CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NGÀNH CAO SU Ở VIỆT NAM. Ngành khai thác và chế biến cao su ở Việt Nam ra đời trước tiên và chủ yếu là ở Nam kỳ, đi đôi với công cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất ở Đông Dương của thực dân Pháp bắt đầu năm 1897. Ngay khi đặt chân lên vùng đất Nam kỳ thực dân Pháp đã nhận thấy những điều kiện khí hậu nhiệt đới và chất đất đỏ, đất xám của miền Đông Nam Bộ rất thích hợp với cây cao su, nên đã có ý định xây dựng ngành khai thác cao su ở đây từ rất sớm.
Năm 1877 người Pháp tên là Pierre, mang hạt giống cây cao su từ Singapore về, lập vườn ươm thử ở vườn ươm Bách Thảo_Sài Gòn, nhưng không cây nào sống được. Đến năm 1879 toàn quyền Pháp tên là Paul Doumer cho lập hai trung tâm nghiên cứu thí nghiệm cây cao su: một ở vườn thí nghiệm Ong Yệm_ Thủ Dầu Một, do một dược sĩ người Pháp tên Raul phụ trách, và một ở Suối Dầu _Nha Trang, do bác sĩ Yersin phụ trách. Năm 1897 Raul lại đem hạt giống cao su và cây cao su con từ đảo Java về trồng và trong cùng thời gian đó Yersin cũng nhân được giống cây cao su đó, cả hai trạm này đều thành công. Sau khi trồng thử nghiệm thành công giới tư bản Pháp đã hùn vốn thành lập một số công ty để chuẩn bị khai thác đồn điền cao su, các công ty ấy gồm: 1.
Công ty cao su kỹ nghệ và rừng Biên Hoà: Công ty cao su kỹ nghệ và rừng Biên Hoà nay là công ty cao su Đồng Nai. Được thành lập năm 1908, trụ sở đóng tại Pari, đối tượng của công ty này là khai thác đồn điền cao su, cây có dầu và nứa ở Đông Dương. Số vốn ba đầu là 500.000 Phơ-răng, gồm có 5.000 cổ phần, mỗi cổ phần 100 Phơ-răng. Năm 1911 số vốn tăng lên 2.000 Phơ-răng, năm 1919 tăng lên 6.
Trong những năm 1914–1918 công ty tập trung khai thác, phá rừng vùng Trảng Bom, Cây Gáo, Túc Trưng, và vùng sau này gọi là chiến khu D. Công ty cao su Đất Đỏ: Thành lập năm 1910, trụ sở đóng tại Sài Gòn, chủ công ty là một viên toàn quyền Pháp làm việc tại Hà Nội, đối tượng công ty này là khai thác đồn điền cao su ở Thủ Dầu Một_Biên Hoà_Bà Rịa. Số vốn ban đầu là 2.000 Phơ-răng, gồm 23.000 cổ phần mỗi cổ phần là 100 Phơ-răng. Năm 1923 số vốn tăng lên 36.000 Phơ-răng, năm 1925 là 46.000 Phơ-răng, năm 1935 là 110.000 Phơ-răng, công ty này có trạm nghiên cứu cao su đặt tại bàu Ong Yệm huyện Tân Uyên tỉnh Thủ Dầu Một nay là Bình Dương.
Công ty cao su Viễn Đông Tên thường gọi là công ty cao su CECO, thành lập năm 1910, trụ sở đóng tại Pari. Đối tượng là khẩn hoang và canh tác đất ở Viễn Đông, đặt biệt là ở Đông Dương và chủ yếu là trồng cây cao su, số vốn ban đầu là 1.000 Phơ-răng, gồm có 15.000 cổ phần, mỗi cổ phần là 100 Phơ-răng, sau đó số vốn ngày một tăng lên đến tháng 08/1930 là 3.000 Phơ-răng, năm 1912 là 4.000 Phơ-răng, năm 1917 là 6.000 Phơ-răng, năm 1028 là 8.000 Phơ-răng, năm 1934 là 28. Công ty cao su Xuân Lộc ( Hàng Gòn ). Thành lập năm 1911, trụ sở đóng tại Sài Gòn, chủ công ty là một người Pháp tên là De Babet.
