Microsoft Word và Vai Trò Của ASEM Trong Quan Hệ Á-Âu

Khám phá hướng dẫn sử dụng Microsoft Word từ cơ bản đến nâng cao, giúp tối ưu hóa công việc soạn thảo văn bản hiệu quả và chuyên nghiệp.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp
110
10
5

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ KHU VỰC HOÁ VÀ LIÊN KẾT KINH TẾ KHU VỰC TẠI CHÂU Á-CHÂU ÂU

1.1. Những vấn đề cơ bản về khu vực hoá

1.1.1. Khu vực hoá là gì?

1.1.2. Những hình thức biểu hiện của khu vực hoá từ trước đến nay

1.1.2.1. Thoả thuận tự do thương mại
1.1.2.2. Đồng minh thuế quan
1.1.2.3. Thoả ước đầu tư

1.1.3. Mặt tích cực và tiêu cực của khu vực hoá

1.1.3.1. Mặt tích cực của khu vực hoá
1.1.3.1.1. Thúc đẩy thương mại
1.1.3.1.2. Thiết lập các khối kinh tế chuẩn bị liên kết đa phương

1.1.4. Mối quan hệ giữa khu vực hoá và toàn cầu hoá

1.2. Một số các liên kết kinh tế khu vực chủ yếu ở khu vực Á-Âu

1.2.1. Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á-ASEAN

1.2.2. Liên minh châu Âu-EU

1.2.3. Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á-Thái Bình Dương-APEC

2. CHƯƠNG II: ASEM VÀ VAI TRÒ CỦA TIẾN TRÌNH ASEM TRONG VIỆC THÚC ĐẨY MỐI QUAN HỆ Á-ÂU

2.1. Hoàn cảnh ra đời

2.2. Mục tiêu, nguyên tắc hoạt động, cấu trúc và cơ chế hoạt động của ASEM

2.2.1. Nguyên tắc hoạt động

2.2.2. Cấu trúc và cơ chế hoạt động của ASEM

2.3. Những cơ hội và thách thức của ASEM trong thời gian tới

2.3.1. Những thách thức

2.4. Tiến trình ASEM trong việc thúc đẩy mối quan hệ Á-Âu

2.4.1. Vai trò của ASEM trong việc thúc đẩy mối quan hệ Á-Âu

2.4.2. Hợp tác kinh tế ASEM

2.4.2.1. Mục tiêu và nguyên tắc hợp tác
2.4.2.2. Lĩnh vực hợp tác
2.4.2.3. Thuận lợi hoá thương mại
2.4.2.4. Chương trình hành động xúc tiến đầu tư
2.4.2.5. Xúc tiến hợp tác tương hỗ giữa các doanh nghiệp
2.4.2.6. Viễn cảnh ASEM
2.4.2.7. Các lĩnh vực hợp tác kinh tế khác

3. CHƯƠNG III: VIỆT NAM TRONG TIẾN TRÌNH ASEM

3.1. Hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam

3.1.1. Tính tất yếu của hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam

3.1.1.1. Tính tất yếu của việc hội nhập
3.1.1.2. Quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về hội nhập kinh tế quốc tế

3.1.2. Vài nét về tình hình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam

3.1.3. Những cơ hội và thách thức đối với Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

3.1.3.1. Những cơ hội đối với Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
3.1.3.2. Những thách thức đối với Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

