Chương 1: QUÁ TRÌNH THÀNH LẬP TRƯỜNG TRUNG HỌC BẢO HỘ Ở HÀ NỘI 1. Khái quát về hệ thống giáo dục Pháp - Việt Bắc Kỳ đầu thế kỉ XX 1.Hệ thống giáo dục Pháp - Việt sau hai cuộc cải cách giáo dục năm 1906 và 1917 Trong suốt một quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, nền giáo dục khoa cử Nho học giữ một vai trò hết sức quan trọng trong việc đào tạo, lựa chọn nhân tài. Cũng có thể trong một vài trường hợp những trí thức lỗi lạc tham gia vào hệ thống chính trị thông qua việc tiến cử, tuy nhiên tuyệt đại đa số tuyển dụng quan lại đều thông qua khoa cử Nho học. Tất cả các triều đại phong kiến đều rất chú trọng đến việc hoàn thiện hệ thống khoa cử và chế độ tuyển dụng tầng lớp ưu tú lãnh đạo, đúng như nhận xét của Phan Huy Chú: “Con đường tìm người tài giỏi trước hết là khoa mục.
Phàm muốn thu hút người tài năng tuấn kiệt vào trong phạm vi của mình thì người làm vua một nước không thể nào không có khoa cử” [39; 11]. Cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỷ XX, ở Bắc Kỳ, mặc dù Nho học vẫn phổ biến nhưng ý nghĩa của nó đối với xã hội đã dần mất đi. Thậm chí có người nhận xét: “Kể từ đầu thế kỷ, ở nước ta cũng như ở các nước khác ở Á Đông, có cuộc xung đột lớn của hai nền văn hóa cũ mà nền tảng là Nho giáo và văn hóa mới từ Âu châu đưa vào. Kết cục của sự xung đột ấy, văn hóa của mình sụp đổ tan tác, rã rời.
Người mình tựa như ngồi trên con thuyền không lái, về đời tinh thần không biết bấu víu vào đâu. Một người An Nam thuộc vào hạng học thức là một môn đồ của Nho giáo, Tứ Thư, Ngũ Kinh thuộc làu làu, nhưng thuộc chưa chắc đã hiểu. Thành ra một nhà nho có khi chỉ nho ở cái áo khoác bên ngoài. Đến khi thấy một cái áo khoác có cái hình thể khác, mới mẻ hơn, cứ việc cởi cái cũ của mình để khoác cái áo mới vào, không do dự, không nhớ tiếc” [73; 421].
Một số sự kiện diễn ra đầu thế kỉ XX có thể minh chứng rõ hơn cho nhận định này, như sự hưởng ứng nhiệt tình của nhiều nhà Nho khi Hội đồng Hoàn thiện giáo dục Bản xứ năm 1906 ban hành cải cách các trường bản xứ, đưa thêm chữ Quốc ngữ, chữ Pháp và một số môn khoa học vào trường, cũng như vào các kì thi Hương. Năm 1909, năm đầu tiên đưa các môn thi mới vào 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thi Hương, một số nhà Nho ở Hà Đông, Nam Định đã gửi thư cho Thống sứ Bắc Kỳ: “Những người già không học được chữ Quốc ngữ, những người lười không học được sách tân thư, những người con quan chỉ học lối cũ, không chịu học lối mới, trong ba giống người ấy nếu có đỗ thì cũng vô dụng mà thôi. Xin nhà nước nhất định bỏ phép thi cũ mà thi phép thi mới” [56; 56]. Khi thiết lập dần nền cai trị thực dân ở Việt Nam, nhận thức được rất rõ thực tế nền giáo dục Nho học tuy đã mất dần vai trò, không đáp ứng đòi hỏi của tình hình mới nhưng vẫn còn ảnh hưởng sâu đậm trong các tầng lớp nhân dân, người Pháp đặt ra mục tiêu là phải nhanh chóng xóa bỏ nền giáo dục Nho học và thay thế bằng một hệ thống giáo dục mới trên cơ sở Pháp ngữ và Quốc ngữ, tạo điều kiện phục vụ tốt hơn cho công cuộc cai trị.
