Chương 1. Tổng quan về tỉnh Đồng Tháp và giáo dục tỉnh Đồng Tháp trước năm 1945 - Chương 2. Giáo dục cách mạng ở tỉnh Đồng Tháp trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 – 1954) - Chương 3. Giáo dục cách mạng ở tỉnh Đồng Tháp trong kháng chiến chống Mĩ cứu nước (1954 – 1975) 9 CHƢƠNG 1.
TỔNG QUAN VỀ TỈNH ĐỒNG THÁP VÀ GIÁO DỤC ĐỒNG THÁP TRƢỚC NĂM 1945 1.Tổng quan về tỉnh Đồng Tháp 1.Điều kiện tự nhiên 1. Vị trí địa lí Đồng Tháp là một trong 13 tỉnh thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long, ở đầu nguồn sông Tiền, “diện tích tự nhiên: 3. Địa giới tỉnh Đồng Tháp có vị trí trải từ 10007’14” đến 10058’18” vĩ độ Bắc và từ 105011’38” đến 105056’42” kinh độ Đông. Phía Bắc giáp với Campuchia và tỉnh Long An, phía Đông giáp với tỉnh Tiền Giang và Long An, phía Nam giáp với tỉnh Vĩnh Long và thành phố Cần Thơ, phía Tây giáp với tỉnh An Giang và thành phố Cần Thơ.
Đường biên giới tự nhiên giới giáp các huyện Piềm Chô, Sa Đách, Kăm Pun Trà Béc của tỉnh Prây Veng (vương quốc Campuchia) với chiều dài khoảng 50 km đi qua huyện Tân Hồng, Hồng Ngự và thị xã Hồng Ngự (Đồng Tháp, Việt Nam). Trên tuyến biên giới giữa tỉnh Đồng Tháp (Việt Nam) và Pray Veng (Campuchia) có 2 cửa khẩu quốc tế (Thường Phước, Dinh Bà) và 5 cửa khẩu phụ (Sở Thượng, Thông Bình, Mộc Rá, Á Đôn và Bình Phú). Đặc điểm tự nhiên Địa hình: địa hình toàn tỉnh Đồng Tháp tương đối bằng phẳng, không có đồi núi, nhưng bị chia cắt bởi hệ thống sông, kênh, rạch chằng chịt. Độ cao trung bình khoảng “1,5-2 m” [64, tr.14] so với mực nước biển.
Địa hình có dạng trũng do 2/3 diện tích nằm trong vùng trũng Đồng Tháp Mười vì thế hàng năm vẫn bị ngập nước sâu tới hàng mét vào mùa nước lũ. Vùng bị ngập sâu tập trung ở phía Bắc sông Tiền là các huyện Tân Hồng, Hồng Ngự, thị xã Hồng Ngự, Tam Nông, Thanh Bình, Tháp Mười và các huyện còn lại ở phía 10 Nam lãnh thổ bao gồm Cao Lãnh, Sa Đéc, Lai Vung, Lấp Vò, Châu Thành có địa hình cao nên không bị ảnh hưởng nhiều bởi nước lũ. Tại những vùng đất ngập nước hàng năm được phù sa bồi đắp nên nông nghiệp phát triển, người dân chủ yếu trồng lúa nước; còn ở vùng cao người dân lại sản xuất chủ yếu là hoa màu và cây ăn quả. Địa mạo: địa mạo tỉnh Đồng Tháp có đặc điểm như sau: - Đê tự nhiên ven sông Tiền và sông Hậu: hình thành do quá trình bồi tụ phù sa của sông Tiền và sông Hậu, tạo thành dãy đất cao và các cù lao dọc ven sông, thuộc các huyện Hồng Ngự, Thanh Bình, Tam Nông, Cao Lãnh, thành phố Cao Lãnh, thành phố Sa Đéc, Châu Thành,… - Bưng sau đê: là vùng trũng, thoát nước kém, có mạng thoát nước hình nhánh cây.
Bưng sau đê sông Tiền là phần diện tích nằm sau đê tự nhiên của sông Tiền, ngược lại thì bưng sau đê sông Hậu lại không được rõ nét. - Đồng trũng: đồng trũng của khu vực bắc sông Tiền với địa hình dạng lòng chảo, thấp dần từ phía Bắc xuống phía Nam và từ sông Tiền vào nội đồng, chịu ảnh hưởng lũ trực tiếp hàng năm, thuộc các huyện nằm trong nội đồng vùng Đồng Tháp Mười. Đồng trũng khu vực Nam sông Tiền thuộc các huyện Lai Vung, Lấp Vò, Châu Thành có dạng lòng máng, địa hình thấp dần từ hai bên bờ sông vào bên trong. Khí hậu: Đồng Tháp nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm quanh năm, đồng nhất trên toàn tỉnh, có 2 mùa rõ rệt.
