Luận văn thạc sĩ về Trường Trung học Bảo hộ ở Hà Nội giai đoạn 1908-1945

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ussh trường trung học bảo hộ ở hà nội 1908 1945, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện pháp hoàn thiện trong lĩnh vực .

Chuyên ngành

Lịch sử Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2018

145
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: QUÁ TRÌNH THÀNH LẬP TRƯỜNG TRUNG HỌC BẢO HỘ Ở HÀ NỘI

1.1. Khái quát về nền giáo dục Pháp - Việt Bắc kì đầu thế kỉ XX

1.2. Hệ thống giáo dục Pháp - Việt sau hai cuộc cải cách giáo dục năm 1906 và 1917

1.3. Nội dung học và tài liệu giảng dạy ở các trường tiểu học và trung học Pháp - Việt đầu thế kỉ XX

1.4. Thành lập trường Trung học Bảo hộ ở Hà Nội

2. CHƯƠNG 2: HOẠT ĐỘNG CỦA TRƯỜNG TRUNG HỌC BẢO HỘ Ở HÀ NỘI (1908 - 1945)

2.1. Tổ chức hoạt động

2.2. Chương trình đào tạo; đội ngũ giáo viên và học sinh của trường Trung học Bảo hộ ở Hà Nội

2.3. Chương trình đào tạo

2.4. Đội ngũ giảng viên và học sinh

3. CHƯƠNG 3: ĐÓNG GÓP CỦA TRƯỜNG TRUNG HỌC BẢO HỘ Ở HÀ NỘI ĐẾN NĂM 1945

3.1. Trường Trung học Bảo hộ - một trong những nôi sản sinh trí thức Tây học đầu thế kỉ XX

3.2. Trường Trung học Bảo hộ trong phong trào yêu nước và đấu tranh cách mạng Việt Nam

3.3. Hoạt động ái hữu

3.4. Tham gia vào phong trào đấu tranh cách mạng

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về lịch sử Trường Trung học Bảo hộ Hà Nội 1908 1945

Trường Trung học Bảo hộ Hà Nội, được thành lập vào năm 1908, là một trong những ngôi trường có lịch sử lâu đời và truyền thống giáo dục nổi bật tại Việt Nam. Trường được thành lập dưới sự quản lý của chính quyền thực dân Pháp, với mục tiêu đào tạo nhân tài cho đất nước. Trong suốt hơn 37 năm hoạt động, trường đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển và biến động, từ việc tiếp nhận chương trình giáo dục Pháp đến việc hình thành một nền giáo dục mang đậm bản sắc dân tộc.

1.1. Bối cảnh lịch sử và sự ra đời của Trường Trung học Bảo hộ

Trường Trung học Bảo hộ được thành lập trong bối cảnh nền giáo dục Việt Nam đang chuyển mình từ hệ thống Nho giáo sang giáo dục hiện đại. Quyết định thành lập trường được đưa ra bởi Toàn quyền Đông Dương Klobukowski, nhằm đáp ứng nhu cầu đào tạo nhân lực cho chính quyền thực dân. Trường đã sáp nhập từ nhiều cơ sở giáo dục trước đó, tạo nên một nền tảng vững chắc cho sự phát triển sau này.

1.2. Vai trò của Trường Trung học Bảo hộ trong giáo dục Việt Nam

Trường Trung học Bảo hộ không chỉ là nơi đào tạo học sinh mà còn là một trung tâm văn hóa, nơi diễn ra nhiều hoạt động xã hội và phong trào yêu nước. Trường đã góp phần quan trọng trong việc nâng cao dân trí và phát triển tư duy phản biện cho thế hệ trẻ Việt Nam trong thời kỳ Pháp thuộc.

II. Những thách thức trong quá trình hoạt động của Trường Trung học Bảo hộ

Trong suốt quá trình hoạt động, Trường Trung học Bảo hộ đã phải đối mặt với nhiều thách thức từ chính quyền thực dân và các yếu tố xã hội. Những khó khăn này không chỉ ảnh hưởng đến chương trình giảng dạy mà còn tác động đến tâm lý học sinh và giáo viên.

2.1. Sự kiểm soát của chính quyền thực dân

Chính quyền thực dân Pháp đã áp đặt nhiều quy định nghiêm ngặt đối với hoạt động của Trường Trung học Bảo hộ. Điều này dẫn đến việc hạn chế nội dung giảng dạy và ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục. Tuy nhiên, trường vẫn tìm cách duy trì bản sắc văn hóa và giáo dục của mình.

