Tổng quan nghiên cứu

Theo báo cáo của ngành Lao động - Thương binh và Xã hội, năm 2009 trên toàn quốc đã xảy ra 6.250 vụ tai nạn lao động làm 550 người chết và 1.221 người bị thương nặng, gây thiệt hại vật chất vượt mức 39,3 tỷ đồng. Trong bức tranh chung đó, ngành xây dựng dân dụng và công nghiệp tiếp tục là lĩnh vực có tỷ lệ tử vong cao nhất, chiếm tới 51,11% tổng số vụ tai nạn nghiêm trọng. Đáng chú ý, nguyên nhân ngã cao chiếm vị trí hàng đầu với 32% tổng số ca tử vong trong ngành. Tại địa bàn tỉnh Bình Dương, năm 2009 đã ghi nhận 638 vụ tai nạn lao động với 24 người thiệt mạng. Đối với Công ty Cổ phần Xây dựng Tư vấn Đầu tư Bình Dương (Biconsi) – một doanh nghiệp có quy mô 775 lao động và vốn điều lệ 72 tỷ đồng, giai đoạn từ năm 2006 đến 2009 đã xảy ra 4 vụ tai nạn lao động làm 1 người chết, 1 người bị thương nặng và 2 người bị thương nhẹ, tất cả đều có nguyên nhân trực tiếp từ việc ngã cao trong quá trình thi công.

Xuất phát từ thực trạng cấp bách trên, nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá toàn diện công tác bảo hộ lao động tại Biconsi, phân tích sâu các nguyên nhân tổ chức và kỹ thuật dẫn đến rủi ro ngã cao, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp phòng ngừa đồng bộ. Nghiên cứu được triển khai thực địa tại các công trình trọng điểm như Trường Trung Tiểu học Pétrus Ký, Khu dân cư Chợ Đình trong mốc thời gian từ ngày 02 tháng 02 năm 2010 đến ngày 20 tháng 05 năm 2010. Kết quả của đề tài đóng góp trực tiếp vào mục tiêu triệt tiêu 100% tai nạn ngã cao chết người, nâng tỷ lệ tuân thủ trang bị bảo hộ cá nhân lên mức tuyệt đối và hoàn thiện quy chuẩn an toàn cho hơn 500 lao động xây dựng tại doanh nghiệp.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng của Thuyết chuỗi nguyên nhân tai nạn Heinrich (Domino Theory) và Mô hình quản trị an toàn lao động theo chu trình PDCA (Plan - Do - Check - Act). Theo lý thuyết Heinrich, tai nạn lao động không phải là sự cố ngẫu nhiên mà là mắt xích cuối cùng của một chuỗi các yếu tố: môi trường xã hội, khiếm khuyết của con người, hành vi không an toàn và điều kiện vật chất không an toàn. Đồng thời, nghiên cứu vận dụng các nguyên lý công thái học (Ergonomics) trong xây dựng để đánh giá sự tương thích giữa tư thế lao động, gánh nặng thể lực và môi trường vi khí hậu đối với sức khỏe công nhân.

Bên cạnh khung lý thuyết, đề tài tích hợp hệ thống 5 khái niệm cốt lõi: Bảo hộ lao động, An toàn - Vệ sinh lao động (ATVSLĐ), Mối nguy ngã cao, Phương tiện bảo vệ cá nhân (PTBVCN) và Mạng lưới An toàn vệ sinh viên (ATVSV). Cơ sở pháp lý của nghiên cứu căn cứ chặt chẽ vào Bộ luật Lao động, Luật Xây dựng 2003, Thông tư liên tịch số 14/1998/TTLT-BLĐTBXH-BYT-TLĐLĐVN về tổ chức công tác bảo hộ lao động và Thông tư số 04/2008/TT-BLĐTBXH về kiểm định máy móc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn.

Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng phương pháp chọn mẫu toàn bộ đối với 500 lao động trực tiếp và gián tiếp đang làm việc tại 4 đội xây dựng, 1 xưởng sản xuất thiết bị và 2 tổ điện, nước của Biconsi. Cỡ mẫu này đại diện cho 100% lực lượng thi công xây lắp tại hiện trường, giúp phản ánh chân thực mọi rủi ro kỹ thuật. Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ hồ sơ theo dõi tai nạn lao động giai đoạn 2006-2009, kết quả khám sức khỏe định kỳ của 650 lao động năm 2009 và các biên bản tự kiểm tra kỹ thuật tại công trường.

