Chương 1. Cơ sở ly luận và thực tiễn của vẫn đè Chương 2. Sử dụng tư liệu lịch sử trong dạy học chủ đề “Chiến tranh bảo vệ tổ quốc và chiến tranh giải phóng dân tộc trước cách mạng tháng Tám năm 1945” nhằm phát triển các phẩm chất và năng lực học sinh. Thực nghiệm sư phạm.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THUC TIEN CUA VAN DE 1. Một số khái niệm 1. Quan niệm về tư liệu lịch sử Lịch sử là những gì đã xảy ra trong quá trình phát triên của xã hội loài người. lịch sử tôn tại khách quan không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người.
Khác với tự nhiên, trong lịch sử xã hội loài người không có sự lập lại của những sự kiện cụ thé. Mỗi sự kiện bao giờ cũng diễn ra trong thời gian, không gian xác định và chấm dứt, không có sự kiện lịch sử lặp lại nguyên xi đến 2 lần. Vi thé con người không thé quan sát trực tiếp các sự kiện, quá trình lịch sử đó và do đó việc nhận thức lịch sử phải dựa vào nhiều nguồn TLLS khác nhau. TLLS có tam quan trọng đặc biệt đối với khoa học lịch sử nói chung và việc học lịch sử nói riêng.
Khoa học lịch sử tồn tại được trên cơ sở các sự kiện lịch sử, các sự kiện lịch sử là những tế bào cau thành lich sử mà các tế bào đó là từ các TLLS tạo nên. TLLS tồn tại cho khoa học lịch sử và ngược lại khoa học lịch sử không thé thiểu nó. TLLS như một cầu nối các nhà nguyên cứu lịch sử với quá khứ, hay nói cách khác TLLS cho ta thấy những góc nhìn mới về quá khứ một cách có cơ sở, chân thực va đa mau sắc hơn. Có nhiều định nghĩa khác nhau về khái niệm “sử liệu" hay “tu liệu lịch str’ như sau: Nhà sử học Pháp Charles Langloi va Charles Seignobos cho rằng “si liệu là những dau vết do tư tưởng và hành động cúa con người từ quá khử để lại” (Dẫn theo Nguyễn Văn Hiệp, 2016, tr.
Nhà sử học người Ba Lan Kosiatkowski coi "sứ /igu là dau vết còn lại sau một sự kiện lịch sứ, phục vụ cho nhận thức và khôi phục sự kiện đó” (Dẫn theo Nguyễn Văn Hiệp, 2016, tr. Nhà sử học người Nga, C. Smidt, cho rằng “Sứ liệu là tat cả những gì mà từ đó khai thác được những thông tin về quá khứ" (Dẫn theo Nguyễn Văn Hiệp, 2016, tr. Trong lời tựa của tác phẩm Chat xiéng (NXB Sự thật xuất bản năm 1955) nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Tổ cho rang “sử liệu là những di tích dùng dé chép các việc đã qua trong một nước hay của một người, như lời chỉ thị, tờ biên bản, giấy truyền đơn, bài nhật báo, bức công văn cùng những sách chính sử của nhà nước hay lời kỹ thuật của người riêng, cho đến c câu ca dao, truyện truyền kỳ, hoặc tờ tranh bức anh.” (Dẫn theo Nguyễn Văn Hiệp, 2016, tr.
Goi là “tu liệu lịch sử” hay cách gọi khác là “str liệu thì đều được. “Điều quan trọng là “sử liệu” hay “te liệu lịch sử” đều phải thỏa mãn hai đặc trưng chủ yếu là phải chứa đựng thông tin lịch sử và những thông tin đó phải có ý nghĩa lịch sử” (Nguyễn Văn Hiệp. Song ta có thể hiểu “we điệu lich sử la những di tích của quá khứ, xuất hiện như sản phẩm của quan hệ xã hội nhất định, mang trong mình nó những dau vết của quan hệ ay phản anh trực tiếp và trừu tượng hóa một hoạt động nào đó của con người) (Phan Ngọc Liên, 2007, tr. Trong day học lịch sử, điều kiện cơ bản nhất đẻ tái tạo hình ảnh quá khứ là TLLS, không có cái gì có thê thay thé được vi trí và vai trò của TLLS, không có chúng thi không có lịch sử.