2.2. Tình hình xã hội và ảnh hưởng đến học sinh

Thời kỳ này, xã hội Việt Nam đang trải qua nhiều biến động lớn, từ chiến tranh đến các phong trào yêu nước. Những yếu tố này đã tác động mạnh mẽ đến tâm lý học sinh, khiến họ vừa phải đối mặt với áp lực học tập vừa tham gia vào các hoạt động xã hội.

III. Chương trình đào tạo và đội ngũ giáo viên tại Trường Trung học Bảo hộ

Chương trình đào tạo tại Trường Trung học Bảo hộ được xây dựng dựa trên nền tảng giáo dục Pháp, nhưng cũng có sự điều chỉnh để phù hợp với nhu cầu và đặc điểm của học sinh Việt Nam. Đội ngũ giáo viên tại trường chủ yếu là người Pháp và một số ít là người Việt, tạo nên sự đa dạng trong phương pháp giảng dạy.

3.1. Nội dung chương trình đào tạo

Chương trình đào tạo của Trường Trung học Bảo hộ bao gồm nhiều môn học từ khoa học tự nhiên đến khoa học xã hội. Mặc dù chịu ảnh hưởng của giáo dục thực dân, nhưng trường vẫn cố gắng đưa vào các nội dung giáo dục mang tính dân tộc và hiện đại.

3.2. Đội ngũ giáo viên và phương pháp giảng dạy

Đội ngũ giáo viên tại Trường Trung học Bảo hộ không chỉ có trình độ chuyên môn cao mà còn có tâm huyết với nghề. Họ đã áp dụng nhiều phương pháp giảng dạy sáng tạo, giúp học sinh phát triển tư duy và khả năng tự học.

IV. Đóng góp của Trường Trung học Bảo hộ đến năm 1945

Trường Trung học Bảo hộ đã đóng góp không nhỏ vào sự phát triển của nền giáo dục Việt Nam và phong trào yêu nước trong giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám 1945. Nhiều học sinh của trường đã trở thành những nhân vật quan trọng trong lịch sử Việt Nam.

4.1. Trường Trung học Bảo hộ cái nôi của trí thức Tây học

Nhiều học sinh của Trường Trung học Bảo hộ đã được đào tạo bài bản và trở thành những trí thức hàng đầu trong xã hội. Họ đã góp phần quan trọng vào việc phát triển văn hóa và khoa học kỹ thuật tại Việt Nam.

4.2. Tham gia vào phong trào yêu nước

Trường Trung học Bảo hộ không chỉ là nơi học tập mà còn là nơi khởi nguồn của nhiều phong trào yêu nước. Học sinh và giáo viên của trường đã tích cực tham gia vào các hoạt động đấu tranh giành độc lập cho dân tộc.

V. Kết luận và tương lai của Trường Trung học Bảo hộ

Trường Trung học Bảo hộ đã trải qua một hành trình dài với nhiều thăng trầm trong lịch sử. Những giá trị mà trường mang lại vẫn còn ảnh hưởng đến nền giáo dục Việt Nam hiện nay. Tương lai của trường hứa hẹn sẽ tiếp tục phát triển và đóng góp cho sự nghiệp giáo dục của đất nước.

5.1. Di sản văn hóa giáo dục của Trường Trung học Bảo hộ

Di sản mà Trường Trung học Bảo hộ để lại không chỉ là những kiến thức mà còn là tinh thần yêu nước và khát vọng tự do của nhiều thế hệ học sinh. Điều này đã tạo nên một nền tảng vững chắc cho sự phát triển của giáo dục Việt Nam.

5.2. Hướng đi tương lai cho Trường Trung học Bảo hộ

Trong bối cảnh hiện đại, Trường Trung học Bảo hộ cần tiếp tục đổi mới phương pháp giảng dạy và chương trình học để đáp ứng nhu cầu của xã hội. Việc kết hợp giữa truyền thống và hiện đại sẽ giúp trường phát triển bền vững trong tương lai.

