Chương 1, với tiêu đề “Tổng quan về sách giáo khoa Hán văn Địa lý trong chương trình cải lương giáo dục chữ Hán năm 1906” trên cơ sở cái nhìn toàn cảnh về cuộc cải lương giáo dục 7 z khoa cử của Pháp năm 1906, chúng tôi sẽ lập danh mục các sách địa lý trong chương trình cải lương giáo dục khoa cử hiện đang còn được lưu trữ tại kho sách Hán Nôm, từ đó phân loại chúng, rút ra nhận xét về sách giáo khoa Hán văn địa lý được sử dụng trong cuộc cải lương giáo dục năm 1906. Chương 2, với tiêu đề “Sách giáo khoa Hán văn địa lý trong cải lương giáo dục khoa cử (1906) trường hợp Địa học nguyên thủy 地學原 始 và Nam quốc địa dư 南國地輿 nhằm đi sâu nghiên cứu nội dung của cuốn Địa học nguyên thủy 地學原始 - đại diện cho hệ thống sách phụ thuộc Pháp và cuốn Nam quốc địa dư 南國地輿 của trường Đông Kinh Nghĩa - đại diện cho sách Hán văn địa lý yêu nước. Qua đó làm rõ sự khác biệt và ý nghĩa lịch sử xã hội của hai khuynh hướng giáo dục trong cùng giai đoạn cải lương giáo dục 1906. 8 z 9 z CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ SÁCH GIÁO KHOA HÁN VĂN ĐỊA LÝ TRONG CHƢƠNG TRÌNH CẢI LƢƠNG GIÁO DỤC CHỮ HÁN NĂM 1906 Địa lý là môn học hoàn toàn mới trong chương trình cải lương giáo dục chữ Hán 1906.
Để có cái nhìn tổng quan về sách giáo khoa Hán văn địa lý trong chương trình cải lương giáo dục chữ Hán (1906) cũng như qua đó có thể thấy được môn Địa lý được giảng dạy và học như thế nào, trước tiên chúng ta phải có cái nhìn chung về cải lương giáo dục khoa cử năm 1906. Khái quát về cải lƣơng giáo dục khoa cử năm 1906 Cuối thế kỉ XIX, thực dân Pháp về cơ bản đã đặt xong nền đô hộ trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Tuy vậy ở Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ vẫn tồn tại ba chế độ giáo dục khác nhau, gây nhiều khó khăn cho thực dân Pháp trong quản lí và chỉ đạo. Âm mưu xác lập nền giáo dục thực dân ở Việt Nam, loại bỏ chữ Nho và văn hóa Hán học ra khỏi nhân dân ta, đào tạo đội ngũ tay sai phục vụ công cuộc khai thác thuộc địa của Pháp vẫn gặp nhiều trở ngại.
Trước tình hình đó, Pháp buộc phải cải cách giáo dục nhằm hòa nhập nền giáo dục phong kiến cũ và giáo dục tư sản thực dân. Những năm đầu thế kỉ XX, thực dân Pháp thi hành một loạt các chính sách trong giáo dục: thiết lập Hội đồng hoàn thiện nền giáo dục bản xứ (Consiel de Perfectionnement de I‟Enseigement indigène), thành lập Cải lương học vụ hội đồng, thiết lập chương trình giáo dục Pháp – Việt ở Trung Kỳ… trong đó đặc biệt phải kể đến chương trình cải lương giáo dục khoa cử của Pháp (lần 1 năm 1906 và lần 2 năm 1917). Khái niệm cải lương giáo dục chữ Hán chỉ thực sự được hình thành trên cơ sở của Đạo dụ ngày 31/05/1906 giữa Nam triều và chính quyền thực dân Pháp. Đạo dụ cho phép thành lập Cải lương học vụ Hội đồng ấn định về phép học chữ Hán.