Mùa mưa thường bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô bắt đầu từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau. Độ ẩm trung bình năm là “82,5%” [12, tr.111], tổng số giờ nắng trong năm 2.112], “nhiệt độ trung bình hàng năm là 27,430C, biên độ nhiệt chỉ từ 30C – 40C” [12, tr.111] và không có mùa đông lạnh như các tỉnh ở phía Bắc, đây cũng chính là nét đặc trưng của khí hậu của các tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Tổng lượng mưa trong năm “1.112], 11 tập trung vào mùa mưa, chiếm 90 – 95% lượng mưa cả năm. Có hai hướng gió chính trong năm: gió Tây Nam từ tháng 5-10, gió Đông Bắc từ tháng 11 đến tháng 2 năm sau.
Ngoài ra còn có còn có gió Đông và Đông Nam (gió chướng) vào tháng 3-4. Về thủy văn: Đồng Tháp nằm ở hạ lưu sông Mê Kông nên ngoài việc chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của chế độ thủy văn của sông còn chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều của vịnh Thái Lan. Chế độ thủy văn của tỉnh được chia ra thành 3 thời kỳ: nước lên (bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 8), nước chính (từ giữa tháng 8 đến hết tháng 10) và nước rút (từ tháng 11 đến hết tháng 4 năm sau). Ngoài ra, Đồng Tháp còn là một trong những tỉnh nằm trong trung tâm của lũ.
Mùa lũ ở đây kéo dài 5 tháng ( từ tháng 7 đến tháng 11) hàng năm. Đỉnh điểm của mùa lũ là giữa tháng 9 và tháng 10. Vào thời kỳ đỉnh lũ, tại một số huyện, xã nước lũ cao đến 4 mét. Đất đai: đất đai của Đồng Tháp có kết cấu mặt bằng kém bền vững lại tương đối thấp, nên làm mặt bằng xây dựng đòi hỏi kinh phí cao, nhưng rất phù hợp cho sản xuất lương thực.
Đất đai tại tỉnh Đồng Tháp có thể chia làm 4 nhóm đất chính: - Nhóm đất Phù sa: “diện tích: 152.219,6 ha, chiếm 46,72% diện tích đất tự nhiên” [12, tr. - Nhóm đất Phèn: “diện tích: 146.672,2 ha, chiếm 45,01% diện tích tự nhiên” [12, tr. - Nhóm đất Xám: “diện tích: 26.727,8 ha, chiếm 8,20% diện tích tự nhiên” [12, tr. - Nhóm đất Giồng: “diện tích: 243 ha, chiếm 0,07% diện tích tự nhiên” [12, tr.
Tài nguyên rừng: tại Đồng Tháp chỉ còn quy mô nhỏ, diện tích rừng tràm còn dưới 10.000 ha chủ yếu là những khu rừng đặc dụng ở Vườn Quốc 12 gia Tràm Chim, Khu di tích Xẻo Quít, Khu di tích Quốc gia đặc biệt Gò Tháp và Khu du lịch sinh thái Gáo Giồng. Động vật, thực vật rừng rất đa dạng có rắn, rùa, cá, tôm, trăn, cò, cồng cộc, sếu đầu đỏ, cây dược liệu. Khoáng sản: Đồng Tháp là tỉnh rất nghèo về tài nguyên khoáng sản, chủ yếu có: Cát xây dựng các loại, phân bố ở ven sông, cồn hoặc các cù lao, là mặt hàng chiến lược của tỉnh trong xây dựng. Sét gạch ngói có trong phù sa cổ, trầm tích biển, trầm tích sông, trầm tích đầm lầy, phân bố rộng khắp trên địa bàn tỉnh với trữ lượng lớn.
Sét cao lanh có nguồn trầm tích sông, phân bố ở các huyện phía Bắc tỉnh. Than bùn có nguồn gốc trầm tích từ thế kỷ thứ IV, phân bố ở huyện Tam Nông, Tháp Mười với trữ lượng lớn. Nằm ở đầu nguồn sông Cửu Long, Đồng Tháp có nguồn nước mặt khá dồi dào, nguồn nước ngọt quanh năm không bị nhiễm mặn. Ngoài ra còn có hai nhánh sông Sở Hạ và sông Sở Thượng bắt nguồn từ Campuchia đổ ra sông Tiền ở Hồng Ngự.
