Bức Thư Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh Về Ngày Khai Giảng Đầu Tiên Sau Độc Lập

Chuyên khảo phân tích Văn mẫu 5 tập 1, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo., phục vụ nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Chuyên ngành

Lịch Sử

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Bài Tiểu Luận

1945

316
3
0

Phí lưu trữ

75 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan ý nghĩa Bức thư khai giảng của Hồ Chí Minh

Bức thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi các em học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mang một ý nghĩa lịch sử vô cùng sâu sắc. Ra đời chỉ vài ngày sau khi Người đọc bản Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình, bức thư không chỉ là lời chúc mừng mà còn là một văn kiện mang tính chiến lược, định hướng cho sự nghiệp giáo dục non trẻ của quốc gia. Bối cảnh năm học 1945-1946 diễn ra trong một giai đoạn đặc biệt, khi dân tộc vừa thoát khỏi ách đô hộ gần một thế kỷ. Nền giáo dục cũ kỹ, lạc hậu của chế độ thực dân đã để lại những hậu quả nặng nề. Do đó, ngày khai trường đầu tiên này đánh dấu một bước ngoặt, mở ra kỷ nguyên mới cho giáo dục Việt Nam, một nền giáo dục của độc lập, tự do và dân chủ. Bức thư của Hồ Chí Minh: Khai giảng đầu tiên sau Độc lập không chỉ là lời hiệu triệu, mà còn là sự gửi gắm niềm tin và hy vọng của vị lãnh tụ tối cao vào thế hệ trẻ Việt Nam. Người đã nhận thấy vai trò then chốt của giáo dục trong công cuộc kiến thiết đất nước. Lời văn trong thư giản dị, gần gũi nhưng chứa đựng những tư tưởng lớn lao. Mỗi câu, mỗi chữ đều toát lên tình cảm yêu thương chân thành và sự kỳ vọng lớn lao mà Bác Hồ gửi thư cho học sinh. Người khẳng định tầm quan trọng của việc học tập, xem đó là nền tảng để xây dựng lại cơ đồ mà tổ tiên để lại, đưa non sông Việt Nam tiến lên. Bức thư đã trở thành một di sản Hồ Chí Minh vô giá, là kim chỉ nam cho nhiều thế hệ nhà giáo và học sinh, khẳng định giáo dục là quốc sách hàng đầu trong mọi giai đoạn phát triển của đất nước.

1.1. Bối cảnh lịch sử ra đời bức thư ngày 5 9 1945

Bức thư ra đời trong một bối cảnh đặc biệt. Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa được thành lập. Dân tộc ta vừa giành lại độc lập sau hơn 80 năm bị thực dân Pháp đô hộ. Nhiệm vụ xây dựng một chế độ mới, một nền văn hóa và giáo dục mới được đặt ra vô cùng cấp thiết. Bức thư được viết ngay sau những ngày tháng lịch sử đó, thể hiện tầm nhìn xa trông rộng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vai trò của giáo dục đối với vận mệnh quốc gia.

1.2. Ý nghĩa lịch sử của ngày khai trường đầu tiên

Ngày khai trường đầu tiên sau độc lập không chỉ là một sự kiện giáo dục đơn thuần. Nó mang ý nghĩa của một cuộc cách mạng trong tư tưởng. Lần đầu tiên, học sinh Việt Nam được học tập trong một nền giáo dục hoàn toàn của dân tộc, do dân tộc và vì dân tộc. Sự kiện này khẳng định mạnh mẽ quyền tự chủ về văn hóa, đặt nền móng cho việc đào tạo ra những công dân có đủ tài năng và phẩm chất để xây dựng một nước Việt Nam mới.