Năm 1864 là kì thi Hương cuối cùng ở Nam Kỳ (tổ chức ở ba tỉnh miền Tây trước khi bị Pháp chiếm). Từ năm 1878 chữ Hán trong giấy tờ công văn các cơ quan hành chính được thay thế bằng chữ Pháp và chữ Quốc ngữ. Ở Bắc Kỳ và Trung Kì, chậm chạp hơn rất nhiều: Kì thi Hương cuối cùng ở Bắc Kỳ là năm Ất Mão 1915, và ở Huế năm Mậu Ngọ 1918. Chế độ giáo dục và khoa cử Nho học thực sự cáo chung với khoa thi Hội cuối cùng năm Kỷ Mùi 1919 ở Huế1.
Khi xây dựng nền giáo dục mới thay thế Nho học, người Pháp có ba mục đích: Mục đích đầu tiên quan trọng nhất nhằm đào tạo lớp người thừa hành chính sách của Pháp cai trị và khai thác ở Việt Nam và cả Đông Dương. Tầng lớp này bao gồm các viên chức trong các ngành hành chính, giáo dục, y tế và xây dựng. Thứ đến, là truyền bá tư tưởng Pháp, lòng biết ơn sự khai hóa của Pháp và sự trung thành với nước Pháp. Cuối cùng với mục đích mị dân, làm người Việt tin rằng hệ thống giáo dục của Pháp ở Việt Nam là văn minh và tiến bộ.
Hai mục đích đầu là căn bản, mục đích thứ ba chỉ dùng để đối phó với sự đòi hỏi một nền giáo dục tiến bộ của người Việt trong tương lai. Trong tuyên ngôn nhậm chức của các vị toàn quyền cũng “tranh thủ” tuyên truyền cho mục đích đó. Phương châm của người Pháp đặt ra chủ yếu là nhằm rút ngắn khoảng cách giữa nền giáo dục truyền thống của Việt Nam với nền giáo dục hiện đại của Pháp thông qua việc đưa các bộ môn 1 Tuy vậy mãi đến năm 1932 bộ máy quan lại của triều đình mới bỏ việc dùng chữ Hán và thay thế bằng chữ Pháp hay chữ quốc ngữ. Điều này cũng phần nào cho thấy sức sống khá dai dẳng của giáo dục Nho học ở Việt Nam cũng như tính không triệt để của nền giáo dục thời Pháp thuộc.
13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khoa học và tiếng Pháp vào giảng dạy ở trường học, để có thể gắn liền lợi ích của người Pháp với người bản xứ, tiến hành trao đổi các ý tưởng nhằm tạo các tiếp xúc cần thiết giữa người Pháp và người Việt”. Năm 1887, trong bài viết về nền giáo dục Pháp ở Bắc Kỳ, Dumoutier - khi đó là người tổ chức và thanh tra các trường học Pháp -Việt - đã nhận thức rất rõ vai trò của giáo dục trong công cuộc bình định và khai thác thuộc địa Đông Dương: “Trường học là công cụ có hiệu lực nhất, vững chắc nhất và có khả năng chinh phục nhất” [56;51]. Để hiện thực hóa những mục tiêu trên, chính quyền thuộc địa lần lượt ban hành nhiều chính sách để dần dần xác lập và củng cố hệ thống giáo dục Pháp - Việt trên toàn cõi Đông Dương, nhất là ở Bắc Kỳ - nơi hệ thống giáo dục Nho giáo cho đến đầu thế kỉ XX vẫn còn ảnh hưởng rất sâu đậm. Các nhà nghiên cứu từ trước tới nay thường nhắc đến mốc 1861 với sự ra đời của Trường đào tạo thông ngôn Bá Đa Lộc như là một sự khởi đầu của nền giáo dục Pháp thuộc.
