phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm có 3 chương: Chƣơng I: Những vấn đề lý luận và kinh nghiệm quốc tế về phỏt triển kết cấu hạ tầng giao thụng Chƣơng II: Thực trạng phát triển kết cấu hạ tầng giao thông và vấn đề đặt ra trong tiến trỡnh cụng nghiệp húa, hiện đại hóa ở Việt Nam. Chƣơng III: Phương hướng và giải pháp phát triển kết cấu hạ tầng giao thông ở Việt Nam từ nay đến năm 2020. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG KẾT CẤU HẠ TẦNG GIAO THÔNG 1.1 Khái niệm và phân loại kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội 1.1 Một số khái niệm cơ bản Trong việc sản xuất ra của cải vật chất, năng lực sản xuất hay sức sản xuất được quyết định bởi lực lượng sản xuất. Đến lượt mình, lực lượng sản xuất chính là toàn bộ năng lực thực tế của con người trong việc chinh phục thiên nhiên để sản xuất ra của cải vật chất.
Nó bao gồm bản thân người lao động, tư liệu sản xuất và công nghệ. Trong tư liệu sản xuất có một bộ phận tham gia vào quá trình sản xuất với tính cách là những cơ sở, phương tiện chung, nhờ đó mà các quá trình công nghệ, sản xuất, dịch vụ được thực hiện. Nói như vậy có nghĩa là bộ phân cơ sở, phương tiện chung này bản thân không phải là công nghệ, cũng không phải là những công cụ sản xuất, hay dịch vụ trực tiếp tiến hành việc chế tạo sản phẩm, hay tham gia trực tiếp trong lĩnh vực thực hiện sản phẩm. Nhưng thiếu nó thì các quá trình công nghệ, quá trình sản xuất và những dịch vụ trong sản xuất sẽ trở nên khó khăn hoặc không thể diễn ra được.
Toàn bộ những phương tiện đó gộp lại trong khái niệm hạ tầng. Vậy hạ tầng là khái niệm dùng để chỉ những phương tiện làm cơ sở nhờ đó các quá trình công nghệ, quá trình sản xuất và các dịch vụ được thực hiện. Tương ứng với mỗi lĩnh vực hoạt động của xã hội, có một loại cơ sở hạ tầng tương ứng, chuyên dùng. Hạ tầng kinh tế phục vụ cho hoạt động kinh tế; hạ tầng trong lĩnh vực quân sự phục vụ cho hoạt động quân sự; hạ tầng trong lĩnh vực hoạt động văn hoá, xã hội phục vụ cho hoạt động văn hoá xã hội.
Nhưng có loại 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hạ tầng đa năng, co tầm hoạt động rất lớn, những hệ thống hạ tầng thuộc lĩnh vực cung cấp điện năng, giao thông vận tải, thuỷ lợi, thông tin… là những hệ thống hạ tầng trong khi tồn tại và vận hành không chỉ phục vụ cho hoạt động kinh tế mà còn phục vụ cho dân sinh và các hoạt động văn hoá, xã hội khác. Tính chất tổng hợp này của cơ sở hạ tầng được phản ánh trong khái niệm cở sở hạ tầng kinh tế – xã hội. Như vậy, cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội là tổng thể những phương tiện và thiết chế, tổ chức là nền tảng cho kinh tế – xã hội phát triển. Cơ sở hạ tầng giao thông vận tải là một bộ phận quan trọng trong cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội, nó tác động trực tiếp tới sự phát triển kinh tế, tới quá trình tiến hoá xã hội và tới việc cải thiện mức sống của con người.
Giao thông là nhu cầu tất yếu của xã hội loài người. Sự phát triển giao thông mang tính lịch sử và phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, khoa học, công nghệ. Giao thông phát triển gắn liền với sự phát triển của những loại đường khác nhau bao gồm: đường thuỷ, đường bộ, đường sắt và đường hàng không. Giao thông đường thuỷ bao gồm đường sông và đường biển là phương thức vận tải xuất hiện sớm nhất, từ khi con người sử dụng những công cụ lao động thô sơ để đẽo cây làm thành những chiếc thuyền đơn giản và ngày nay giao thông, vận tải đường thuỷ đóng góp một vai trò quan trọng trong buôn bán quốc tế.
Nhưng những quốc gia có hệ thống sông ngòi ít và không có đường bờ biển thì giao thông đường bộ lại đóng một vai trò rất quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Ngoài ra giao thông đường sắt và đường hàng không là những phương thức vận tải tương đối mới, có nhiều ưu điểm, và chúng đã góp phần quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội và giao lưu văn hoá, khoa học, kỹ thuật. với 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com các nước trên thế giới. Đối với mỗi quốc gia, hệ thống giao thông được hình thành trên cơ sở phát triển các mạng lưới giao thông đường bộ, đường thủy, đường sắt, đường hàng không cùng với việc phát triển các phương tiện giao thông vận tải sử dụng mạng lưới phục vụ cho nhu cầu xã hội.