II. Thách thức giáo dục trong ngày khai giảng đầu tiên

Trong ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam độc lập, nền giáo dục quốc gia phải đối mặt với vô vàn khó khăn, thách thức. Hậu quả của chính sách giáo dục ngu dân dưới thời Pháp thuộc còn rất nặng nề. Hơn 90% dân số mù chữ, cơ sở vật chất trường lớp thiếu thốn, đội ngũ giáo viên vừa thiếu vừa yếu, chương trình giảng dạy chưa được xây dựng một cách hệ thống. Nhiệm vụ của ngành giáo dục lúc bấy giờ là phải nhanh chóng xóa bỏ tàn dư của nền giáo dục cũ, đồng thời xây dựng một hệ thống giáo dục mới tiến bộ, dân chủ và khoa học. Bức thư của Hồ Chí Minh: Khai giảng đầu tiên sau Độc lập ra đời chính trong bối cảnh đó, như một nguồn động viên to lớn, tiếp thêm sức mạnh cho toàn ngành. Thách thức lớn nhất không chỉ nằm ở việc thiếu thốn vật chất mà còn ở việc thay đổi tư duy, nhận thức. Cần phải làm cho mọi người hiểu rằng học tập không còn là đặc quyền của một nhóm nhỏ mà là quyền lợi và nghĩa vụ của mọi công dân. Việc học không chỉ để làm quan, mà quan trọng hơn là để làm người, để phục vụ Tổ quốc. Lời dặn của Bác trong thư đã chỉ ra phương hướng, giúp ngành giáo dục vượt qua những bỡ ngỡ ban đầu. Người nhấn mạnh vai trò của cả thầy và trò trong việc chung tay xây dựng nền móng cho sự nghiệp giáo dục nước nhà. Đây là một cuộc chiến trên mặt trận văn hóa, một cuộc chiến cam go không kém gì cuộc chiến đấu giành độc lập dân tộc.

2.1. Tàn dư của nền giáo dục nô lệ thời Pháp thuộc

Nền giáo dục thực dân được thiết lập không nhằm mục đích nâng cao dân trí mà để phục vụ cho bộ máy cai trị. Chương trình học nặng về nhồi sọ, xa rời thực tiễn, tạo ra một lớp người chỉ biết phục tùng. Tỷ lệ người biết chữ rất thấp, cơ hội đến trường của con em nhân dân lao động gần như không có. Việc xóa bỏ những tàn dư này và xây dựng một triết lý giáo dục mới là nhiệm vụ vô cùng khó khăn.

2.2. Nhiệm vụ cấp bách Xây dựng nền giáo dục mới

Ngay sau Cách mạng tháng Tám, một trong những nhiệm vụ cấp bách là xây dựng nền giáo dục mới của nhân dân. Điều này bao gồm việc mở các lớp bình dân học vụ để xóa mù chữ, biên soạn lại sách giáo khoa với nội dung yêu nước và khoa học, đào tạo cấp tốc đội ngũ giáo viên. Tất cả đều phải bắt đầu từ con số không, trong điều kiện đất nước còn vô vàn khó khăn về kinh tế và an ninh.

III. Phân tích nội dung bức thư Bác Hồ gửi cho học sinh

Nội dung Bức thư của Hồ Chí Minh: Khai giảng đầu tiên sau Độc lập chứa đựng những tư tưởng cốt lõi, sâu sắc và đầy tâm huyết. Mở đầu, Chủ tịch Hồ Chí Minh bày tỏ niềm vui, sự sung sướng khi chứng kiến ngày khai trường đầu tiên trong nền độc lập. Người so sánh sự thay đổi này với các em học sinh, từ thân phận nô lệ bước sang cuộc đời tự do. Trọng tâm của bức thư là lời dặn của Bác về nhiệm vụ của học sinh. Người nhấn mạnh rằng, tương lai của đất nước nằm trong tay thế hệ trẻ. Bức thư đặt ra một câu hỏi tu từ đầy sức nặng: "Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em.". Câu nói này không chỉ là một lời khích lệ mà còn là sự giao phó trách nhiệm lịch sử cho các em học sinh. Bác Hồ gửi thư cho học sinh với một niềm tin tưởng tuyệt đối. Người tin rằng thế hệ trẻ Việt Nam sẽ nỗ lực học tập, rèn luyện để trở thành những người chủ tương lai của đất nước. Bác khuyên các em phải cố gắng, siêng năng học tập, ngoan ngoãn, nghe thầy, yêu bạn. Những lời khuyên này tuy giản dị nhưng là nền tảng cốt lõi để hình thành nhân cách một công dân tốt. Qua đó, bức thư đã vạch ra mục tiêu và phương hướng cho cả một thế hệ, gắn liền việc học tập của cá nhân với vận mệnh của cả dân tộc.

