CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Quan niệm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vai trò của văn học nghệ thuật Văn học là biểu hiện của văn hóa. Với ý nghĩa đó, ta tìm thấy không ít những vấn đề về văn hóa trong văn học. Văn học Tây Bắc cũng không phải là ngoại lệ. Chúng ta tìm thấy những biểu hiện của lối sống và tinh thần của những con người Việt Nam sống ở địa bàn dẻo cao trong truyện cổ H’Mông, lại thấy được nguồn gốc và vai trò của hoa ban trong đời sống văn hóa tộc người Thái, thấy được cuộc chiến chống lại hòn tên mũi đạn của một đế quốc sừng xỏ là đế quốc Pháp để làm nên sự kiện 1954 của anh bộ đội cụ Hồ sát cánh với cộng đồng các tộc người cộng cư trên địa bàn, cũng lại thấy được tinh thần kiên cường chống lại thiên nhiên khắc nghiệt của tất cả cộng đồng các dân tộc Tây Bắc trong các sáng tác văn học viết mà chúng ta đã có dịp nói đến trên đây.
Chúng ta biết rằng, trong quá trình phát triển lịch sử của mình, cũng như nhiều ngành khoa học khác, nghiên cứu văn học đã góp phần to lớn trong việc nhận thức về vai trò của văn hoá trong sáng tạo và tiếp nhận văn học, cũng như trong đời sống xã hội. Lấy Nga làm ví dụ. Chúng ta thấy, nhiều công trình nghiên cứu văn học đã được coi là góp phần không nhỏ cho việc đặt nền móng và thúc đẩy cho văn hoá học Nga ra đời và phát triển. Đơn cử như các công trình của M.
Bakhtin (1895-1875) hay Yuri Lotman (1922-1993)… Những luận điểm của Bakhtin về bản chất đối thoại (dialogic nature) của văn học và văn hoá, về tính hệ thống và về mối quan hệ giữa các lĩnh vực đa dạng của văn hoá, về đời sống năng động và mạnh mẽ của văn hoá diễn ra ngay trên những đường biên của những lĩnh vực riêng của nó; những gợi ý của Y. Lotman về ký hiệu học, xem văn học, văn hoá như những văn bản, những mã ký hiệu… đã đóng góp quan trọng cho nền lý luận của văn hoá học thế giới và cả trong thực tiễn nghiên cứu văn hóa. Còn ở Việt Nam? Những công trình nghiên cứu văn học, cả văn học dân gian và văn học viết của những tác giả tên tuổi như Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên, Vũ Ngọc Khánh, Trần Đình Hượu, Phan Ngọc, Trần Đình Sử, Nguyễn Huệ Chi, Đỗ Lai Thúy… đã góp phần quan trọng làm nên diện mạo của văn hoá học ở nước ta. Chính vì vậy, nhiều nhà nghiên cứu văn học ở nước ta, như một tất yếu đã vừa là nhà nhà nghiên cứu văn học vừa là nhà nghiên cứu văn hoá.
10 Từ mối quan hệ đặc biệt giữa văn hóa và văn học, Đảng ta đã liên tục khẳng định văn học, nghệ thuật là một bộ phận trọng yếu của văn hóa dân tộc qua các Văn kiện, các Nghị quyết của Đảng. - Văn kiện đại hội VI khẳng định: “Không hình thái tư tưởng nào có thể thay thế được văn học và nghệ thuật trong việc xây dựng tình cảm lành mạnh, tác động sâu sắc vào việc đổi mới nếp nghĩ, nếp sống của con người”. - Trong Nghị quyết 5 của bộ Chính trị khóa VI (1987) xác định: “Văn học nghệ thuật là bộ phận đặc biệt nhạy cảm của văn hóa, thể hiện khát vọng con người về chân, thiện, mỹ, có tác dụng bồi dưỡng tình cảm, tâm hồn, nhân cách, bản lĩnh của các thế hệ công dân xây dựng môi trường đạo đức trong xã hội, xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa”. - Văn kiện Đại hội VII (1991) nêu rõ: “Văn học, nghệ thuật là một bộ phận quan trọng trong nền văn hóa, gắn bó với đời sống nhân dân và sự nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo” - Nghị quyết TW 4 khóa VII khẳng định: “Văn học nghệ thuật là một bộ phận trọng yếu của nền văn hóa dân tộc, thể hiện khát vọng của nhân dân về chân, thiện, mỹ”.
-Nghị quyết TW 5 khóa VIII coi văn học, nghệ thuật là một trong những lĩnh vực quan trọng nhất của văn hóa - nền tảng tinh thần xã hội. - Nghị quyết 23 của bộ Chính trị khóa X (2008) nêu rõ: “Văn học nghệ thuật là lĩnh vực rất quan trọng, đặc biệt tinh tế của văn hóa, là nhu cầu thiết yếu,thể hiện khát vọng chân, thiện, mỹ của con người, là một trong những động lực to lớn trực tiếp góp phần xây dựng nền tảng tinh thần của xã hội và sự phát triển toàn diện của con người Việt Nam.” Như vậy, chúng ta thấy, Đảng và Nhà nước ta luôn coi văn học, nghệ thuật là hình thái ý thức xã hội đặc thù, là một thành tố quan trọng của văn hóa. Với đặc trưng riêng của nó, nó tác động rất sâu sắc đến tư tưởng,tình cảm của con người mà không một hình thái ý thức xã hội nào thay thế được. Thực hiện Nghị quyết Trung ương V (khoá VIII) và kết luận Hội nghị Trung ương X (khoá IX) về "Xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc", công tác văn hoá ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số ở các tỉnh Tây Bắc như Hòa Bình, Sơn La, Điện Biên.