Như vậy có thể nói, kết cấu hạ tầng giao thông là một chỉnh thể các loại đường giao thông phù hợp với nhu cầu và trình độ phát triển kinh tế - xã hội, khoa học - công nghệ của mỗi quốc gia trong từng thời kỳ phát triển nhất định. Hệ thống giao thông của mỗi quốc gia phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, kỹ thuật, công nghệ nhất định. Điều đó dễ dàng nhận thấy từ thực tiễn kinh tế - xã hội ở mỗi quốc gia, mỗi nhóm nước khác nhau trên thế giới. Nhóm các nước nghèo thường có hệ thống giao thông phát triển thiếu quy hoạch hoặc quy hoạch kém, chất lượng các tuyến đường không đảm bảo các tiêu chuẩn tiên tiến, chẳng hạn,, đường sắt vẫn sử dụng khổ đường 1000mm là chủ yếu, các sân bay quốc tế ít hoặc không đáp ứng tiêu chuẩn, đường bộ chủ yếu chỉ có hai làn xe, giao cắt đồng mức nhiều, không bảo đảm tốc độ cho phương tiện và bảo đảm an toàn giao thông.
Nhóm các nước phát triển có hệ thống các tuyến đường phát triển có quy hoạch, chất lượng đường tốt. Đường bộ của các nước này có thể được đến 6-8 làn xe; đường sắt sử dụng chủ yếu loại khổ đường 1m435 và đường sắt đệm từ; hệ thống cảng hàng không của các nước này có thể cho các máy bay hiện đại nhất hiện nay hạ, cất cánh trong mọi điều kiện thời tiết; cảng biển của họ có lưu lượng lớn, bốc dỡ tự động hoá, chi phí thấp. Nói chung, ở các nước phát triển hệ thống các tuyến đường, các bến cảng, nhà ga của các phương thức vận tải đều phát triển và đáp ứng được nhu 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cầu phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia đó. Trong khi đó các nước nghèo thì hệ thống giao thông phát triển chậm, thiếu quy hoạch tổng thể chưa thể hiện được là ngành kết cấu hạ tầng và có vai trò mũi nhọn của nền kinh tế.2 Phân loại hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ * Tuỳ thuộc vào các tiêu chí khác nhau, người ta phân loại hệ thống giao thông đường bộ theo nhiều cách khác nhau: Phân loại dựa vào vai trò của tuyến đường đối với khu vực Theo Nghị định số 167/CP ngày 29/11/1999 của chính phủ và nghị định thay thế là Nghị định số 182/2004/NĐ-CP, đường bộ Việt Nam được chia thành 6 loại như sau: Hệ thống quốc lộ là các đường trục chính của mạng lưới đường bộ toàn quốc có tác dụng đặc biệt quan trọng phục vụ lợi ích kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội, an ninh, quốc phòng của đất nước.
Hệ thống đường quốc lộ ở nước ta hiện nay dài 17.295 km, bao gồm: - Đường nối liền thủ đô Hà Nội tới các thành phố trực thuộc Trung ương, tới trung tâm hành chính các tỉnh. - Đường từ trục chính đến các cửa khẩu quốc tế và cửa khẩu chính (bao gồm cả cảng quốc gia) đến các khu công nghiệp lớn. - Đường trục nối liền trung tâm hành chính của nhiều tỉnh (từ 3 tỉnh trở lên) có ý nghĩa quan trọng về các mặt kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội, an ninh quốc phòng đối với từng vùng. Hệ thống quốc lộ là hệ thống đường chính yếu của mạng lưới đường bộ Việt Nam, do bộ Giao thông mà trực tiếp là Cục đường bộ Việt Nam quản lý và uỷ nhiệm một số quốc lộ, đoạn tuyến cho các địa phương quản lý.
13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hệ thống tỉnh lộ là đường trục trong địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương gồm các đường nối từ thành phố hoặc trung tâm hành chính của các tỉnh tới trung tâm hành chính của các huyện và các đường trục nối trung tâm hành chính của tỉnh với trung tâm hành chính của tỉnh lân cận. Hiện nay nước ta có 23.196 km đường tỉnh lô. Hệ thống huyện lộ là các đường nối từ trung tâm hành chính huyện tới trung tâm hành chính của các xã hoặc cụm các xã của huyện và các đường nối trung tâm hành chính của huyện với trung tâm hành chính của các huyện lân cận. Hệ thống đường huyện lộ ở nước ta hiện nay có tổng chiều dài 54.
Hệ thống đƣờng xã là các đường nối từ trung tâm hành chính của xã đến các thôn, xóm hoặc các đường nối giữa các xã với nhau nhằm phục vụ giao thông công cộng trong phạm vi xã. Ở nước ta hiện nay có 141.442 km đường xã Hệ thống đƣờng đô thị là các đường giao thông nằm trong nội đô, nội thị thuộc phạm vi địa giới hành chính của thành phố, thị xã, thị trấn. Hệ thống đường đô thị ở Việt Nam hiện nay có chiều dài 8. Hệ thống đƣờng chuyên dùng là các đường nội bộ hoặc các đường chuyên phục vụ cho nhu cầu vận chuyển và đi lại của một hoặc nhiều cơ quan doanh nghiệp, tư nhân.
Hiện nay nước ta có 7.622 km đường chuyên dùng. Phân loại dựa vào chất lượng phục vụ của tuyến đường: Theo nghị định của chính phủ số 209/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 12 năm 2004 về quản lý chất lượng công trình xây dựng thì cấp công tình là cơ sở xếp hạng và lựa chọn nhà thầu trong xây dựng, xác định thời hạn bảo 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. cũng theo nghị định này, công trình đường bộ chia thành cấp đặc biệt, cấp I, cấp II, cấp III, cấp IV. Cụ thể là: Cấp Loại đường Lưu lượng xe quy Tốc độ Điều kiện bổ đường đổi sung (xe/ngày đêm) Đặc biệt Đường cao > 30.000 >100km/h tốc Cấp I Đường cao 10.000 >80k/h tốc Cấp II 3000 – 10.