3.2. Việt Nam trong tiến trình ASEM

3.2.1. Hoàn cảnh tham gia và vị thế của Việt Nam trong tiến trình ASEM

3.2.2. Những hoạt động chủ yếu của Việt Nam trong ASEM

3.2.3. Những cơ hội và thách thức của Việt Nam trong tiến trình ASEM

3.2.3.1. Những thách thức

3.3. Các giải pháp thúc đẩy Việt Nam trong tiến trình ASEM

3.3.1. Về nhận thức, tư tưởng

3.3.2. Về xây dựng nội dung tiến trình ASEM

3.3.3. Xây dựng và nâng cao năng lực của các cơ quan quản lý Nhà nước

3.3.4. Về phương hướng và giải pháp điều chỉnh cơ cấu kinh tế trong tiến trình ASEM

3.3.5. Về công tác xây dựng và nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ tham gia trong tiến trình ASEM

KIẾN NGHỊ-ĐỀ XUẤT

KẾT LUẬN

PHỤ LỤC

Phụ lục 1. Các rào cản thương mại trong ASEM

Phụ lục 2. Danh mục các dự án hợp tác trong lĩnh vực khoa học-công nghệ

Phụ lục 3. Các biện pháp đầu tư hiệu quả nhằm thu hút đầu tư nước ngoài

Phụ lục 4. Viễn cảnh ASEM

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Vai Trò Của ASEM Trong Quan Hệ Á Âu

Diễn đàn hợp tác Á-Âu (ASEM) đã trở thành một nền tảng quan trọng trong việc thúc đẩy mối quan hệ giữa các quốc gia châu Á và châu Âu. ASEM không chỉ là một diễn đàn chính trị mà còn là một cơ chế hợp tác kinh tế, văn hóa và giáo dục. Sự ra đời của ASEM vào năm 1996 đã đánh dấu một bước ngoặt trong quan hệ quốc tế, khi các quốc gia châu Á và châu Âu quyết định hợp tác chặt chẽ hơn để đối phó với những thách thức toàn cầu. ASEM đã tạo ra một không gian đối thoại đa phương, giúp các quốc gia thành viên hiểu rõ hơn về nhau và tìm kiếm những cơ hội hợp tác mới.

1.1. ASEM Là Gì Và Tại Sao Quan Trọng

ASEM, viết tắt của Diễn đàn hợp tác Á-Âu, là một diễn đàn đa phương bao gồm 51 quốc gia và tổ chức quốc tế. Mục tiêu chính của ASEM là tăng cường hợp tác giữa châu Á và châu Âu trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa và giáo dục. ASEM đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy đối thoại và hợp tác giữa hai khu vực, giúp giải quyết các vấn đề toàn cầu như biến đổi khí hậu, an ninh và phát triển bền vững.

1.2. Lịch Sử Hình Thành Và Phát Triển Của ASEM

ASEM được thành lập vào năm 1996 với sự tham gia của 26 quốc gia châu Á và 15 quốc gia châu Âu. Kể từ đó, ASEM đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển, mở rộng thành viên và nâng cao vai trò trong việc thúc đẩy hợp tác kinh tế và chính trị. Các hội nghị thượng đỉnh ASEM được tổ chức định kỳ, tạo cơ hội cho các nhà lãnh đạo thảo luận về các vấn đề quan trọng và tìm kiếm giải pháp hợp tác.

II. Những Thách Thức Trong Quan Hệ Á Âu Qua ASEM

Mặc dù ASEM đã đạt được nhiều thành tựu trong việc thúc đẩy quan hệ Á-Âu, nhưng vẫn còn nhiều thách thức cần phải vượt qua. Sự khác biệt về văn hóa, chính trị và kinh tế giữa các quốc gia thành viên có thể gây khó khăn trong việc đạt được sự đồng thuận. Ngoài ra, các vấn đề như an ninh, biến đổi khí hậu và khủng hoảng kinh tế toàn cầu cũng đặt ra nhiều thách thức cho ASEM trong việc duy trì và phát triển mối quan hệ này.

2.1. Sự Khác Biệt Về Văn Hóa Và Chính Trị

Sự khác biệt về văn hóa và chính trị giữa các quốc gia Á-Âu có thể tạo ra rào cản trong việc hợp tác. Các quốc gia châu Á và châu Âu có những giá trị, truyền thống và hệ thống chính trị khác nhau, điều này có thể dẫn đến sự hiểu lầm và khó khăn trong việc đạt được sự đồng thuận trong các vấn đề quan trọng.

2.2. Các Vấn Đề An Ninh Và Biến Đổi Khí Hậu

An ninh và biến đổi khí hậu là hai vấn đề lớn mà ASEM phải đối mặt. Các cuộc khủng hoảng an ninh, như khủng bố và xung đột khu vực, đòi hỏi sự hợp tác chặt chẽ giữa các quốc gia. Đồng thời, biến đổi khí hậu cũng là một thách thức toàn cầu cần có sự chung tay của tất cả các quốc gia để tìm ra giải pháp bền vững.