Phương pháp phân tích kết hợp giữa thống kê mô tả định lượng và khảo sát thực địa hiện trường. Lý do lựa chọn kết hợp phương pháp này là nhằm đối chiếu giữa các quy định trên văn bản với hiện trạng thực tế tại công trường, từ việc đo đạc điện trở tiếp đất chống sét đạt trị số 7 Ohm đến việc kiểm tra thực trạng che chắn các lỗ thông tầng. Toàn bộ quá trình khảo sát, thu thập và xử lý số liệu được tiến hành liên tục từ tháng 02/2010 đến tháng 05/2010.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực tế tại Biconsi đã chỉ ra 4 phát hiện cốt lõi về công tác bảo hộ lao động:

Thứ nhất, chất lượng lực lượng lao động trực tiếp còn nhiều hạn chế về học vấn và tay nghề. Trong tổng số 464 công nhân trực tiếp, có tới 70,12% lao động có trình độ từ cấp 2 trở xuống, cụ thể là 62,6% đã học hết cấp 2 (290 người) và 7,52% chỉ học hết cấp 1 (35 người). Lao động có tay nghề bậc 1 đến bậc 3 chiếm tỷ trọng chủ đạo, trong khi thợ bậc cao từ bậc 4 đến bậc 6 chỉ chiếm khoảng 15%. Điều này dẫn đến sự hạn chế lớn trong nhận thức về an toàn và khả năng tự giác phòng ngừa tai nạn.

Thứ hai, bộ máy tổ chức bảo hộ lao động còn thiếu hụt chức danh chuyên trách. Dù quy mô xây lắp có 500 người nhưng công ty chỉ bố trí 01 cán bộ bán chuyên trách, chưa có cán bộ chuyên trách theo đúng quy định đối với doanh nghiệp trên 300 lao động. Mạng lưới ATVSV gồm 20 người được phân bổ tại 8 đơn vị trực thuộc với mức phụ cấp 150.000 đồng/tháng nhưng hoạt động chưa thực sự đồng đều giữa các đội thi công.

Thứ ba, tình trạng mất an toàn tại các vị trí mép biên và lỗ mở sàn diễn ra phổ biến. Mặc dù năm 2009 công ty đã cấp phát 1.856 bộ quần áo bảo hộ, 1.392 nón bảo hộ, 75 dây đai an toàn và tỷ lệ mang bảo hộ đạt 90%, khảo sát hiện trường vẫn ghi nhận 10% công nhân không sử dụng dây an toàn khi làm việc trên cao. Rìa mép các sàn tầng thi công, miệng hố ghen thông tầng và hố nước ngầm thường xuyên không được che đậy hoặc thiếu lan can rào chắn.

Thứ tư, công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu chưa đồng bộ. Thống kê sức khỏe năm 2009 trên 650 lao động ghi nhận 460 người đạt loại I (70,77%), 100 người loại II (15,38%), 56 người loại III (8,62%) và 30 người loại IV, V (4,61%). Tuy nhiên, doanh nghiệp chưa tổ chức khám sức khỏe tuyển dụng đầu vào và thiếu các xét nghiệm chuyên sâu nhằm sàng lọc các bệnh lý như tim mạch, rối loạn tiền đình trước khi bố trí làm việc trên cao.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến 4 vụ tai nạn giai đoạn 2006-2009 xuất phát từ sự lỏng lẻo trong khâu quản lý nhà thầu phụ (bên B). Do công nhân nhà thầu phụ mang tính chất thời vụ, biến động liên tục nên công tác huấn luyện an toàn lần đầu gần như bị bỏ ngỏ. Về mặt kỹ thuật, việc sử dụng giàn giáo không đúng quy chuẩn, thiếu sàn thao tác và không thiết lập rào chắn mép biên là tác nhân trực tiếp gây ra rơi ngã.