3.1. Lời dặn của Bác về sự nghiệp giáo dục quốc dân

Trong thư, lời dặn của Bác không chỉ hướng đến học sinh mà còn bao hàm cả tầm nhìn về sự nghiệp giáo dục. Bác xác định rõ mục tiêu của giáo dục là đào tạo những công dân có ích, có đủ năng lực để kiến thiết đất nước. Giáo dục phải gắn liền với thực tiễn, phục vụ cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đây là tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt, định hình triết lý giáo dục của Việt Nam.

3.2. Phân tích niềm tin vào thế hệ trẻ Việt Nam

Niềm tin vào thế hệ trẻ Việt Nam là một điểm sáng nổi bật trong bức thư. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đánh giá cao vai trò của thanh niên, thiếu niên và nhi đồng. Người thấy được sức mạnh, sự nhiệt huyết và khả năng sáng tạo của tuổi trẻ. Bằng việc giao phó trọng trách lớn lao cho thế hệ non trẻ, Người đã khơi dậy lòng tự hào dân tộc và ý thức trách nhiệm công dân trong mỗi học sinh.

IV. Bí quyết thực hiện lời dặn của Bác trong bức thư

Để thực hiện hiệu quả lời dặn của Bác trong bức thư khai giảng đầu tiên, mỗi học sinh cần xác định rõ vai trò và trách nhiệm của mình. Bí quyết cốt lõi nằm ở việc biến việc học tập thành một quá trình tự giác, chủ động và sáng tạo. Nhiệm vụ của học sinh không chỉ dừng lại ở việc tiếp thu kiến thức trong sách vở. Quan trọng hơn, các em cần rèn luyện đạo đức, tác phong, trở thành con ngoan, trò giỏi. Việc "siêng năng học tập, ngoan ngoãn, nghe lời thầy cô, yêu mến bạn bè" chính là con đường cụ thể nhất để hiện thực hóa kỳ vọng của Bác. Điều này đòi hỏi sự nỗ lực không ngừng nghỉ, vượt qua mọi khó khăn để chiếm lĩnh tri thức. Bên cạnh đó, việc học phải đi đôi với hành, kiến thức phải được áp dụng vào thực tiễn cuộc sống, phục vụ cho công cuộc kiến thiết đất nước. Mỗi học sinh cần nuôi dưỡng hoài bão, ước mơ cống hiến, góp phần làm cho non sông Việt Nam ngày càng giàu đẹp. Trách nhiệm đó không của riêng ai, mà là của cả thế hệ trẻ Việt Nam. Thực hiện lời Bác dạy cũng có nghĩa là xây dựng cho mình một phương pháp học tập khoa học, biết kết hợp giữa học ở trường, học trong sách vở và học ngoài xã hội. Tinh thần tự học, tự rèn luyện chính là chìa khóa để mỗi cá nhân có thể phát triển toàn diện, sẵn sàng gánh vác sứ mệnh sánh vai các cường quốc năm châu.

4.1. Nhiệm vụ của học sinh trong công cuộc kiến thiết

Bức thư xác định rõ, nhiệm vụ của học sinh là học tập tốt để sau này tham gia vào công cuộc kiến thiết đất nước. Đây là một nhiệm vụ vẻ vang và nặng nề. Nó đòi hỏi học sinh không chỉ giỏi về chuyên môn mà còn phải có phẩm chất đạo đức tốt, có lòng yêu nước nồng nàn và ý chí vươn lên mạnh mẽ. Mỗi tri thức học được hôm nay đều là một viên gạch xây dựng nên tương lai của dân tộc.