Như vậy, đối với day học môn Lịch sử thi TLLS là các sự kiện, tai liệu mà nỗi GV can phải sưu tầm, sắp xếp một cách có hệ thông, lựa chọn những tư liệu cần thiết và phù hợp dé giảng day nội dung lịch sử theo chương trình học giáo dục cấp học quy định. TLLS cảng sinh động. phong phú bao nhiêu thì sự kiện cảng cụ thê, rõ ràng bấy nhiêu. Phân loại tư liệu lịch sử Khoa học lịch sử có nguồn sử liệu hết sức phong phú và đa dang.
Tùy theo nội dung phản ánh và tính chất của sử liệu, người ta thường chia TLLS thành nhiều nhóm khác nhau nhưng tựu chung lại có ba nhóm chính: Tư liệu thành văn, tư liệu hiện vật và tư liệu trực quan. Trong mỗi nhóm này lại bao gồm nhiều loại tư liệu mang những đặc điềm, nội dung phản ánh và xuất xứ khác nhau. Cách phân loại nay chỉ mang tính chất tương đối. a) Nhóm tc liệu thành văn Tư liệu thành văn hay còn gọi là tư liệu chữ viết vì mọi nội dung lịch sử của nó đều được biéu thị bang chữ viết.
Nguồn tư liệu này chiếm khối lượng lớn và đặc biệt quan trọng. đôi khi chiếm địa vị chủ yếu trong các nguồn sử liệu, có thé sử dụng trong giáng day bat cứ nội dung lich sử nao. Hơn nữa, tư liệu thành văn có nội dung phong phú, gọn nhẹ. dé sưu tâm vả sử dụng.
Với khối lượng lớn và hết sức đa dang như vậy nên người ta đã chia tư liệu thành văn thành những nhóm khác nhau: có loại mang tinh chất văn học như sử biên niên, hồi ky., có loại mang tính chất khé ước, chế định như các loại văn tự, luật pháp,. Song mọi sự phân loại chi có tính chất tương đối vì nguồn sử liệu nảy được viết ra không hoàn toàn theo những khuôn khô nhất định cho một giai đoạn lịch sử. Dù được phân loại theo nhiều cách khác nhau, nhìn một cách tông thê tư liệu thành văn có ưu điềm nỗi bật là phản ánh tương đối toàn điện và chỉ tiết các sự kiện, nhất là vẻ đời sống chính tri, xã hội. Cũng do ưu điểm đó, tư liệu thành văn bao giờ cũng được sử dụng phô biến va tập trung hơn.
b) Nhóm ue liệu hiện vật: Tư liệu hiện vật là những sản phẩm trong quá trình hoạt động thực tiễn và hoạt động nhận thức của con người, ton tại dưới dạng các hiện vật như các di tích lịch sử, di chỉ khảo cô học. Tư liệu hiện vật cực kỳ phong phú vả đa dang. Đây chính là những tư liệu “biết nói” có giá trị rất lớn, không chỉ đối với các nhà nghiên cứu mà cả trong giảng day lịch sử, nó như một minh chứng nói lên sự thật lịch sử mà không ai chối bỏ được. Hiện nay chúng ta còn giữ được một số lượng di tích lịch sử khá lớn ở hầu khắp các địa phương trong cả nước.