III. Phương Pháp Thúc Đẩy Hợp Tác Kinh Tế Trong ASEM

Để tăng cường hợp tác kinh tế giữa các quốc gia Á-Âu, ASEM đã triển khai nhiều phương pháp và chương trình hành động. Các lĩnh vực hợp tác như thương mại, đầu tư và phát triển bền vững được chú trọng nhằm tạo ra những cơ hội mới cho các doanh nghiệp và nhà đầu tư. ASEM cũng khuyến khích việc thiết lập các mối quan hệ đối tác giữa các doanh nghiệp trong khu vực.

3.1. Thúc Đẩy Thương Mại Và Đầu Tư

ASEM đã triển khai nhiều chương trình nhằm thúc đẩy thương mại và đầu tư giữa các quốc gia thành viên. Các thỏa thuận thương mại tự do và các chương trình hỗ trợ đầu tư được thiết lập để tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong khu vực. Điều này không chỉ giúp tăng cường mối quan hệ kinh tế mà còn tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho người dân.

3.2. Hợp Tác Trong Các Lĩnh Vực Phát Triển Bền Vững

ASEM cũng chú trọng đến hợp tác trong các lĩnh vực phát triển bền vững, bao gồm bảo vệ môi trường, phát triển năng lượng tái tạo và ứng phó với biến đổi khí hậu. Các chương trình hợp tác này không chỉ giúp các quốc gia thành viên giải quyết các vấn đề môi trường mà còn tạo ra những cơ hội mới cho sự phát triển kinh tế bền vững.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của ASEM Trong Quan Hệ Á Âu

Các kết quả từ ASEM đã có những ứng dụng thực tiễn quan trọng trong việc thúc đẩy quan hệ Á-Âu. Nhiều dự án hợp tác đã được triển khai, từ lĩnh vực thương mại đến giáo dục và văn hóa. Những thành công này không chỉ giúp tăng cường mối quan hệ giữa các quốc gia mà còn tạo ra những giá trị thiết thực cho người dân.

4.1. Các Dự Án Hợp Tác Kinh Tế Thành Công

Nhiều dự án hợp tác kinh tế giữa các quốc gia Á-Âu đã được triển khai thành công thông qua ASEM. Các dự án này không chỉ giúp tăng cường thương mại mà còn tạo ra nhiều cơ hội việc làm và phát triển kinh tế cho các quốc gia thành viên. Ví dụ, các chương trình đầu tư vào cơ sở hạ tầng và công nghệ đã mang lại lợi ích lớn cho cả hai khu vực.

4.2. Hợp Tác Trong Lĩnh Vực Giáo Dục Và Văn Hóa

ASEM cũng đã thúc đẩy hợp tác trong lĩnh vực giáo dục và văn hóa, tạo ra nhiều chương trình trao đổi sinh viên và nghiên cứu. Những chương trình này không chỉ giúp nâng cao hiểu biết giữa các quốc gia mà còn tạo ra những cơ hội học tập và phát triển cho thế hệ trẻ.

V. Kết Luận Về Vai Trò Của ASEM Trong Quan Hệ Á Âu

ASEM đã chứng minh được vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy mối quan hệ giữa các quốc gia Á-Âu. Mặc dù còn nhiều thách thức, nhưng những cơ hội hợp tác mà ASEM mang lại là rất lớn. Tương lai của ASEM phụ thuộc vào khả năng các quốc gia thành viên vượt qua những rào cản và tìm kiếm những giải pháp hợp tác hiệu quả.

5.1. Tương Lai Của ASEM Trong Bối Cảnh Toàn Cầu

Trong bối cảnh toàn cầu hóa ngày càng gia tăng, ASEM cần phải thích ứng và phát triển để đáp ứng những thách thức mới. Việc tăng cường hợp tác giữa các quốc gia thành viên sẽ là chìa khóa để ASEM tiếp tục phát huy vai trò của mình trong quan hệ Á-Âu.