4.2. Vai trò của học tập để sánh vai cường quốc năm châu

Khát vọng sánh vai các cường quốc năm châu là một mục tiêu lớn mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt ra. Để đạt được mục tiêu đó, con đường duy nhất là thông qua giáo dục và khoa học công nghệ. Việc học tập của mỗi học sinh không chỉ vì tương lai của bản thân mà còn vì vị thế của quốc gia trên trường quốc tế. Nền tảng tri thức vững chắc của thế hệ trẻ chính là sức mạnh nội sinh quan trọng nhất để đưa đất nước phát triển.

V. Giá trị thực tiễn từ bức thư khai giảng sau độc lập

Bức thư của Hồ Chí Minh: Khai giảng đầu tiên sau Độc lập không chỉ mang giá trị lịch sử mà còn có sức sống mãnh liệt và ý nghĩa thực tiễn sâu sắc cho đến ngày nay. Giá trị lớn nhất của bức thư nằm ở việc khẳng định vai trò trung tâm của con người, đặc biệt là thế hệ trẻ Việt Nam, trong sự phát triển của đất nước. Tư tưởng này vẫn còn nguyên giá trị trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp 4.0. Di sản Hồ Chí Minh về giáo dục, được thể hiện cô đọng trong bức thư, luôn là nguồn cảm hứng cho các thế hệ học sinh và nhà giáo. Trong bối cảnh hiện tại, lời dặn của Bác về việc học tập để kiến thiết đất nước càng trở nên cấp thiết. Việc học không chỉ là tích lũy kiến thức mà còn phải rèn luyện kỹ năng, tư duy sáng tạo, khả năng thích ứng để đáp ứng yêu cầu của xã hội hiện đại. Thông điệp về việc học tập để đưa Việt Nam sánh vai các cường quốc năm châu vẫn là mục tiêu phấn đấu của toàn dân tộc. Bức thư là lời nhắc nhở thường trực về trách nhiệm của mỗi công dân đối với vận mệnh quốc gia. Mỗi khi ngày khai trường đầu tiên của năm học mới đến, những lời dạy của Người lại vang lên, thôi thúc tinh thần hiếu học và khát vọng cống hiến trong mỗi con người Việt Nam. Giá trị của bức thư là bất biến, là ngọn đuốc soi đường cho sự nghiệp giáo dục Việt Nam trên hành trình hội nhập và phát triển.

5.1. Sức sống của bức thư trong giáo dục Việt Nam

Trải qua nhiều thập kỷ, những tư tưởng trong bức thư vẫn giữ nguyên giá trị. Nó được đưa vào chương trình giảng dạy, trở thành nguồn tư liệu quý giá để giáo dục lý tưởng, đạo đức cho học sinh. Bức thư là minh chứng cho thấy sự quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhà nước đối với giáo dục, coi đây là nền tảng cho sự phát triển bền vững của quốc gia.

5.2. Liên hệ bản thân từ lời dặn của Bác cho thế hệ trẻ

Đối với học sinh ngày nay, việc liên hệ bản thân với lời dặn của Bác là vô cùng cần thiết. Mỗi học sinh cần tự hỏi mình đã học tập và rèn luyện như thế nào để xứng đáng với sự tin yêu của Bác. Từ đó, xây dựng kế hoạch học tập cụ thể, tích cực tham gia các hoạt động xã hội, rèn luyện kỹ năng sống để trở thành một công dân toàn cầu, sẵn sàng phụng sự Tổ quốc.

11/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đọc kĩ bài: chỉ tiết nổi bật. - Đọc nhiều tần bức thư, nhớ kĩ các hình ảnh và đầy hi vọng, tin tưởng của Bác vào học Sỉ nh- những - - Đọc diễn cảm bằng giọng thân ái, xúc động, tương lai. người sẽ kế tục sự nghiệp của ông cha trong Nam, Dân chủ, Cộng hoà, tưởng tượng, tựu trường, - Chú ý các từ ngữ khó phát âm: khai trường, Việt cầu, hãy, siêng năng, ngoan ngoãn, nô lệ, hoàn vui vẻ, sung sướng, hoàn toàn, may mắn, hi sinh, nghĩ, làm, kiến thiết, cường quốc, năm châu,. H, Tóm tắt nội dung: học sinh cả nước, nhân ngày Đây là bức thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi được độc lập sau 80 năm bị thực dân khai giảng đầu tiên khi nước nhà giành nhiệm to lớn của học sinh đối với Pháp đô hộ.