Cái mốc đó là sự tác động đầu tiên của Pháp vào nền giáo dục Việt Nam, cụ thể là miền Nam Việt Nam. Sau đó, Pháp thực hiện nhiều chính sách giáo dục ở miền Nam như đóng cửa các trường chữ Hán, thay thế trường chữ Hán bằng trường Quốc ngữ, dạy chữ Quốc ngữ, một ít chữ Pháp, xóa bỏ hoàn toàn các kì thi Nho học, mở trường sư phạm, ban hành các quy chế giáo dục trong các năm 1874, 1879,. Tuy nhiên, người Pháp tỏ ra lúng túng và gặp rất nhiều khó khăn trong việc tổ chức lại hệ thống giáo dục ở Nam Kỳ, chưa tạo ra những tác động mạnh mẽ vào nền giáo dục cố hữu của người dân Việt Nam. Học sinh vẫn theo học chữ Hán ở các trường lớp tư, số học sinh theo học trường của Pháp rất ít ỏi.
Cho đến năm 1886, số trường học hàng tổng và hàng xã được mở là 343 trường, với 95 giáo viên Pháp, 503 giáo viên Việt và 18.231 học sinh ở tất cả cấp học, các đơn vị hành chính, từ xã đến tỉnh, tỉ lệ người đi học chiếm chưa được 1% dân số Nam Kỳ” [69; 26]. Nhân lực vật lực thiếu thốn, số lượng học sinh khiêm tốn, chất lượng giáo dục rất thấp. Kết quả giáo dục sau mấy chục năm đánh chiếm Việt Nam học chỉ đào tạo được “vài trăm người An Nam nói tiếng Pháp, vài ngàn người nói sai tiếng Pháp, đó là những bồi bếp, những người kéo xe… Dân chúng còn lại thì không biết chữ An Nam lẫn chữ Pháp” [69; 26]. Có thể thấy, các chính sách giáo dục của người Pháp ở 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com miền Nam chưa tạo ra những thay đổi về chất, chưa phá vỡ được cấu trúc giáo dục truyền thống của Việt Nam, hay nói cách khác là chưa tạo ra được một cuộc cải cách triệt để trong lĩnh vực giáo dục.
Sau hiệp ước Patenôtre năm 1884, chính quyền bảo hộ Pháp mà đại diện là các quan toàn quyền đến lúc này mới thực sự sát sao với công cuộc cải cách giáo dục tại Việt Nam. Trong giai đoạn này, những kinh nghiệm giáo dục ở Nam Kỳ được áp dụng cho cả Trung Kì và Bắc Kỳ. Các quan toàn quyền nối tiếp nhau đưa ra các chính sách giáo dục tác động mạnh mẽ đến nền giáo dục truyền thống trên khắp lãnh thổ Việt Nam. Sự nghiệp cải cách nền giáo dục ở thuộc địa chỉ bắt đầu với sự vào cuộc của một nhân vật xuất sắc, vị toàn quyền thực sự đầu tiên ở Đông Dương: Paul Bert (1886-1890).
Từng giữ hai vị trí cao trong giới hàn lâm (giáo sư ở Collège de France và người kế tục Claude Bernard - người được coi là cha đẻ của Sinh lí học - trên bục giảng môn Sinh lí học), Paul Bert rất hi vọng sau khi được Quốc hội Pháp thông qua luật học đường thì ông sẽ đóng một vai trò lớn ở thuộc địa, làm thay đổi hoàn toàn nền giáo dục Đông Dương. Tháng 4-1886, Paul Bert được cử giữ chức Tổng Trú sứ Trung-Bắc Kỳ. Ông đã thi hành các chính sách giáo dục mềm dẻo như mở thêm trường chữ Pháp dạy học sinh Việt Nam với chương trình tinh giản, tiến hành dạy chữ Hán và chữ Quốc ngữ cho quan chức người Pháp, đưa chữ Hán vào chương trình giảng dạy ở những trường mới mở (trường Pháp-Việt), duy trì các trường dạy chữ Hán để đi thi Hương, tổ chức trường dạy tiếng Pháp ở Huế cho những người hoàng tộc và con em quan lại cao cấp trong triều đình, thành lập Bắc Kỳ Hàn lâm viện để tập hợp những người có học vị từ cử nhân trở lên… Paul Bert vừa chú trọng đến việc làm cho các Nho sĩ nhận thức được rằng họ phải biết tiếng Pháp, hiểu người Pháp, nhưng ngược lại người Pháp cũng phải học tiếng người “bản xứ” để hiểu biết người dân mình cai trị.