So sánh với các nghiên cứu trong ngành xây dựng, tỷ lệ ngã cao tại Biconsi phản ánh đúng quy luật tai nạn chung của cả nước, nơi ngã cao chiếm tới 32% số ca tử vong. Những dữ liệu phân loại độ tuổi và trình độ văn hóa khi được thể hiện qua các biểu đồ cơ cấu sẽ làm nổi bật sự chênh lệch lớn giữa lực lượng lao động trẻ, học vấn thấp (chiếm trên 80% độ tuổi 18-40) với yêu cầu nghiêm ngặt của quy trình an toàn thi công. Việc đo đạc thông số điện trở đất đạt 7 Ohm (đạt chuẩn dưới 10 Ohm) cho thấy hệ thống chống sét tạm được thực hiện tốt, nhưng sự lơ là ở khâu bao che sàn thao tác lại tạo ra những "điểm mù" nguy hiểm chết người.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả phân tích, nghiên cứu đưa ra 4 nhóm giải pháp trọng tâm nhằm triệt tiêu nguy cơ tai nạn ngã cao:

Thứ nhất, kiện toàn bộ máy và nâng cấp mạng lưới quản lý an toàn. Bổ nhiệm ngay 01 cán bộ chuyên trách bảo hộ lao động có trình độ đại học chuyên ngành, bổ sung đại diện y tế vào Hội đồng BHLĐ và nâng mức phụ cấp cho 20 an toàn vệ sinh viên lên 300.000 – 500.000 đồng/tháng. Đơn vị thực hiện: Ban Tổng Giám đốc và Phòng Hành chính quản trị; Thời hạn hoàn thành: Quý 3/2010.

Thứ hai, chuẩn hóa giải pháp kỹ thuật chống rơi ngã tại hiện trường. Thiết lập 100% rào chắn bảo vệ cao tối thiểu 1m có thanh chắn chân cao 15cm tại các mép sàn hở, lắp nắp đậy cố định cho 100% miệng hố thông tầng và hố nước ngầm. Kiểm tra, bảo dưỡng định kỳ 75 bộ dây đai an toàn và 60 dây treo, kiên quyết đình chỉ thi công đối với giàn giáo không có lan can tay vịn. Đơn vị thực hiện: Ban chỉ huy công trường và Đội trưởng các đội xây dựng; Thời gian áp dụng: Ngay lập tức từ tháng 06/2010.

Thứ ba, siết chặt quy chế an toàn đối với các nhà thầu phụ. Đưa điều khoản cam kết thực hiện ATVSLĐ và mức phạt vi phạm vào 100% hợp đồng giao khoán. Bắt buộc 100% công nhân nhà thầu phụ phải tham gia khóa huấn luyện an toàn lần đầu và được cấp thẻ an toàn trước khi vào công trường. Đơn vị thực hiện: Phòng Kỹ thuật - Quản lý thi công và Hội đồng BHLĐ; Tần suất: Hàng tháng.

Thứ tư, cải thiện chế độ chăm sóc sức khỏe và công thái học. Tổ chức khám sàng lọc bệnh lý tiền đình, huyết áp trước khi phân công lao động làm việc trên cao; trang bị đầy đủ lán trại tạm, nước mát và áp dụng chế độ bồi dưỡng hiện vật bằng dinh dưỡng cho công nhân thi công ngoài trời khi nhiệt độ vi khí hậu vượt quá 37 độ C. Đơn vị thực hiện: Bộ phận Y tế phối hợp cùng Công đoàn công ty; Thời gian triển khai: Tháng 07/2010.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và các đề xuất chuyên môn trong luận văn mang lại giá trị thực tiễn cao cho 4 nhóm đối tượng:

Nhóm thứ nhất là Ban lãnh đạo và Ban chỉ huy công trường tại các doanh nghiệp xây dựng: Cung cấp khung quản trị an toàn toàn diện, phương pháp kiểm soát rủi ro từ các đội thầu phụ và mô hình phân bổ 20 an toàn vệ sinh viên giúp tối ưu hóa chi phí vận hành an toàn.

Nhóm thứ hai là Cán bộ chuyên trách an toàn lao động (HSE) và giám sát thi công: Cung cấp bảng danh mục tự kiểm tra an toàn thực địa 4 hạng mục chính (điện, PCCC, sàn thao tác, môi trường) và quy trình kiểm định trang thiết bị bảo hộ cá nhân (dây đai, lưới an toàn, nón bảo hộ).

Nhóm thứ ba là Giảng viên, nhà nghiên cứu và sinh viên ngành Khoa học Bảo hộ Lao động, Kỹ thuật Môi trường: Đóng vai trò là tài liệu tham khảo giàu tính thực tiễn về phương pháp luận đánh giá điều kiện lao động, phân tích Ergonomics và tâm lý lao động của 500 công nhân xây dựng.

Nhóm thứ tư là Cơ quan quản lý nhà nước (Thanh tra Sở Lao động - Thương binh và Xã hội): Sử dụng làm nghiên cứu điển hình phục vụ công tác thanh kiểm tra, ban hành các văn bản hướng dẫn phòng ngừa tai nạn ngã cao tại các đô thị đang phát triển.