Cùng ngày, Đạo dụ về việc cải cách thi Hương, thi Hội, đưa chữ Pháp vào chương trình thi do vua Thành Thái ban ra thay 10 z đổi phép thi. Như vậy, Cải lương giáo dục khoa cử gắn với một loạt các thay đổi trong giáo dục như: hệ thống trường học, cấp học, môn học, môn thi, kỳ thi, đề thi, bằng cấp… nhằm vào mục tiêu đào tạo con người của thực dân Pháp. Khi đó, trên lãnh thổ Việt Nam tồn tại hai hệ thống giáo dục cơ bản. Đó là hệ thống giáo dục khoa cử cải lương và hệ thống giáo dục Pháp – Việt.
So với nền giáo dục Pháp – Việt thì hệ thống giáo dục khoa cử cải lương khác nhau về mục tiêu, đối tượng, phương pháp, chương trình, bằng cấp và xu hướng phát triển. Hệ thống giáo dục Pháp – Việt áp dụng nền giáo dục hiện đại, lấy khoa học thường thức làm hệ kiến thức, dạy bằng Quốc ngữ và tiếng Pháp. Nền giáo dục ấy chia làm 2 loại: giáo dục phổ thông và giáo dục chuyên nghiệp. Hệ thống trường chữ Hán được cải lương từ giáo dục khoa cử, nền tảng là hệ thống trường thiên thành trước đó thành hệ thống trường chính quy dưới sự quản lý của thực dân Pháp, kết hợp giữa kiến thức khoa học phổ thông với kinh điển; dạy bằng chữ Hán, chữ Quốc ngữ và chữ Pháp, trong đó chữ Hán là trọng tâm.
[Đoàn Huy Oánh, 2004, tr.444] Chương trình cải lương giáo dục khoa cử hướng đến giáo dục phổ thông, trong đó, chủ yếu dùng chữ Hán là ngôn ngữ truyền tải các tri thức phổ thông hiện đại thể hiện ở một loạt các phương diện: cấp học, phép thi và hệ thống sách giáo khoa. Nội dung giáo dục các bậc học Chương trình cải lương giáo dục khoa cử năm 1906 chia trường học chữ Nho và gộp những người đang theo học chữ Nho của giáo dục khoa cử thành 3 bậc: Ấu học (Sơ cấp), Tiểu học (Đệ nhị cấp) và Trung học (Đệ tam cấp) với nội dung như sau: 1. Bậc Ấu học Bậc Ấu học do xã thôn thiết lập dạy trẻ em, bao gồm cả nam và nữ có độ tuổi từ 6 đến 12 tuổi. 11 z - Các xã thôn được phép tuyển chọn thầy giáo cho trường nhưng phải được sự phê chuẩn của chính quyền.
- Việc kiểm sát trường Ấu học ở hương thôn do các giáo thụ, huấn đạo ở phủ huyện đảm nhiệm. - Ở tỉnh lỵ cũng thiết lập các trường Ấu học theo đúng quy thức chuẩn. Kinh phí do tỉnh chu cấp. - Giáo quy của trường Ấu học gồm có 2 loại: giáo quy Hán tự và giáo quy Nam âm.
Giáo quy Hán tự chuyên dạy các môn chữ Hán về các lĩnh vực chính trị, luân lý, địa lý. Giáo quy Nam âm dạy chữ Quốc ngữ với các độc bản thuộc phạm trù: phong tục, chính trị, luân lý, thiên văn, địa lý và vệ sinh. - Học hết chương trình Ấu học, thí sinh trải qua kỳ thi tốt nghiệp lấy bằng Tuyển sinh. Cũng tùy vào điều kiện kinh tế, địa lý của từng địa phương mà hệ thống trường Ấu học phân thành 3 loại trường.
Trường 1 năm mở ở các làng xã xa xôi hẻo lánh, chỉ dạy Quốc ngữ. Trường 2 năm dạy Quốc ngữ và chữ Hán. Trường 3 năm dạy cả Chữ Hán, Quốc ngữ và Pháp văn. Chương trình thi Tuyển sinh gồm có: Thi viết và thi vấn đáp.
Thi viết: chính tả kiêm tập viết (bằng Quốc ngữ), toán: 4 phép toán và đo lường, bài thi tự chọn: dịch Hán – Quốc ngữ. Thi vấn đáp: tập đọc về phong tục, luân lý hoặc cách trí, toán, đọc và dich Hán – Việt, đọc tiếng Pháp (tự chọn). [Phan Trọng Báu, 2004, Tr. Bậc Tiểu học Trường Tiểu học được mở ở các phủ, huyện (còn có tên gọi là trường Giáo thụ, Huấn đạo), thu nhận những người dưới 27 tuổi.
