức giáo dục này ngày càng phát triển về số lượng, về nội dung dạy và học, trở thành bộ phận chủ yếu trong hoạt động giáo dục của xã hội.
Do đó khi nói đến giáo dục phổ thông, giáo dục chuyên nghiệp, giáo dục dạy nghề, giáo dục đại học…là người ta nói đến giáo dục theo nghĩa hẹp. Đây cũng là đối tượng nghiên cứu chủ yếu của khoa học giáo dục. Các thành phần của giáo dục [29] Di sản xã hội mà thế hệ trước đã tích lũy và hình thành, thế hệ sau thừa kế và lại tiếp tục truyền lại cho thế hệ kế tiếp và cứ như thế tiếp nối mãi mãi thông qua con đường giáo dục bao gồm những hiểu biết, năng lực và phẩm chất giúp cho mỗi thế hệ không những có thể tiếp tục tồn tại ở trình độ các thế hệ trước đã đạt được mà còn tiếp tục phát triển cao hơn. Hiểu biết là cơ sở cần thiết cho năng lực và cho phẩm chất; Năng lực là vận dụng hiểu biết để hành động có kết quả, để giải quyết những vấn đề của cuộc sống đặt ra; Phẩm chất thể hiện thái độ và tình cảm đối với những việc diễn ra trong cuộc sống và nhằm chỉ đạo hành động.
Ba vấn đề này trong nội dung giáo dục có liên quan mật thiết với nhau, làm điều kiện và bổ sung cho nhau. Kết quả tổng hợp của hiểu biết, năng lực, phẩm chất thể hiện trình độ phát triển của một xã hội mà còn mang dấu ấn, những nét đặc thù và độc đáo của mỗi xã hội nhất định. Ba vấn đề trên thuộc về ba lãnh vực hoạt động tinh thần khác nhau của một cá nhân hay của tập thể nên đòi hỏi những phương pháp giáo dục khác nhau và có những khái niệm để chỉ các hoạt động truyền thụ ba nội dung giáo dục khác nhau đó. Giáo dục về hiểu biết được gọi là trí dục, giáo dục phẩm chất được gọi là đức dục, giáo dục về năng lực được gọi là tập luyện.
Cũng như giữa hiểu biết, năng lực và phẩm chất, giữa ba bộ phận giáo dục này có sự 15 liên quan mật thiết với nhau, không tách rời nhau. Ngoài Trí dục và Đức dục còn có Thể dục và Mỹ dục. Công tác giáo dục (với nghĩa hẹp) bao giờ cũng đặt ra sáu vấn đề phải được giải quyết thì mới tiến hành giáo dục được: - Giáo dục nhằm mục đích gì? - Giáo dục ai ( ai học)? - Giáo dục cái gì? - Giáo dục bằng cách nào? - Giáo dục bằng phương tiện gì? - Ai giáo dục (ai dạy)? Sáu vấn đề trên liên quan mật thiết với nhau, làm điều kiện cho nhau, chi phối lẫn nhau. Vì liên quan trực mật thiết với nhau, không tách rời nhau nên trong thực tiễn công tác giáo dục, sáu vấn đề này hợp thành một thể thống nhất, biểu hiện ở hai mức độ khác nhau: - Ở mức độ quá trình dạy học, tức là trong quá trình diễn biến, tiến triển của việc dạy và học - Ở mức độ hệ thống giáo dục, tức là không chỉ trong mối quan hệ giữa người dạy và người học mà còn cả trong hệ thống các mối quan hệ của người dạy, người học với cả xã hội Bằng con đường giáo dục, xã hội ngày một tiến bộ, văn hóa được nâng lên, văn minh càng cao thì đồng thời giáo dục cũng phải có những thay đổi cho phù hợp với những tiến bộ của xã hội, các hoạt động xã hội có sự thay đổi tích cực để tiến lên trong đó vai trò của giáo dục luôn ở vị trí tiên phong.
Mỗi thời đại, mỗi phương thức sản xuất có nền giáo dục tương ứng để phục vụ cho xã hội đó. Thời Phong kiến giáo dục theo Nho giáo là tự phát trong nhân dân, nhà nước chủ yếu tổ chức thi các cấp để tuyển chọn quan lại cho hệ thống cai trị. Có thể nói hệ thống giáo dục trong suốt khoảng chín thế kỷ thời Phong kiến là hệ thống giáo dục khoa cử [30:44]. 16 Thời Pháp thuộc, chính quyền thực dân không chủ trương đào tạo nhiều, đào tạo ở trình độ cao mà chỉ đào tạo một thiểu số người Việt ở mức độ trung bình để giúp việc cho bộ máy cai trị.
Năm 1924, toàn quyền Merlin đã đề ra chương trình “ phát triển giáo dục theo chiều nằm, chứ không phát triển giáo dục theo chiều đứng” vì theo Merlin 9/10 học sinh nông thôn Việt Nam không có năng lực học hết bậc trường trung học. Do đó các trường hệ tiểu học hoàn chỉnh chỉ có ở những thị xã, tỉnh; trường cao đẳng tiểu học (trung học cơ sở bay giờ) chỉ có ở tỉnh, thành phố. Hệ quả của chính sách giáo dục thời Pháp thuộc là dân trí Việt nam rất thấp với hơn 95% dân số mù chữ [11:13,14]. Đến thời kháng chiến chống Pháp (1945-1954), ngay sau khi giành lại độc lập, Đảng và nhà nước đã quan tâm đến giáo dục qua lời nói của bác Hồ: “ Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”.
Do đó ngay khi nắm chính quyền Đảng và nhà nước, trên cơ sở tiếp quản nền giáo dục thời Pháp đã tiến hành xây dựng nền giáo dục dân tộc và dân chủ, phục vụ kháng chiến và kiến quốc. Xây dựng một nền giáo dục mới của dân, do dân, vì dân. Nhằm mục đích đào tạo những thế hệ người Việt Nam trên quy mô lớn, được thiết kế trên nguyên tắc: “ dân tộc, khoa học, đại chúng” [38:50] Quan điểm chỉ đạo phát triển giáo dục trong giai đoạn xây dựng CNXH ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà (1954-1975) Sau 1954, cách mạng Việt Nam bước vào giai đoạn mới, giai đoạn thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là: xây dựng CNXH ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà. Quan điểm chỉ đạo trong giai đoạn này trên cơ sở của nền dân chủ nhân dân đã được hình thành, xây dựng nền giáo dục XHCN qua việc cải tạo hệ thống giáo dục theo mô hình của Pháp trước đây thành hệ thống giáo dục theo mô hình các nước thuộc phe XHCN, chủ yếu là Liên Xô.
17 Đặc điểm chính của mô hình giáo dục trong giai đoạn này: Giáo dục là công cụ của chuyên chính vô sản, Đảng lãnh đạo nhà trường, giáo dục là một bộ phận của cách mạng văn hóa- tư tưởng. Trong giai đoạn này có sự kiện quan trong của giáo dục, đó là cuộc cải cách giáo dục lần thứ II năm 1956. Mục tiêu của cải cách giáo dục lần thứ II: Đào tạo, bồi dưỡng thế hệ trẻ thành những người phát triển về mọi mặt. Phương châm giáo dục: Liên hệ lý luận với thực tiễn, gắn nhà trường với đời sống xã hội.