Đặt vấn đề “Một công nhân bất kỳ nam hay nữ đều rất quý báu, chẳng những quý cho gia đình các cô, các chú mà còn quý cho Đảng, Chính phủ và nhân dân nữa. Nếu để xảy ra tai nạn là thiệt chung cho bản thân gia đình, cho Đảng, Chính phủ và nhân dân; người bị tai nạn không đi làm được, gia đình sẽ gặp khó khăn; sức lao động của nhân dân do vậy cũng kém sút; vì thế chúng ta phải hết sức bảo vệ an toàn lao động, bảo vệ tính mạng của người công nhân” ( Hồ Chủ tịch với lao động. Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, 1960 trang 52-53. Hồ Chủ tịch nói chuyện tại công trường Đèo Nai, ngày 30/3/1959) Bảo hộ lao động (BHLĐ) đã, đang và luôn là một chính sách kinh tế - xã hội lớn của Đảng và Nhà nước ta, trở thành một phần quan trọng, bộ phận không thể tách rời của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội.
Công tác An toàn-vệ sinh lao động (AT-VSLĐ) là công tác nhằm chủ động phòng ngừa, ngăn chặn tai nạn lao động (TNLĐ), bệnh nghề nghiệp (BNN) hoặc những tác động xấu đến sức khỏe người lao động (NLĐ). Nghị định số 06/CP ngày 20/01/1995 của Chính phủ quy định “Hàng năm, khi xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, doanh nghiệp phải lập kế hoạch, biện pháp an toàn lao động, vệ sinh lao động và cải thiện điều kiện lao động”. Ước tính chung của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) cũng cho biết, điều kiện lao động (ĐKLĐ) không an toàn và kém vệ sinh làm cho khoảng 160 triệu người mắc BNN và 270 triệu vụ TNLĐ xảy ra trên toàn thế giới mỗi năm, làm thiệt hại khoảng 4% GDP. Riêng ở Việt Nam, mỗi năm có trên 5000 vụ TNLĐ, theo báo cáo của 63/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, trong năm 2010 trên toàn quốc đã xảy ra 5125 vụ TNLĐ làm 5307 người bị nạn, trong đó số vụ TNLĐ chết người 554 vụ, số người chết 601 người, số vụ TNLĐ có hai người bị nạn trở lên 105 vụ, số người bị thương nặng 1260 người, nạn nhân là lao động nữ 944 người.
(Nguồn: http://www.vn) Dựa vào các khảo sát thực tế cho thấy hiện nay, An toàn-vệ sinh lao động trở thành một vấn đề nóng của xã hội nói chung và từng doanh nghiệp sản xuất nói riêng. Làm tốt công tác AT -VSLĐ không những cải thiện môi trường làm việc và sức khỏe người lao động mà còn tham gia bảo vệ môi trường xung quanh. Tuy nhiên, tình hình thực hiện AT-VSLĐ ở các thành phần kinh tế khác, khu vực kinh tế tư nhân, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ hiện rất yếu, điều đáng lo ngại là tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ, mức độ mất an toàn trong lao động song hành với trình độ quản lý, quy mô sản xuất của loại hình doanh nghiệp này. Chính vì thế, công tác AT-VSLĐ đã và đang cần phải được tăng cường và củng cố hơn nữa, trang bị kiến thức và nâng cao nhận thức để người lao động nghiêm túc chấp hành các 1 quy định về AT -VSLĐ nhằm tránh TNLĐ, BNN góp phần tạo điều kiện và môi trường làm việc an toàn, thân thiện cho NLĐ.