Qua bức thư, Bác nêu lên trách học, nghe thầy, yêu bạn. Bác tin tương lai đất nước; khuyên học sinh chăm tục xứng đáng sự nghiệp của tưởng, hi vọng vào thế hệ trẻ, những người sẽ kế nước Việt Nam mới, sảnh vai với các cường _ ông cha, xây dựng thành công quốc năm châu. Gợi ý trả lời cau hoi: biệt so với những ngày khai trường khác? 1. Ngày khai trường tháng 9 năm 1945 có gì đặc Nam Dân chủ Cộng hoà, ngày (- Đó là ngày khai trường đầu tiên của nước Việt quyền độc lập từ tay thực dân khai trường đầu tiên sau khi nước ta giành được chủ oS ` Pháp xâm lược.

nền giáo dục mới, hoàn toàn - Từ nay, các em học sinh sẽ được hưởng một của Việt Nam.) toàn dân là gì? 2. Sau Cách mạng tháng Tám, nhiệm vụ của phát triển theo kịp - (Xây dựng lại cơ độ mà tổ tiên đã để lại, làm cho nước ta - các nước khác trêni hoàn cầu.) kiến thiết đất nước? 3. Học sinh có trách nhiệm như thế nào trong công cuộc n ngoãn nghe lời thầy cô, yêu (Học sinh phải cố gắng siêng năng học tập, ngoa h công dân có trình độ hiểu biết mến bạn bè. Có như vậy thì lớn lên mới trở thàn mà Bác đã trao: cao, có đủ năng lực để xây dựng đất nước, thực hiện sứ mệnh 5 Cat bước tới đài vinh làm cho non sông Việt Nam tươi đẹp, làm cho dân tộc Việt Nam , sánh vai với các cường quốc năm châu.

Thực hành « Luyện tap: 1/ Học thuộc lòng đoạn thư từ Sau 80 năm giời nô lệ. đến nhở một phần lớn ở công học lập của các em. Tại sao? 2/ Qua bài học, em hãy liên hệ bản thân, tự đánh giá mình đã học tập tốt chưa? (Học sinh tự làm. Nghe - viết: VIỆT NAM THÂN YÊU Việt Nam đất nước ta ơi! Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn.

Cánh cò bay 1a dập dờn, 'Mây mờ che đỉnh Trường Sơn sớm chiều. Quê hương biết mấy thân yêu, Bao nhiêu đời đã chịu nhiều thương đau. Mặt người vất vả in sâu, Gái trai cũng một áo nâu nhuộm bùn. thị Đất nghèo nuôi những anh hùng, độ tai Chìm trong máu chảy lại vùng đứng lên.

Đạp quân thù xuống đất đen. Súng gươm vứt bỏ lại hiển như xưa. ph Nguyễn Đình Thi (- Các em nghe thầy, cô đọc hết câu mới viết. ~ Khi viết xong, cần kiểm tra lại những chữ phải viết hoa, những chữ có âm đầu, âm cuối/ dấu thanh dé sai chính tả: Việt Nam, mênh mông, biển lúa, trời, bay lâ, dập dờn, che, Trường Sơn, vất vâ, gái trai, áo nâu, nuôi, chìm, vùng, xuống, gươm, xưa,.

Tìm những tiếng thích hợp với mỗi ô trống để hoàn chỉnh bài văn sau. Biết rằng: ñ] :_ chứa tiếng bắt đầu bằng ng hoặc ngh. - {2] : chứa tiếng bắt đầu bằng g hoặc gn. :_ chứa tiếng bắt đầu bằng e hoặc.