5.2. Khuyến Nghị Để Tăng Cường Hợp Tác

Để tăng cường hợp tác trong ASEM, các quốc gia thành viên cần xây dựng các cơ chế hợp tác hiệu quả hơn, đồng thời khuyến khích sự tham gia của các doanh nghiệp và tổ chức xã hội. Việc tạo ra một môi trường hợp tác thuận lợi sẽ giúp ASEM phát triển bền vững trong tương lai.

24/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ KHU VỰC HOÁ VÀ LIÊN KẾT KINH TẾ KHU VỰC TẠI CHÂU Á-CHÂU ÂU I. Những vấn đề cơ bản về khu vực hoá 1. Khu vực hoá là gì ? Ngay những năm đầu của thập niên 70, các học giả đã bắt đầu trăn trở về những sự kiện kinh tế diễn ra trên thế giới. Và không cần chờ đến đầu thập niên 80 hay 90 của thế kỷ XX, các công trình nghiên cứu về vấn đề khu vực hoá ngày càng trở nên rõ nét khi các liên kết kinh tế khu vực được hình thành ngày một nhiều như Khu vực tự do Bắc Mỹ (NAFTA), Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Hợp tác kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC), Liên minh EU… Theo kinh tế học cổ điển về lợi thể so sánh, hầu hết các quốc gia đều có thể có lợi khi trao đổi buôn bán với các nước khác1.

Thực tế cũng chứng minh rằng tự do hoá thương mại giúp cho các quốc gia phát triển và từ đó giúp cho nền kinh tế của quốc gia đó tăng trưởng. Chính vì vậy, các quốc gia theo dòng chảy này tự nguyện tham gia vào cơ chế tự do hoá thương mại quốc tế dưới sự bảo trợ của Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT) và Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Mục đích cuối cùng của cơ chế này là giảm rào cản thương mại trên cơ sở các bên cùng có lợi. Khu vực hoá cũng được hình thành trên nguyên lý tương tự.

Sự khác biệt đầu tiên của khu vực hoá so với toàn cầu hoá chính là nhằm giảm rào cản thương mại giữa các nước trong cùng một khu vực. Hình thức khu vực hoá có thể dề thấy nhất là các Khu vực mậu dịch (Regional Trade Area-RTA). Trong khu vực mậu dịch tự do các nước có thể được hưởng những ưu đãi thương mại do các 1 David Ricardo, Nguyên lý về Kinh tế chính trị và Thuế (1987) 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khãa luËn tèt nghiÖp D­¬ng H­¬ng Giang nước trong cùng khu vực tự thoả thuận. Điều này thường xảy ra là do các nước trong cùng một khu vực thường có sự gần gũi về mặt địa lý và do đó thường buôn bán với nhau một khối lượng lớn hàng hoá.

Vì vậy các nước nằm ngoài khu vực sẽ không được hưởng những ưu đãi như các nước trong một khu vực. Vì vậy khu vực mậu dịch là một trong những ngoại lệ trong các nguyên lý cơ bản dễ thấy nhất của WTO, cho phép các quốc gia thành viên được hưởng đãi ngộ quốc gia (Most Favored Nations - MFN). Theo MFN, tất cả các quốc gia thành viên trong WTO được đối xử như nhau hay không có sự phân biệt đối xử giữa các quốc gia. Tuy nhiên, trong khu vực mậu dịch nguyên tắc này có sự thay đổi.

Chẳng hạn, giả sử Mexico đánh thuế hoa hồng ở mức 10%. Theo MFN, Mexico phải đánh mức thuế hoa hồng như nhau đối với tất cả các thành viên của WTO. Tuy nhiên, do Mexico ký Hiệp định Tự do hoá thương mại Bắc Mỹ (North American Free Trade Agreement-NAFTA) với Canada và Hoa Kỳ, Mexico có thể đánh một mức thuế hoa hồng thấp hơn 10% cho Canada và Hoa Kỳ. Tuy nhiên, cần phải lưu ý một điều rằng một khi khu vực mậu dịch được thiết lập thì tổng luồng thương mại được hưởng ưu đãi bên trong khu vực mậu dịch không phải lúc nào cũng lớn như trong ví dụ trên.