Đối tượng của công ty này là trồng cây cao su và các loại cây công nghiệp khác. Số vốn ban đầu là 360.200 cổ phần, mỗi cổ phần là 50 $, năm 1918 tăng thêm 800 cổ phần nâng số vốn lên 400. Công ty cao su Tây Ninh. Thành lập năm 1913, trụ sở đóng tại Sài Gòn, đối tượng của công ty này là kinh doanh đồn điền cao su ở Tây Ninh.
Số vốn ban đầu là 3.000 phơ- răng, gồm có 38.000 cổ phần, mỗi cổ phần là 100 Phơ-răng, năm 1931 số vốn tăng lên 6.000 Phơ-răng, năm 1937 số vốn là 8. Công ty cao su Đông Dương: Gọi tắt là công ty SIPH, thành lập năm 1906. Công ty cao su Mit xơ lanh ( Michelin ). Ra đời năm 1917, trụ sở đóng tại Dầu Tiếng, đối tượng kinh doanh của công ty này là kinh doanh đồn điền cao su trên vùng đất của miền Đông Nam Bộ, nằm sát rìa vùng đồng bằng.
Những công ty vừa kể trên tuy số vốn ngày một tăng nhưng hoạt động của chúng trong thời kỳ trước chiến tranh thế giới lần thứ nhất mới giới hạn ở việc trồng thử chứ chưa đi vào khai thác với quy mô lớn. sau giải phóng các công ty trên được nhà nước tiếp quản và tiếp tục phát triển. Phần lớn các công ty trên dần dần chuyển sang công ty cổ phần và kinh doanh rất hiệu quả như: Công ty cao su Dầu Tiếng (Michelin), Bình Long, Đồng Nai… Như vậy vào thời kỳ trước chiến tranh thế giới lần thứ nhất cây cao su đã đưa vào trồng ở Việt Nam_ chủ yếu là ở Nam kỳ, nhưng mức độ trồng chưa lớn và mức thu hoạch cũng chưa cao. Nhưng sau chiến tranh thì công việc khai thác cao su ở Việt Nam của thực dân Pháp đã diễn ra một bước ngoặc lớn, từ cầm chừng chuyển sang đầu tư ồ ạt, vì sau chiến tranh ngành công nghiệp Pháp cần dùng tới 10 vạn tấn cao su mỗi năm nhưng cao su vẫn là món hàng đắt đỏ mà Pháp chưa tự chủ được mà vẫn phải phụ thuộc vào đế quốc Anh.
Nắm bắt được nhu cầu cao su của thị trường Pháp, và đánh hơi thấy cao su là món hàng béo bở mang lại lợi nhuận cao, nên giới tư bản thực dân tranh nhau đầu tư vào ngành khai thác cao su. Do đó sau chiến tranh ngành khai thác cao su ở nước ta đã phát triển rất mạnh. Nếu như cuối năm 1921 toàn Nam kỳ chỉ có 29.000 ha trồng cao su chủ yếu là ở Biên Hoà, Bà Rịa, Thủ Dầu Một, với số vốn ước lượng là 40.000 Phơ- răng, thì cơn sốt cao su sau chiến tranh số vốn đầu tư vào cao su đã tăng hẳn lên khoảng 700.000 Phơ-răng trong thời gian từ 1925–1929. và diện tích cao su cũng tăng từ 29.000 ha năm 1929, đến năm 1930 là 127.
Số mủ cao su thu được cũng tăng lên nhanh chóng từ 150 –200 tấn, năm 1914 lên 10. Ngoài Nam kỳ ra Trung kỳ cũng có 1871ha trồng cao su. Hiện nay các vườn cao su này lần lượt bị thanh lý và thay vào đó là những vườn cây xanh tốt cho năng suất cao. Các công ty cao su cũng không ngừng nghiên cứu và cho ra những giống cao su có chất lượng cao để cung cấp cho nhu cầu cao su của khu vực và thế giới.