Thông qua các di tích này chúng ta có thé tiễn hành các hoạt động ngoại khóa, tham quan trải nghiệm cho học sinh. Bên cạnh các di tích lịch sử, tư liệu hiện vật còn bao gồm các đi vật khảo cô học hiện đang được lưu giữ, trưng bày tại các bảo tàng lịch sử, bảo tảng dân tộc học. Dây là những bằng chứng xác thực, trực quan sinh động hấp dẫn đối với học sinh, giúp các em khắc sâu thêm kiến thức. c) Nhóm tc liệu trực quan Tư liệu trực quan bao gồm nhiều loại khác nhau như: tranh, ảnh, bản đồ, sa bàn, mô hình.
phim ảnh, băng ghi âm. Tư liệu trực quan góp phan quan trọng tạo biêu tượng lịch sử cho học sinh, cụ thé hóa các sự kiện và khắc phục tinh trạng “hiện đại hóa" lịch sử của học sinh. Đặc trưng con đường nhận thức của học sinh trong học tập lịch sử Con đường nhận thức của HS là từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng va từ tư duy trừu tượng đến thực tiến - đó là con đường của nhận thức chân lý, của nhận thức hiện tượng khách quan. Van dé đó đòi hỏi người GV phải tô chức hoạt động như thé nao dé có thé giúp cho HS năm bắt hiện thực của quá khứ, nhận thức được chân lý của lịch sử.
Trong học tập lich sử, HS không thé trực tiếp quan sát quá khứ, cũng không thẻ tiễn hành thí nghiệm dé phục hỏi lại hiện thực quá khứ, như nó đã từng tồn tại. việc học tập lich sử phải bắt đầu từ những sự kiện lịch sử dé tạo biểu tượng cho HS. Đó là đặc trưng cơ bản cần chú ý trọng day học môn Lịch sứ. (Phan Ngọc Liên (Chủ biên), 2007, Gido trình phương pháp dạy - học lịch sử ở trường pho thông, Huế, NXB Dai học Huế) Biểu tượng lịch sử là hình ảnh về một không gian lich sử, diễn biến các sự kiện, điện mạo vả tính cách của các nhân vật, đặc trưng noi trội của các yếu tố văn hóa.
được đọng lại trong đầu óc HS với những nét chung nhất, điển hình nhất. Việc tạo biểu tượng lịch sử có vai trỏ đặc biệt quan trọng đối với việc bồi dưỡng nhân cach, tư tưởng tình cảm cho HS. Dé có thé hình thành biểu tượng sâu sắc, người GV phải sử dụng các phương pháp diễn giảng, sinh động hap dẫn, kết hợp với đô dùng trực quan dé minh họa, gây ấn tượng, cám xúc mạnh giúp HS nhớ kỹ, nhớ lâu. Việc tạo biểu tượng về không gian, thời gian là một công việc vô cùng quan trọng trong day học lịch sử.
HS thường rất ngại khí phải ghi nhớ các sự kiện nào đó đi kèm với mốc thời gian, lắm lúc lẫn lộn giữa các sự kiện với nhau. GV phải nghĩ cách để HS nhớ được. (Phan Ngọc Liên (Chủ biên), 2007, Giáo trình phương pháp dạy - học lịch sử ở trường pho thông, Huế, NXB Đại học Huế) 10 Sau khi giúp HS có biéu tượng lịch sử trong đầu, tiếp đó giúp HS hình thành khái niệm lịch sử là sự phản ánh khái quát hóa quá trình lịch sử, phan ánh những mối liên hệ khách quan của các hiện tượng và quá trình lịch sử. Khái niệm là kết quả của sự trừu tượng hóa, giúp cho HS hiểu được ban chất của các sự kiện, hiện tượng lich sử.
Nói cách khác, biểu tượng giúp cho HS biết lịch sử, khái niệm cho HS hiểu lịch sử. Vẻ mặt giáo dục, khái niệm giúp HS hình thành thế giới quan khoa học và nhân sinh quan cách mạng. (Phan Ngọc Liên (Chủ biên), 2007, Giáo trình phương pháp dạy - học lịch sử ở trường phố thông, Huế, NXB Đại học Huế) Sau đó, hướng đến việc nêu quy luật và bai học lịch sử là cái đích trọng yếu, cao nhất của bộ môn Lịch sử ở trường phô thông.