có nhiều biến chuyển tích cực về quản lý và tổ chức thực hiện. Lãnh đạo các cấp và Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch các tỉnh - thành phố luôn coi trọng, gìn giữ vốn văn hoá truyền thống của các dân tộc, nhất là dân tộc thiểu số vùng cao. 11 Chúng ta biết rằng, một trong những quy luật của giao lưu và giao thoa văn hóa là việc ảnh hưởng của cộng đồng chiếm đa số đến các cộng đồng dân tộc thiểu số chứ việc ảnh hưởng của cộng đồng các dân tộc thiểu số đến dân tộc đa số là không đáng kể. Việc tộc người Việt có hiểu biết về văn hóa các tộc người thiểu số trước đây là rất ít, chỉ trừ những người làm công tác nghiên cứu chuyên môn hay những nhà quản lý trực tiếp tại địa bàn.
Có một điều làm chúng ta hết sức quan ngại, dưới tác động của toàn cầu hóa và giao lưu văn hóa như hiện nay, việc bảo tồn các giá trị văn hóa của các tộc ít người càng gặp phải khó khăn. Vẫn biết những giá trị văn hóa cổ nếu cứ khư khư giữ lấy và tham vọng giữ lại toàn bộ là điều không tưởng nhưng cái gì là bản sắc thì chúng ta có trách nhiệm phải trân trọng và gìn giữ. Với những ý nghĩa đó, xây dựng và phát huy giá trị của “văn học Tây Bắc” mà Điện Biên là một bộ phận quan trọng sẽ góp phần tích cực vào việc phát huy bản sắc văn hóa vùng, từ đó đóng góp không nhỏ cho việc xây dựng nền văn hóa mới tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong giai đoạn mới, tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội. Đó cũng chính là việc thực hiện quán triệt theo Nghị định của Chính Phủ về công tác dân tộc: "Tiếng nói, chữ viết và truyền thống văn hóa tốt đẹp của các dân tộc được đưa vào chương trình giảng dạy trong các trường phổ thông, trường phổ thông dân tộc nội trú, phổ thông dân tộc bán trú, trung tâm giáo dục thường xuyên, trung tâm học tập cộng đồng, trường dạy nghề, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng và đại học phù hợp với địa bàn vùng dân tộc".1 Đó cũng chính là những băn khoăn, trăn trở của GS Tô Ngọc Thanh - người có nhiều năm gắn bó và có đóng góp rất lớn cho công tác văn hóa dân tộc thiểu số đã từng có ý kiến phát biểu: “Đưa thêm vào chương trình giáo dục phổ thông những kiến thức về văn hóa các tộc người Việt Nam.
Khôi phục việc dạy chữ dân tộc trong các trường trước đây do chiến tranh nên bị bỏ dở. Đồng thời, nghiên cứu việc tạo bộ chữ cho các tộc người chưa có chữ viết” [5; 46]. Đây là vấn đề chúng ta cần phải quan tâm và quan tâm hơn nữa. Công tác sưu tầm văn học nghệ thuật trong lịch sử văn học: những điểm tham chiếu Trong thời gian vừa qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nền văn hoá Việt Nam đã có những bước chuyển biến phát triển chưa từng có.
Tuy nhiên, do những lý do khách quan từ thực tiễn lịch sử, di sản văn hoá do các thế hệ cha ông để lại đang có nguy cơ dần bị mai một. Chính vì lẽ đó, việc sưu tầm, tập hợp để bảo tồn và phát huy giá trị của những di sản văn hoá đó là một việc làm hết sức cần thiết trong công cuộc xây dựng nền văn hoá tiên tiến và đậm đà bản sắc dân tộc trong bối cảnh hiện nay. 1 Nghị định số 05/2011/NĐ-CP ngày 14-01-2011 của Chính phủ về công tác dân tộc 12 Thực hiện chủ trương của Đảng và nhà nước về công tác văn hóa văn nghệ, việc sưu tầm gìn giữ và phát huy vốn văn hoá cổ truyền của dân tộc đã được khơi dậy từ khá lâu nhưng hiệu quả thì dường như chưa được như chúng ta mong muốn. Việc sưu tầm văn học Điện Biên cũng vậy.
Đối với mảng văn học truyền miệng của vùng đất tươi đẹp này, có thể thấy rằng, công tác sưu tầm đã gặt hái được nhiều thành công với những đóng góp đáng kể của đội ngũ người bản địa, trong đó có sự đóng góp rất lớn từ công tác hỗ trợ về tài chính, về xuất bản của giáo sư Tô Ngọc Thanh, của Hội văn nghệ Dân gian Việt Nam. Tuy nhiên, chính mảng văn học viết – trong tương quan so sánh với văn học truyền miệng là có phần thuận lợi cho công tác sưu tầm thì lại chưa đạt nhiều thành tựu. Đó chính là một trong những công việc mà chúng ta cần dày công đầu tư thêm. Nhìn sang quốc gia láng giềng Trung Quốc chúng ta thấy, từ thời Tiên Tần đã có bộ Kinh Thi.
Đây là một bộ sách đồ sộ lưu giữ các tác phẩm từ cuối đời nhà Thương (từ khoảng năm 1766 TCN tới khoảng năm 1122 TCN) đến thời Xuân thu (từ năm 722 đến năm 481 TCN). Đời Hán cũng đã có nhiều vựng tập lưu lại những tác phẩm văn học của các danh sĩ đương thời. Đời sau cũng phát huy rất tốt tinh thần của các danh sĩ, các nhà nho đời trước. Mặt khác đáng quý hơn, người Trung Quốc sau khi thu thập, họ rất sớm đã có những phân loại, đánh giá các tác phẩm.