Ngành công nghiệp sản xuất và chế biến cao su chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân và là một trong những ngành có tiềm năng phát triển vô cùng lớn. Cao su được sử dụng hầu hết trong các lĩnh vực, phục vụ cho tất cả các nhu cầu trong nước và xuất khẩu.Việt Nam đứng hàng thứ 4 thế giới về xuất khẩu cao su sau Thái Lan, Indonesia và Malaysia. Việt Nam xuất khẩu cao su đến 40 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới với thị trường xuất khẩu lớn nhất là Trung Quốc (chiếm tới 64% lượng xuất khẩu), tiếp theo là Singapore, Hàn Quốc, Đài Loan, Nga, Đức, Hoa Kỳ. Cùng với xu thế phát triển chung, ngành công nghiệp chế biến cao su cũng dấy lên nỗi lo ngại sâu sắc về vấn đề AT-VSLĐ bởi chế biến cao su Việt Nam vẫn chủ yếu là sơ chế và xuất khẩu thô, công nghệ còn lạc hậu và ngành công nghiệp chế biến cao su là một trong những ngành ô nhiễm nặng.
Công nhân ngành cao su thường mắc phải bệnh ngoài da, viêm xoang mãn tính, đau khớp xương; đồng thời phải tiếp xúc môi trường lao động không tốt như làm việc với hóa chất độc hại, nhà xưởng nắng nóng, ô nhiễm mùi hôi, các loại côn trùng…Qua các số liệu khám sức khỏe định kỳ của một số nhà máy chế biến cao su cho thấy tỉ lệ công nhân mắc những bệnh ngoài da khá cao, đặc biệt trong nhóm công nhân trực tiếp thu hoạch và chế biến mủ cao su. Cụ thể theo kết quả khảo sát các bệnh ngoài da cho 1.541 công nhân và 531 người không trực tiếp tiếp xúc với môi trường cạo mủ và chế biến tại 4 công ty gồm 6 nông trường trồng cây cao su và 4 nhà máy chế biến mủ cao su thuộc Tổng công ty cao su Việt nam thì tỷ lệ mắc bệnh da cao tới 51,4 %, trong đó bệnh da ở nhóm công nhân cạo mủ là 47,2 % và ở nhóm công nhân chế biến mủ là 56,2%. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy môi trường lao động (MTLĐ) ngành cao su không thuận lợi, độ ẩm thường cao hơn tiêu chuẩn vệ sinh cho phép (TCVSCP) từ 9 - 13 % và nấm mốc phát triển cao hơn TCVSCP 6-12 lần, đó là các tác nhân ảnh hưởng đến sức khoẻ người lao động. Nhà máy chế biến cao su Xuân Lập trực thuộc Tổng công ty cao su Đồng Nai, chuyên sản xuất SVR10, 10CV, SVR20, 20CV, Latex HA và LA, Skim.
Nhà máy có chức năng chế biến mủ ly tâm (Latex) và mủ cốm từ mủ tạp. Sản phẩm của nhà máy sẽ được cung cấp cho thị trường trong và n goài nước. Được đánh giá là nhà máy hiện đại về quy trình công nghệ cũng như xây dựng hệ thống xử lý nước thải tối ưu so với các đơn vị khác, tuy nhiên nhà máy vẫn không ngoại lệ trong vấn đề phải đối mặt với những vấn đề về AT-VSLĐ còn tồn tại. Quy trình chế biến mủ cao su đang ngày càng sử dụng thêm các loại máy móc, thiết bị có tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây tai nạn cho người lao động (NLĐ).
Trong 3 năm gần đây, các nhà máy trực thuộc Tổng công ty cao su Đồng Nai liên tiếp xảy ra một số vụ TNLĐ khi công 2 nhân thao tác vận hành các loại máy móc (máy cán ép, máy dập…) trong quá trình làm việc gây tổn thương các bộ phận cơ thể. Mặt khác, như đã phân tích ở trên, chế biến cao su là một ngành công nghiệp độc hại, môi trường lao động luôn ẩn chứa nhiều yếu tố có hại ảnh hưởng nghiệm trọng đến sức khỏe NLĐ nhưng việc trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân (PTBVCN) cũng như quản lý tại nhà máy còn hạn chế. Cụ thể, tại phân xưởng mủ cốm-nhà máy cao su Xuân Lập, công nhân phải làm việc thường xuyên trong môi trường ẩm ướt, công đoạn bới móc mủ tiếp xúc nhiều côn trùng lẫn tạp chất, làm việc trực tiếp với hệ thống máy móc thiết bị có tiếng ồn lớn, nhiệt độ cao, áp lực… nhưng hầu như công nhân sử dụng chưa đầy đủ PTBVCN được cấp phát và không chú trọng các hoạt động BHLĐ. Bên cạnh đó, việc kiểm tra cũng như tuyên truyền AT-VSLĐ tại đây chưa giúp người công nhân ý thức phải tự bảo vệ chính mình vì họ không hiểu hết các mối nguy hiểm, có hại gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe.