Thứ nhất, nhiều mức thuế đã được ấn định trong khung của MFN tại mức zero. Thứ hai, bởi vì người ta thường có khuynh hướng loại bỏ các phần tử nhạy cảm trong khu vực mậu dịch chẳng hạn như nông nghiệp, điều này có thể làm giảm tới mức tối thiểu mức ưu đãi có thể đạt được. Một vài nước thậm chí đã chọn hướng loại bỏ thoả thuận tự do thương mại vì mức thuế trong MFN còn thấp hơn so với chi phí để có thể trang trải các gánh nặng về thủ tục và luật lệ hành chính của nước sở tại. Hơn nữa, hầu hết các khu vực mậu dịch đều có thời kỳ chuyển đổi khoảng 10 năm để cắt giảm thuế quan đối với các sản phẩm mang tính nhạy cảm hơn và trì hoãn bất kì ảnh hưởng thực tế nào đối trong một khoảng thời gian đáng kể.

9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khãa luËn tèt nghiÖp D­¬ng H­¬ng Giang Nhìn chung, khu vực hoá còn được ưa chuộng hơn toàn cầu hoá nếu xét về chính trị. Các hình thức biểu hiện của khu vực hoá từ trước đến nay Tháng 3 năm 2002, có tới 168 khu vực mậu dịch đã được hình thành và đi vào hoạt động trên toàn thế giới. Xét về mặt lịch sử, khu vực hoá lần đầu tiên xuất hiện vào những năm 1950 và được khuấy động bởi sự hình thành của Cộng đồng chung châu Âu (EU) vào năm 1957. Tuy nhiên vào lúc đó, liên kết kinh tế khu vực không vượt khỏi lãnh địa châu Âu.

Trên thực tế, khu vực hoá “thực sự” mới được hình thành cách đây trong vòng 10 năm trở lại đây. Chẳng hạn, WTO được thành lập vào tháng 1 năm 1995, 125 khu vực được công bố có trong danh sách của WTO với mức công bố trung bình hàng năm là 15. Cũng chính tại thời điểm WTO được thành lập, khu vực hoá càng ngày càng phát triển. Đây cũng là điểm đối lập cơ bản khi so sánh khu vực hoá khi WTO ra đời với tiền thân GATT 2 vào giai đoạn trước năm 1955.

Các hình thức khu vực hoá ngày càng đa dạng, thậm chí có những nước là thành viên của một vài liên kết kinh tế khu vực. Vì thế, có thể nói khu vực hoá đã và đang trở thành một nhân tố kết nối toàn cẩu. Vể mặt địa lý và lịch sử, khu vực hoá bắt nguồn từ châu Âu, gần 60% liên kết khu vực do WTO công bố vào cuối năm 2000 là các nước châu Âu. Những liên kết khu vực ngày nay được biết đến nhiều nhất là: EU, Hiệp hội Tự do thương mại châu Âu (the European Free Trade Association-EFTA), Hiệp định tự do thương mại Bắc Mỹ (the North American Free Trade Agreement- NAFTA), Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (Association of South East Asian Nations - ASEAN), Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (ASEAN Free Trade Area-AFTA) và nhiều tổ chức khác.org 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khãa luËn tèt nghiÖp D­¬ng H­¬ng Giang Một điểm quan trọng nữa cần lưu ý là các liên kết kinh tế khu vực không chỉ là một hiện tượng giới hạn đối với các nước phát triển mà còn lan rộng tới các nước đang phát triển.

Trên thực tế, các nước đang phát triển chiếm tới 30-40% tổng số các liên kết kinh tế khu vực hiện đang hoạt động. Trong các vòng đàm phán, các nước đang phát triển tìm cách nới rộng hợp tác với nhau. Tuy nhiên, trong các cuộc thương lượng gần đây, các khu vực mậu dịch tự do được hình thành giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển. Đây thực sự là một khuynh hướng mới.