Câu hỏi thường gặp

Nguyên nhân vì sao tai nạn ngã cao luôn chiếm tỷ lệ tử vong cao nhất trong xây dựng?
Theo số liệu toàn quốc năm 2009, ngã cao chiếm tới 32% các ca tử vong trong ngành xây dựng. Nguyên nhân chủ yếu do người lao động làm việc ở độ cao lớn nhưng các vị trí mép sàn, giếng trời không có lan can bảo vệ, kết hợp với thói quen không móc dây an toàn vào điểm neo cố định, dẫn đến chấn thương nặng khi xảy ra rơi ngã.

Thực trạng nhận thức an toàn của công nhân xây dựng tại Biconsi như thế nào?
Khảo sát trên 464 công nhân trực tiếp cho thấy 70,12% có trình độ văn hóa từ cấp 2 trở xuống (290 người hết cấp 2 và 35 người hết cấp 1), phần lớn thợ ở bậc 1 đến bậc 3. Trình độ học vấn thấp khiến khả năng tiếp thu quy trình kỹ thuật an toàn bị hạn chế, đòi hỏi doanh nghiệp phải đào tạo trực quan bằng hình ảnh và thực hành cụ thể.

Trách nhiệm quản lý an toàn đối với các nhà thầu phụ được xác định ra sao?
Trong 4 vụ tai nạn giai đoạn 2006-2009 tại Biconsi, toàn bộ nạn nhân đều là lao động thời vụ của các nhà thầu phụ (bên B). Doanh nghiệp tổng thầu chịu trách nhiệm chính về mặt quản lý mặt bằng thi công, do đó cần bắt buộc nhà thầu phụ ký cam kết an toàn và bố trí cán bộ giám sát kiểm tra trước mỗi ca làm việc.

Mạng lưới an toàn vệ sinh viên tại doanh nghiệp phát huy vai trò như thế nào?
Biconsi đã xây dựng mạng lưới gồm 20 an toàn vệ sinh viên tại 8 đơn vị, được hưởng phụ cấp 150.000 đồng/tháng. Mạng lưới này đóng vai trò nòng cốt trong việc kiểm tra hàng ngày các tủ điện thi công, giàn giáo và nhắc nhở 90% công nhân duy trì mang phương tiện bảo vệ cá nhân trong suốt ca làm việc.

Các giải pháp kỹ thuật cấp bách nào cần triển khai ngay tại công trường?
Doanh nghiệp cần lắp đặt hệ thống lan can tiêu chuẩn cao 1m tại toàn bộ rìa mép sàn, che kín các hố ghen thông tầng và hố nước ngầm. Đồng thời, công trường phải kiểm định chất lượng 75 bộ dây đai an toàn, duy trì hệ thống chống sét tạm với điện trở nối đất đạt trị số 7 Ohm để ngăn ngừa nguy cơ kép giữa ngã cao và điện giật.

Kết luận

Nghiên cứu đã hoàn thành việc đánh giá thực trạng và xác lập hệ thống giải pháp an toàn lao động với 5 kết luận then chốt:

  • Làm rõ bức tranh thực tế về công tác BHLĐ tại Biconsi với 775 lao động, chỉ ra nguyên nhân gốc rễ của 4 vụ tai nạn giai đoạn 2006-2009 đều bắt nguồn từ ngã cao ở khối nhà thầu phụ.
  • Nhận diện các điểm nghẽn chính: 70,12% công nhân có trình độ văn hóa dưới cấp 3, thiếu cán bộ chuyên trách BHLĐ và tồn tại nhiều lỗ hổng che chắn mép sàn tại công trường.
  • Đóng góp hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ kết hợp giữa kiện toàn tổ chức, chuẩn hóa kỹ thuật rào chắn 1m và siết chặt hợp đồng giao khoán.
  • Đặt ra lộ trình hành động cụ thể từ tháng 06/2010 đến hết Quý 3/2010 nhằm nâng phụ cấp cho 20 ATVSV và tổ chức khám sàng lọc chuyên sâu cho công nhân làm việc trên cao.
  • Khẳng định thông điệp an toàn: Doanh nghiệp cần chuyển dịch từ hình thức đối phó thụ động sang chủ động kiểm soát rủi ro, bảo vệ tính mạng người lao động và đảm bảo sự phát triển bền vững cho ngành xây dựng.