21/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh trường trung học bảo hộ ở hà nội 1908 1945

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: QUÁ TRÌNH THÀNH LẬP TRƯỜNG TRUNG HỌC BẢO HỘ Ở HÀ NỘI 1. Khái quát về hệ thống giáo dục Pháp - Việt Bắc Kỳ đầu thế kỉ XX 1.Hệ thống giáo dục Pháp - Việt sau hai cuộc cải cách giáo dục năm 1906 và 1917 Trong suốt một quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, nền giáo dục khoa cử Nho học giữ một vai trò hết sức quan trọng trong việc đào tạo, lựa chọn nhân tài. Cũng có thể trong một vài trường hợp những trí thức lỗi lạc tham gia vào hệ thống chính trị thông qua việc tiến cử, tuy nhiên tuyệt đại đa số tuyển dụng quan lại đều thông qua khoa cử Nho học. Tất cả các triều đại phong kiến đều rất chú trọng đến việc hoàn thiện hệ thống khoa cử và chế độ tuyển dụng tầng lớp ưu tú lãnh đạo, đúng như nhận xét của Phan Huy Chú: “Con đường tìm người tài giỏi trước hết là khoa mục.

Phàm muốn thu hút người tài năng tuấn kiệt vào trong phạm vi của mình thì người làm vua một nước không thể nào không có khoa cử” [39; 11]. Cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỷ XX, ở Bắc Kỳ, mặc dù Nho học vẫn phổ biến nhưng ý nghĩa của nó đối với xã hội đã dần mất đi. Thậm chí có người nhận xét: “Kể từ đầu thế kỷ, ở nước ta cũng như ở các nước khác ở Á Đông, có cuộc xung đột lớn của hai nền văn hóa cũ mà nền tảng là Nho giáo và văn hóa mới từ Âu châu đưa vào. Kết cục của sự xung đột ấy, văn hóa của mình sụp đổ tan tác, rã rời.

Người mình tựa như ngồi trên con thuyền không lái, về đời tinh thần không biết bấu víu vào đâu. Một người An Nam thuộc vào hạng học thức là một môn đồ của Nho giáo, Tứ Thư, Ngũ Kinh thuộc làu làu, nhưng thuộc chưa chắc đã hiểu. Thành ra một nhà nho có khi chỉ nho ở cái áo khoác bên ngoài. Đến khi thấy một cái áo khoác có cái hình thể khác, mới mẻ hơn, cứ việc cởi cái cũ của mình để khoác cái áo mới vào, không do dự, không nhớ tiếc” [73; 421].

Một số sự kiện diễn ra đầu thế kỉ XX có thể minh chứng rõ hơn cho nhận định này, như sự hưởng ứng nhiệt tình của nhiều nhà Nho khi Hội đồng Hoàn thiện giáo dục Bản xứ năm 1906 ban hành cải cách các trường bản xứ, đưa thêm chữ Quốc ngữ, chữ Pháp và một số môn khoa học vào trường, cũng như vào các kì thi Hương. Năm 1909, năm đầu tiên đưa các môn thi mới vào 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thi Hương, một số nhà Nho ở Hà Đông, Nam Định đã gửi thư cho Thống sứ Bắc Kỳ: “Những người già không học được chữ Quốc ngữ, những người lười không học được sách tân thư, những người con quan chỉ học lối cũ, không chịu học lối mới, trong ba giống người ấy nếu có đỗ thì cũng vô dụng mà thôi. Xin nhà nước nhất định bỏ phép thi cũ mà thi phép thi mới” [56; 56]. Khi thiết lập dần nền cai trị thực dân ở Việt Nam, nhận thức được rất rõ thực tế nền giáo dục Nho học tuy đã mất dần vai trò, không đáp ứng đòi hỏi của tình hình mới nhưng vẫn còn ảnh hưởng sâu đậm trong các tầng lớp nhân dân, người Pháp đặt ra mục tiêu là phải nhanh chóng xóa bỏ nền giáo dục Nho học và thay thế bằng một hệ thống giáo dục mới trên cơ sở Pháp ngữ và Quốc ngữ, tạo điều kiện phục vụ tốt hơn cho công cuộc cai trị.

Năm 1864 là kì thi Hương cuối cùng ở Nam Kỳ (tổ chức ở ba tỉnh miền Tây trước khi bị Pháp chiếm). Từ năm 1878 chữ Hán trong giấy tờ công văn các cơ quan hành chính được thay thế bằng chữ Pháp và chữ Quốc ngữ. Ở Bắc Kỳ và Trung Kì, chậm chạp hơn rất nhiều: Kì thi Hương cuối cùng ở Bắc Kỳ là năm Ất Mão 1915, và ở Huế năm Mậu Ngọ 1918. Chế độ giáo dục và khoa cử Nho học thực sự cáo chung với khoa thi Hội cuối cùng năm Kỷ Mùi 1919 ở Huế1.