Giáo quy của trường Tiểu học thường có hai loại: một là giáo quy Hán tự, hai là giáo quy Nam âm. Giáo quy Hán tự dạy chữ Hán thuộc các môn: Luân lý, Văn chương, Bắc sử, Nam sử, Địa lý. Giáo quy Nam âm dạy các bài độc bản về: lịch sử thế giới trong đó học kĩ về lịch sử Pháp, công cuộc bảo hộ của Pháp ở Đông Dương, Địa lý, Cách trí, Toán học và 12 z dạy thêm cả Tiếng Pháp. Trong trường hợp giáo quy Nam âm không kiêm nhiệm được môn Tiếng Pháp thì sẽ nhờ sự giúp đỡ của các giáo quy trường Pháp – Việt.
Quan đốc học chịu trách nhiệm quản lý các trường Tiểu học, tiến hành tố chức thi tốt nghiệp Tiểu học, thí sinh thi đỗ được cấp bằng Khóa sinh. Như vậy, chương trình dạy của bậc Tiểu học bao gồm các môn của 3 thứ chữ. Chữ Quốc ngữ chiếm nhiều giờ hơn 15 giờ 30 mỗi tuần. Chữ Hán chiếm vị trí quan trọng sau chữ Quốc ngữ với 10 giờ, ngoài các môn học mới như: địa dƣ, chính trị, luật lệ … chương trình Hán học còn khá nặng vì vẫn tiếp tục học Tứ Thư (đã san định lại).
Chữ Pháp tuy ở vị trí sau cùng nhưng thực chất cũng chiếm đến gần 10 giờ mỗi tuần, chủ yếu tập trung vào hai môn chính: tập đọc, tập làm văn (5 giờ 45) tập đối thoại (3 giờ 35). Thi Khóa sinh thí sinh trải qua 2 vòng thi: thi viết và thi vấn đáp. Thi viết quốc ngữ: một bài luận và 2 bài toán; chữ Hán: 1 bài dịch Pháp văn – Hán văn, 1 bài dịch Hán văn – Pháp văn và 1 bài chính tả. Thi vấn đáp quốc ngữ: trả lời câu hỏi về các môn cách trí hoặc vệ sinh, địa lý, lịch sử, hành chính; chữ Hán đọc dịch một bài Hán văn ra Pháp văn; Chữ Pháp: đọc và trả lời những câu hỏi của thầy giáo về các nhân vật hoặc các mối quan hệ xã hội, các phạm trù khác.
Học sinh đã có bằng Khóa sinh sau 2 năm học được miễn sưu dịch 3 năm và có quyền tiếp tục học lên Trung học. Bậc Trung học Trường Trung học được mở ở các tỉnh lỵ do quan Đốc học phụ trách, học trong 3 năm, thu nhận học sinh dưới 30 tuổi. Giáo quy trường Trung học chia thành 2 loại: giáo quy Hán tự và giáo quy Nam âm kiêm Pháp văn. Giáo quy Hán tự dạy văn bản chữ Hán tương đối cao hơn, và các thể thức văn bản.
Giáo quy Quốc ngữ dạy lịch sử, địa lý, cách trí, toán pháp, làm văn. Môn tiếng Pháp dạy Pháp văn tự thoại sơ đẳng. Học xong bậc Trung học, học sinh trải qua kỳ thi tốt nghiệp 13 z với môn viết và môn vấn đáp nhưng yêu cầu cao hơn. Thi đỗ lấy bằng Thí sinh, được miễn sưu dịch 1 năm và được tiếp tục đi thi Hương.
Năm 1906 cả nước mới có 26 trường trung học. Phan Ngọc Liên, 2006] Như vậy, thực dân Pháp đã tiến hành cải cách giáo dục nhằm dần hòa nhập giáo dục phong kiến khoa cử và giáo dục tư sản, dần dà đưa tiếng Pháp chính thức vào các trường Hán học cải lương.