Chẳng hạn như sự liên kết giữa Jordan với Hoa Kỳ, Mexico và EU… là những ví dụ điển hình. Thậm chí giữa các nước đang phát triển, khu vực hoá cũng có sự khác biệt đáng kể. Khu vực hoá ở các nước Tây Á, Đông Nam Á, Mỹ Latin cũng có sự khác biệt lớn nếu đem so sánh với khu vực hoá ở Châu Phi. Các nước châu Phi khi tạo nên liên kết khu vực thường chú trọng vào các hiệp định chung về thuế quan và các thị trường chung, và thời gian để diễn ra liên kết khu vực thường từ 20-30 năm.

Thường thì châu Phi không có các liên kết kinh tế khu vực dựa trên các mối quan hệ song phương. Ngược lại, các nước Tây Á và Đông Nam Á ngày nay quan tâm hơn tới mục tiêu thành lập các khu vực mậu dịch tự do. Khoảng cách địa lý cũng đóng một vai trò quan trọng đối với khối lượng thương mại giao dịch cũng như việc hình thành nên các liên kết khu vực. Chẳng hạn như trường hợp của châu Phi và Nam á, 95% xuất khẩu của các khu vực này là từ khu vực bên ngoài.

ở bán cầu phía Tây, thương mại của hầu hết các nước Mỹ Latinh cũng khá đa dạng. Nếu không tính đến Mêhicô, khoảng 55% xuất khẩu của Mỹ Latinh được xuất khẩu sang nửa còn lại của bán cầu. Điều này chứng tỏ những ưu tiên do thương mại đem lại có thể vượt ra khỏi giới hạn địa lý. Một vài ví dụ có thể là: Mêhicô-Israel, Canađa-Chilê, Hàn Quốc-Chilê.

Thoả thuận Tự do Thương mại (Free Trade Agreement-FTA) 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khãa luËn tèt nghiÖp D­¬ng H­¬ng Giang Thoả thuận tự do thương mại theo WTO/GATT đặc biệt được hiểu là một khu vực trong đó bao gồm ít nhất 2 lãnh thổ hải quan trở lên được hình thành khi thuế và các quy định ngặt nghèo về thương mại được loại bỏ một cách đáng kể3. Tháng 3/2002, hình thức phổ biến nhất của khu vực mậu dịch là các Thoả thuận tự do thương mại- chiếm tới 70%. Trong số này, khoảng hơn nửa số Thoả thuận tự do thương mại này là các thoả thuận song phương giữa 2 nước. Chính vì vậy, Thoả thuận tự do thương mại đại diện cho giai đoạn đầu của khu vực hoá so với Hiệp định chung về thuế quan.

Hình thức khu vực mậu dịch tự do với mục đích đạt được các thoả thuận về tự do hoá thương mại không có những đòi hỏi mang tính rườm rà trong quá trình hội nhập nên được hình thành một cách dễ dàng hơn và ngày càng trở nên phổ biến. Khu vực mậu dịch tự do vì thế tạo động lực cho khu vực hoá phát triển như một khối thống nhất kể từ khi WTO được thành lập vào năm 1995. Nhìm chung, các chuyên gia cho rằng khu vực mậu dịch tự do vẫn phổ biến nhất ở châu Âu trong khoàng 5 năm tới. Hiện nay, cũng cần lưu ý một điều rằng khu vực mậu dịch tự do chủ yếu được hình thành giữa các nước phát triển và đang phát triển dựa trên theo hướng Bắc-Nam hơn là theo hướng cổ điển Bắc-Bắc, Nam-Nam.

Có thể thấy một trong những khu vực mậu dịch tự do Bắc-Nam thành công nhất điển hình là NAFTA. Khu vực mậu dịch tự do cũng thường có các quá trình hoà giải. Vì vậy, quy trình hoà giải tiến tới hình thành khu vực hoá thường hoặc là bản sao của quy trình hoà giải của WTO hay nếu đã được hoà giải sớm thì nó có thể làm dịu bớt những gánh nặng hành chính do WTO đem lại.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