Khi xây dựng nền giáo dục mới thay thế Nho học, người Pháp có ba mục đích: Mục đích đầu tiên quan trọng nhất nhằm đào tạo lớp người thừa hành chính sách của Pháp cai trị và khai thác ở Việt Nam và cả Đông Dương. Tầng lớp này bao gồm các viên chức trong các ngành hành chính, giáo dục, y tế và xây dựng. Thứ đến, là truyền bá tư tưởng Pháp, lòng biết ơn sự khai hóa của Pháp và sự trung thành với nước Pháp. Cuối cùng với mục đích mị dân, làm người Việt tin rằng hệ thống giáo dục của Pháp ở Việt Nam là văn minh và tiến bộ.

Hai mục đích đầu là căn bản, mục đích thứ ba chỉ dùng để đối phó với sự đòi hỏi một nền giáo dục tiến bộ của người Việt trong tương lai. Trong tuyên ngôn nhậm chức của các vị toàn quyền cũng “tranh thủ” tuyên truyền cho mục đích đó. Phương châm của người Pháp đặt ra chủ yếu là nhằm rút ngắn khoảng cách giữa nền giáo dục truyền thống của Việt Nam với nền giáo dục hiện đại của Pháp thông qua việc đưa các bộ môn 1 Tuy vậy mãi đến năm 1932 bộ máy quan lại của triều đình mới bỏ việc dùng chữ Hán và thay thế bằng chữ Pháp hay chữ quốc ngữ. Điều này cũng phần nào cho thấy sức sống khá dai dẳng của giáo dục Nho học ở Việt Nam cũng như tính không triệt để của nền giáo dục thời Pháp thuộc.

13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khoa học và tiếng Pháp vào giảng dạy ở trường học, để có thể gắn liền lợi ích của người Pháp với người bản xứ, tiến hành trao đổi các ý tưởng nhằm tạo các tiếp xúc cần thiết giữa người Pháp và người Việt”. Năm 1887, trong bài viết về nền giáo dục Pháp ở Bắc Kỳ, Dumoutier - khi đó là người tổ chức và thanh tra các trường học Pháp -Việt - đã nhận thức rất rõ vai trò của giáo dục trong công cuộc bình định và khai thác thuộc địa Đông Dương: “Trường học là công cụ có hiệu lực nhất, vững chắc nhất và có khả năng chinh phục nhất” [56;51]. Để hiện thực hóa những mục tiêu trên, chính quyền thuộc địa lần lượt ban hành nhiều chính sách để dần dần xác lập và củng cố hệ thống giáo dục Pháp - Việt trên toàn cõi Đông Dương, nhất là ở Bắc Kỳ - nơi hệ thống giáo dục Nho giáo cho đến đầu thế kỉ XX vẫn còn ảnh hưởng rất sâu đậm. Các nhà nghiên cứu từ trước tới nay thường nhắc đến mốc 1861 với sự ra đời của Trường đào tạo thông ngôn Bá Đa Lộc như là một sự khởi đầu của nền giáo dục Pháp thuộc.

Cái mốc đó là sự tác động đầu tiên của Pháp vào nền giáo dục Việt Nam, cụ thể là miền Nam Việt Nam. Sau đó, Pháp thực hiện nhiều chính sách giáo dục ở miền Nam như đóng cửa các trường chữ Hán, thay thế trường chữ Hán bằng trường Quốc ngữ, dạy chữ Quốc ngữ, một ít chữ Pháp, xóa bỏ hoàn toàn các kì thi Nho học, mở trường sư phạm, ban hành các quy chế giáo dục trong các năm 1874, 1879,. Tuy nhiên, người Pháp tỏ ra lúng túng và gặp rất nhiều khó khăn trong việc tổ chức lại hệ thống giáo dục ở Nam Kỳ, chưa tạo ra những tác động mạnh mẽ vào nền giáo dục cố hữu của người dân Việt Nam. Học sinh vẫn theo học chữ Hán ở các trường lớp tư, số học sinh theo học trường của Pháp rất ít ỏi.

Cho đến năm 1886, số trường học hàng tổng và hàng xã được mở là 343 trường, với 95 giáo viên Pháp, 503 giáo viên Việt và 18.231 học sinh ở tất cả cấp học, các đơn vị hành chính, từ xã đến tỉnh, tỉ lệ người đi học chiếm chưa được 1% dân số Nam Kỳ” [69; 26]. Nhân lực vật lực thiếu thốn, số lượng học sinh khiêm tốn, chất lượng giáo dục rất thấp. Kết quả giáo dục sau mấy chục năm đánh chiếm Việt Nam học chỉ đào tạo được “vài trăm người An Nam nói tiếng Pháp, vài ngàn người nói sai tiếng Pháp, đó là những bồi bếp, những người kéo xe… Dân chúng còn lại thì không biết chữ An Nam lẫn chữ Pháp” [69; 26]. Có thể thấy, các chính sách giáo dục của người Pháp ở 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com miền Nam chưa tạo ra những thay đổi về chất, chưa phá vỡ được cấu trúc giáo dục truyền thống của Việt Nam, hay nói cách khác là chưa tạo ra được một cuộc cải cách triệt để trong lĩnh vực giáo dục.