Trang 4 Bảng 1: Số mủ xuất cảng trong những năm 1920 –1925: SỐ MỦ XUẤT CẢNG NĂM TẤN NĂM TẤN 1920 3142 1926 8778 1921 3648 1927 9627 1922 4623 1928 9792 1923 5696 1929 10308 1924 6796 1930 10453 1925 8007 1931 11901 (Lịch sử phong trào công nhân Dầu Tiếng 1917–1997) 1. MỘT SỐ NGHIÊN CỨU VỀ BHLĐ TRONG NGÀNH CAO SU. Cao su là một ngành rất đa dạng, phức tạp, điều kiện làm việc rất khắc nghiệt, và luôn tồn tại nhiều yếu tố nguy hiểm độc hại như: bụi, hơi khí độc, ồn, hoá chất, nhiệt độ cao, ….có thể ảnh hưởng đến người lao động ngay lập tức và lâu dài. Như vậy việc nghiên cứu các biện pháp cải thiện điều kiện làm việc và loại bỏ các yếu tố nguy hiểm là hết sức cần thiết.
Để cải thiện điều kiện làm việc trên, bảo vệ sức khoẻ cho người lao động đã có một số đề tài tập trung nghiên cứu vấn đề Bảo Hộ Lao Động trong ngành cao su trong khuôn khổ nhánh đề tài cấp nhà nước 58.01 và 58A từ năm 1981 _1991 như: 1.1 Đề tài nghiên cứu phân tích thống kê tình hình tai nạn lao động, tình hình bệnh tật, các yếu tố độc hại, điều kiện lao động nặng nhọc của công nhân ngành cao su. Đề tài nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật để cải thiện điều kiện làm việc cho công nhân ngành cao su. Đề tài nghiên cứu đưa vào sản xuất giầy Bảo Hộ Lao Động cho công nhân đi lô và nghiên cứu ứng dụng các giải pháp kỹ thuật an toàn đề phòng tai nạn lao động, giảm nhẹ điều kiện làm việc cho công nhân sơ chế cao su. Đề tài nghiên cứu thuốc xoa muỗi cho công nhân khai thác mủ.
Các đề tài nghiên cứu trên đã được các công ty cao su ứng dụng rất hiệu quả, góp phần cải thiện điều kiện làm việc cho người công nhân. Điển hình là việc công nhân khai thác cao su được trang bị loại thuốc xoa chống muỗi nên hiệu quả công việc rất cao. Trang 5 CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU: o Khảo sát thực trạng công tác Bảo Hộ Lao Động trong nhà máy, hệ thống tổ chức quản lý và tình hình thực hiện công tác Bảo Hộ Lao Động trong vấn đề tổ chức sản xuất. Hồi cứu thu thập những số liệu về điều kiện làm việc, tình hình lao động, sức khoẻ người lao động, bệnh nghề nghiệp trong thời gian qua của nhà máy chế biến mủ Bến Súc.
Thực trạng trong những năm vừa qua, kế hoạch thực hiện công tác An toàn Vệ sinh lao động, tình hình cấp phát và sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân (PTBVCN). Khảo sát thực trạng việc tổ chức thực hiện công tác Phòng cháy chữa cháy trong nhà máy, việc huấn luyện công nhân sử dụng các thiết bị chữa cháy, phương án chửa cháy. Khảo sát các yếu tố vi khí hậu ảnh hưởng đến điều kiện làm việc trong nhà máy. Tiến hành xử lý số liệu đã thu thập được và so sánh với các tiêu chuẩn quy định của nhà nước.
Hệ thống lại các tài liệu, Văn bản pháp luật, Pháp lệnh, Nghị định, Thông tư, Tiêu chuẩn có liên quan đến nhà máy và nhà máy đã thực hiện được những tài liệu nào. Trên cơ sở kết quả khảo sát và so sánh với các tiêu chuẩn quy phạm an toàn, đề suất một số giải pháp bảo đảm an toàn lao động, cải thiện điều kiện làm việc, phòng tránh tai nạn lao động và ngăn ngừa các nguy cơ cháy nổ trong nhà máy. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU. – Nghiên cứu dây chuyền công nghệ, quy trình chế biến, thiết bị máy móc có khả năng gây nguy hiểm cho người công nhân trong nhà máy Bến Súc.
– Nghiên cứu máy móc thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn như thiết bị áp lực, thiết bị chứa amoniac, palăng.