NGÀY ĐỘC LẬP Mùng 2 tháng 9 năm 1945 - một [T] „ đáng [2] nhớ. Hà Nội tưng bừng màu do. "Một vùng trời bát [1| cờ, đèn, hoa và biểuLÍ Các nhà máy đều việc. Chợ búa không họp.

Mọi hoạt động sản xuất, buôn bán của thành phố tạm ngừng. Già, trẻ, [2]: trai đều xuống đường. Mọi người đầu thấy mình cần [3] mat trong [1] hội lớn [3] dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập trước hàng triệu đồng bào.

Lời của vị lãnh tụ điểm đạm, ấm áp, khúc chiết, rõ ràng; từng câu, từng tiếng đi vào lòng người. Đọc đến nửa chừng, Bác dừng lại, hồi: - Tôi nói, đồng bào nghe rõ không? _ Người người cùng đáp, tiếng dậy vang như sấm: - Co. 6! , Từ giây phút đó, Bác cùng với oä biển người đã hoà làm một. Buổi lễ [3] thúc bằng những lời thể độc lập.

Đó là ý chí [3]toàn dân Việt Nam [3] quyết thực hiện lời Hồ. Chủ tịch trong bản Tuyên ngôn: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước-tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem _ tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Lịch sử đã sang trang.

Một|3] nguyên mới bắt đầu: [3] nguyén của Độc lập, THƠ do, Hạnh phúc. Theo Võ Nguyên Giáp | (Thứ tự điền từ như sau: : Chứa tiếng bắt đầu bằng ng hoặc ngh: ngày, ngát, ngữ, nghỉ, ngày. [E] : Chứa tiếng bắt đầu bằng g hoặc gi: ghí, gái. Tìm chữ thích hợp với mỗi chỗ trống: Đứng trước các âm còn lại góp Âm đầu Đứng trước ¡, ê, e Am “ca” Viét la.

từ & Âm "gờ” ` Viết là. - nướ Âm “ngờ” - Viết là. “ » Tham khảo bảng dưới đây: đồn, Âm đầu Đứng trước i, ê,e Đứng trước các âm còn lại Âm" | Viết là k. (Ví dụ : KĨ, kê, kết, | Viết là e.

(Ví dụ : cá, có, của, ea, cam, VƯỜ Cau,. _ “ga”- Am “| Viếti t làa gh. gh (Vi (Ví du: dụ: ghi, ghí, || Viết đò,. (Ví (Ví dụ dụ: gai,gái, ga ga, đò,.) Âm “ngờ” - Viết là ngh.

(Ví dụ: nghí, | Viết là ng. (Ví dụ: ngày, ngát, ngủ, 9 nghề, nghe,. So sánh nghĩa của các từ in đậm trong mỗi ví dụ sau: a) Sau 80 năm giời nô lệ làm cho nước nhà bị yếu hèn, ngày nay chúng ta cần car phải xây dựng lại cơ đồ mà tổ tiên đã để: lại cho chúng ta, làm sao cho chúng ta che theo kịp các nước khác trên hoàn cầu. Trong ¿ông cuộc.

kiến thiết đó, nước nhà nu trông mong chờ đợi ở các em rất nhiều. x Hồ Chí Minh (+ Từ xây dựng có các nghĩa như sau: - Nghĩa 1: Làm nên công trình kiến trúc theo một kế hoạch nhất định. xây dựng một sân vận động; xây dựng nhà cửa; công nhân xây dựng. vu - Nghĩa 2: Hình thành một tổ chức hay một chỉnh thể về xã hội, chính trị, kinh nhí tế, văn hoá theo một phương hướng nhất định.

Ví dụ: xây dựng chính quyền; xây dựng đất nước; xây dựng gia đình (lấy vợ hoặc lấy chồng, lập gia đình riêng). ho - Nghĩa 3: Tạo ra, sáng tạo ra những giá trị tinh thần, có ý nghĩa trou tượng. Ví dụ: xây dựng cốt truyện; xây dựng một gi thuyết mới. 8 - Nghia 4: Thái độ, ý kiến có thiện ý, nhằm mục đích làm cho tốt hơn.