Phía Nam còn có sông Cái Tàu Hạ, Cái Tàu Thượng, sông Sa Đéc… hệ thống kênh rạch chằng chịt với hàng trăm con sông, kênh rạch lớn nhỏ nằm đan xen nhau rất thuận lợi cho việc đi lại và vận chuyển hàng hóa. Đồng Tháp có nhiều vỉa nước ngầm ở các độ sâu khác nhau, nguồn này hết sức dồi dào sử dụng phục vụ sinh hoạt đô thị và nông thôn. Giao thông: Đồng Tháp giữ vị trí đầu mối giao thông khá đặc biệt của vùng, có Quốc lộ 30, 54, 80 và N2 đi qua; có 2 bến cảng trên sông Tiền là tuyến đường giao thông thủy huyết mạch cho vận chuyển hàng hóa từ Campuchia đi biển Đông. Điều kiện tự nhiên của Đồng Tháp cho thấy tiềm năng và thế mạnh của tỉnh trên nhiều mặt, nhất là về kinh tế nông nghiệp.
Đó là một trong những thuận lợi cơ bản để phát triển sản xuất hàng hóa, mở rộng giao lưu, phát triển kinh tế – xã hội của địa phương, góp phần vào sự phát triển kinh tế 13 của vùng, miền trong cả nước, đồng thời giữ vững vị trí quan trọng về mặt quốc phòng, an ninh. Đặc điểm về xã hội 1. Sơ lược về lịch sử hình thành tỉnh Đồng Tháp Theo Địa chí tỉnh Đồng Tháp, ít nhất từ đầu thế kỷ XVII hay cuối thế kỷ XVI đã có lưu dân người Việt đến vùng Sa Đéc khẩn hoang, lập ấp. Việc khẩn hoang ở Sa Đéc bấy giờ còn thô sơ, nhân công ít ỏi.
Người dân đất mới an cư lạc nghiệp chưa được bao lâu thì lại phải đối phó với cuộc nội chiến giữa Nguyễn Ánh và anh em nhà Tây Sơn. Gần 10 năm, quân sĩ hai bên truy đuổi nhau ở vùng Sa Đéc mà di tích quan trọng nhất vào thời này còn tìm thấy là Bảo Tiền, Bảo Hậu ở Long Thắng và đập Đá Hàn ở Long Hậu (Lai Vung). Năm 1802, Nguyễn Ánh lên ngôi hoàng đế lấy niên hiệu Gia Long, vùng Sa Đéc là một phần của huyện Vĩnh An dần dần đi vào ổn định. Trong suốt thời gian từ thời Gia Long, Minh Mạng, Sa Đéc trở thành đô thị phát triển mạnh mẽ nhờ kinh tế thị trường, hoạt động giao lưu hàng hoá với các khu vực trong vùng và Campuchia diễn ra nhộn nhịp, thường xuyên.
Năm 1867, Pháp đánh chiếm 3 tỉnh miền Tây, đến năm 1889 Sa Đéc đã trở thành tỉnh lỵ được đô thị hoá theo mô hình áp dụng cho toàn Nam kỳ thuộc địa. Thời này, Nam Kỳ chia thành 20 tỉnh, đến Chính quyền Sài Gòn lại chia Nam Bộ thành 26 tỉnh. Tỉnh Sa Đéc cắt phần đất nằm ở tả ngạn sông Tiền để lập tỉnh Kiến Phong mới. Vùng Cao Lãnh nằm ở phía Bắc sông, vào khoảng cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII, một số lưu dân thôn Bả Canh (nay thuộc xã Đập Đá, thị trấn Đập Đá, tỉnh Bình Định) vào khai hoang, định cư ven bờ rạch Cái Sao Thượng hình thành nên xóm Bả Canh.
Người có công lớn trong việc quy dân khai phá lập thôn ấp là Nguyễn Tú. Để tưởng nhớ công lao của Ông, người 14 dân nơi đây đã cho xây dựng bia ghi công trạng và hiện nay bia Tiền Hiền Nguyễn Tú được trùng tu trở thành Di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh. Trong buổi đầu khai hoang, lập ấp, khu vực này thuộc quyền quản lý của Khố trường Bả Canh.