Đây là khu vực sản xuất tập trung nhiều công nhân nhất nhà máy, tuy vậy lại chưa nhận được sự quan tâm đúng mức của cấp lãnh đạo về vấn đề BHLĐ, dẫn đến công tác AT-VSLĐ còn nổi cộm nhiều vấn đề đáng chú ý. Trước tình hình thực tế trên, em chọn đề tài “Đánh giá hiện trạng và đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả công tác an toàn vệ sinh lao động tại nhà máy chế biến cao su Xuân Lập - Tổng công ty cao su Đồng Nai”. Qua đó, làm rõ công tác AT-VSLĐ tại nhà máy, đặc biệt tại phân xưởng mủ cốm, từ đó đề xuất một số giải pháp cải thiện điều kiện lao động nhằm nâng cao năng suất lao động.2 Mục tiêu thực hiện - Đánh giá thực trạng công tác AT -VSLĐ tại nhà máy chế biến cao su Xuân Lập. - Đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả công tác AT-VSLĐ tại phân xưởng mủ cốm của nhà máy.3 Nội dung thực hiện Đề tài được thực hiện với những nội dung sau đây: - Tìm hiểu quy trình, tình hình sản xuất tại nhà máy bao gồm: xác định quy trình công nghệ, nhu cầu sử dụng nguyên nhiên liệu, tình trạng thiết bị máy móc… - Đánh giá công tác AT-VSLĐ tại nhà máy: quản lý công tác AT-VSLĐ, chế độ chính sách, chăm sóc sức khỏe NLĐ, an toàn máy móc thiết bị (MMTB), thực trạng cấp phát và sử dụng PTBVCN, tuyên truyền huấn luyện.
- Đề xuất và lựa chọn các biện pháp nâng cao hiệu quả công tác AT-VSLĐ.4 Phạm vi và giới hạn thực hiện 3 Đề tài được thực hiện tại nhà máy chế biến mủ cao su Xuân Lập trực thuộc Tổng công ty cao su Đồng Nai thuộc xã Xuân Lập, thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai. Nghiên cứu quy trình sản xuất và đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả công tác ATVSLĐ trong phân xưởng chế biến mủ cốm. Thời gian thực hiện đề tài: 03/10/11-03/01/12 Giới hạn của đề tài: vì điều kiện thời gian và vật lực nên đề tài chỉ tập trung vào phân tích một vài công đoạn tại nhà máy.5 Phương pháp thực hiện Các phương pháp thực hiện trong quá trình hoàn thành đề tài: - Hồi cứu số liệu từ các tài liệu liên quan: Tài liệu tại nhà máy: kết quả đo đạc môi trường lao động (MTLĐ), hồ sơ khám sức khỏe định kỳ, hồ sơ quản lý máy móc thiết bị, tài liệu huấn luyện AT-VSLĐ… Cập nhật các thông tin liên quan về ngành chế biến cao su qua nguồn internet, tài liệu nghiên cứu có liên quan đến đề tài. - Khảo sát thực tế nhà máy: khảo sát quy trình sản xuất tại nhà máy, phỏng vấn trực tiếp công nhân và cán bộ nhà máy.
- Tổng hợp phân tích đánh giá thông tin và số liệu được tổng hợp thông qua các tài liệu sản xuất. 4 CHƯƠNG 2 – TỔNG QUAN 2.1 Giới thiệu chung về tổng công ty cao su Đồng Nai 2.