Ví dụ: góp ý phê bình trên tính thần xây dựng; thái độ xây dựng. + Kiến thiết: là từ ghép Hán Việt. Kiến là dựng xây, thiết là sắp đặt. Nghĩa của từ kiến thiết trong ví dụ 1 là xây dựng với quy mô lớn.

Ví dụ: Sự nghiệp kiến thiết - nước nhà. : * Nghĩa của từ xây dựng, kiến thiết giống nhau (cùng chỉ một hoạt động) lelà từ đồng nghĩa.) b) Màu lúa chín dưới đồng vàng xuộm lại. Nắng nhạt ngả màu vàng hoe. “Trong vườn, lắc lư những chùm quả xoan vàng lịm không trông thấy cuống, như những chuỗi tràng hạt bồ đề treo lơ lửng.

a Tô Hoài (- vàng xuộm: lúa vàng xuộm là lúa đã chín đều, đến lúc thu hoạch. - vàng hoe: màu vàng tươi, ánh lên. Nắng vàng hoe là nắng ấm giữa mùa đông. : | - vang lim: mau vàng thẫm của quả đã chín già.

* Nghĩa của các từ này giống nhau ở chỗ cùng chỉ một màu, do đó chúng là từ đồng nghĩa. Thay những từ ín đậm trong mỗi ví dụ trên cho nhau rồi rút ra nhận xét: Những từ nào thay thế được cho nhau? Những từ nào không thay thế được cho nhau? Vì sao? (a. Sau 80 năm giời nô lệ làm cho nước nhà bị yếu hèn, ngày nay chúng ta cần phải kiến thiết lại cơ đồ mà tổ tiên đã để lại cho chúng ta, làm sao cho chúng ta theo kịp các nước khác trên hoàn cầu. Trong công cuộc xây dựng đó, nước nhà trông mong chờ đợi ở các em rất nhiều.

* Nhận xét: Hai từ kiến thiết và xây dựng có thể thay thế cho nhau, vì nghĩa của các từ ấy giống nhau hoàn toàn (làm nên một công trình kiến trúc; hình 'thành một tổ chức hay một chế độ chính trị, xã hội, kinh tế). Màu lúa chín dưới đồng vàng hoe lai. Nang nhạt ngả màu vàng lịm. Trong vườn, lắc lư những chùm quả xoan vàng xuộm không trông thấy cuống, như những chuỗi tràng hạt bồ đề treo lơ lửng.

- | *ˆ Nhận xét: Trên cơ sở phân tích sắc thái tu từ của ba từ : vàng xuộm, vàng hoe, vàng lịm, ta thấy nhà văn Tô Hoài đã dùng từ rất chính xác, không thay thế được như ví dụ trên vì nghĩa của chúng không giống nhau hoàn toàn. Thế nào là từ đồng nghĩa? (+ Từ đồng nghĩa là những từ có nghĩa giống nhau hoặc gần giống nhau. Ví dụ: siêng năng, chăm chỉ, cần củ,. Cau những từ đồng nghĩa hoàn toàn, thay thế được cho nhau trong lời nói.

+ Có Ví dụ: hổ, cop, hum; me, ma, u,. + Có những từ đồng nghĩa không hoàn toàn. Khi dùng những từ này, ta phải cân nhắc để lựa chọn cho đúng. Luyện tap: ot WX Câu 1.

Xếp những từ in đậm thành từng nhóm đồng nghĩa: Sau 80 năm giời nô lệ làm chơ nước nhà bị yếu hèn, ngày nay chúng ta cần phải xây dựng lại cơ đồ mà tổ tiên đã để lại cho chúng ta, làm sao cho chúng ta theo kịp các nước khác trên hoàn cầu. Trong công cuộc kiến thiết đó, nước nhà trông mong chờ đợi ở các em rất nhiều. Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em. Tìm những từ đồng nghĩa với mỗi từ sau đây: đẹp, t0lớn, học tập.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