Sau hiệp ước Patenôtre năm 1884, chính quyền bảo hộ Pháp mà đại diện là các quan toàn quyền đến lúc này mới thực sự sát sao với công cuộc cải cách giáo dục tại Việt Nam. Trong giai đoạn này, những kinh nghiệm giáo dục ở Nam Kỳ được áp dụng cho cả Trung Kì và Bắc Kỳ. Các quan toàn quyền nối tiếp nhau đưa ra các chính sách giáo dục tác động mạnh mẽ đến nền giáo dục truyền thống trên khắp lãnh thổ Việt Nam. Sự nghiệp cải cách nền giáo dục ở thuộc địa chỉ bắt đầu với sự vào cuộc của một nhân vật xuất sắc, vị toàn quyền thực sự đầu tiên ở Đông Dương: Paul Bert (1886-1890).

Từng giữ hai vị trí cao trong giới hàn lâm (giáo sư ở Collège de France và người kế tục Claude Bernard - người được coi là cha đẻ của Sinh lí học - trên bục giảng môn Sinh lí học), Paul Bert rất hi vọng sau khi được Quốc hội Pháp thông qua luật học đường thì ông sẽ đóng một vai trò lớn ở thuộc địa, làm thay đổi hoàn toàn nền giáo dục Đông Dương. Tháng 4-1886, Paul Bert được cử giữ chức Tổng Trú sứ Trung-Bắc Kỳ. Ông đã thi hành các chính sách giáo dục mềm dẻo như mở thêm trường chữ Pháp dạy học sinh Việt Nam với chương trình tinh giản, tiến hành dạy chữ Hán và chữ Quốc ngữ cho quan chức người Pháp, đưa chữ Hán vào chương trình giảng dạy ở những trường mới mở (trường Pháp-Việt), duy trì các trường dạy chữ Hán để đi thi Hương, tổ chức trường dạy tiếng Pháp ở Huế cho những người hoàng tộc và con em quan lại cao cấp trong triều đình, thành lập Bắc Kỳ Hàn lâm viện để tập hợp những người có học vị từ cử nhân trở lên… Paul Bert vừa chú trọng đến việc làm cho các Nho sĩ nhận thức được rằng họ phải biết tiếng Pháp, hiểu người Pháp, nhưng ngược lại người Pháp cũng phải học tiếng người “bản xứ” để hiểu biết người dân mình cai trị.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Lịch sử Trường Trung học Bảo hộ Hà Nội (1908-1945)" cung cấp cái nhìn sâu sắc về quá trình hình thành và phát triển của một trong những trường học quan trọng nhất trong lịch sử giáo dục Việt Nam. Từ những năm đầu thế kỷ 20, trường đã đóng vai trò quan trọng trong việc đào tạo nhân lực cho đất nước, đặc biệt trong bối cảnh xã hội và chính trị đầy biến động. Tài liệu không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về lịch sử giáo dục mà còn mở ra những góc nhìn về ảnh hưởng của trường học đối với sự phát triển văn hóa và xã hội Việt Nam trong giai đoạn này.

Để mở rộng kiến thức của bạn về lĩnh vực giáo dục trong lịch sử Việt Nam, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn nâng cao năng lực thực hành cho học sinh trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông vận dụng qua dạy học lịch sử việt nam từ 1919 đến 1975 chương trình chuẩn, nơi khám phá sự phát triển của giáo dục từ năm 1919 đến 1975. Bên cạnh đó, tài liệu Luận án tiến sĩ lịch sử giáo dục miền nam việt nam dưới thời chính quyền sài gòn sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về giáo dục miền Nam trong bối cảnh chính trị phức tạp. Cuối cùng, tài liệu Luận văn thạc sĩ ussh cải cách giáo dục ở việt nam năm 1979 sẽ cung cấp cái nhìn về những thay đổi trong hệ thống giáo dục Việt Nam sau năm 1975. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về lịch sử giáo dục Việt Nam và những ảnh hưởng của nó đến xã hội.