mở đầu cuộc xâm lược Việt Nam lần thứ hai, lợi dụng tình hình đó, bọn phản động trong nước ngóc đầu dậy, chống phá cách mạng. Không chỉ quân Pháp, trên cả nước còn 6 vạn quân Nhật đang chờ giải giáp, trong khi chờ được giải giáp, một bộ phận quân Nhật theo lệnh quân Anh đã chống lại lực lượng vũ trang của Nam Bộ, tạo điều kiện cho quân Pháp mở rộng phạm vi chiếm đóng ở Nam Bộ. Về đối nội, chính quyền cách mạng vừa mới thành lập, chưa được củng cố, tiềm lực mọi mặt của đất nước còn non yếu: kinh tế đất nước hết sức nghèo nàn, lạc hậu, dưới chế độ thống trị của thực dân, phát xít càng trở nên tiêu điều, kiệt quệ lại bị chiến tranh tàn phá, chưa khôi phục lại được. Thiên tai, hạn hán, lũ lụt liên tiếp xảy ra làm cho hơn một nửa diện tích ruộng đất không thể cày cấy, canh tác được.
Nhiều xí nghiệp công nghiệp còn nằm trong tay tư bản Pháp. Các cơ sở công nghiệp của ta chưa phục hồi được sản xuất, hàng hoá khan hiếm, giá cả tăng vọt, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, nạn đói cuối năm 1944 đầu năm 1945 hoành hành cướp đi sinh mệnh của hơn 2 triệu người, nạn đói mới lại tiếp tục đe dọa. Ngân sách Nhà nước lúc này hầu như trống rỗng, kho bạc Nhà nước chỉ có hơn 1,2 triệu đồng. Chính quyền cách mạng lại chưa quản lí được Ngân hàng Đông Dương.
Trong lúc đó, quân Trung Hoa Dân quốc tung ra thị trường các loại tiền của Trung Quốc đã mất giá, làm cho nền tài chính đất nước thêm rối loạn. 16 z Tàn dư của chế độ thực dân phong kiến để lại hết sức nặng nề, hơn 90% dân số bị mù chữ, các tệ nạn xã hội như cờ bạc, rượu chè… rất phổ biến. Những khó khăn đó đặt Việt Nam đứng trong tình thế như "ngàn cân treo sợi tóc", đặt ra một yêu cầu cấp bách trước mắt cho toàn Đảng, toàn dân là phải củng cố, phải bảo vệ nền độc lập tự do và chính quyền cách mạng vừa giành được từ sau Cách mạng tháng Tám. Bằng sách lược tài tình, với chính sách ngoại giao khôn khéo, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trung ương Đảng đã từng bước chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam, phát huy thuận lợi, khắc phục khó khăn, đạt được nhiều thành tựu trong việc xây dựng chính quyền cách mạng, giải quyết những khó khăn của đất nước.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Chính phủ, nhân dân Việt Nam vô cùng phấn khởi, thi đua tăng gia sản xuất để cứu đói, làm thêm “giờ cứu quốc”, mở lớp Bình dân học vụ xóa nạn mù chữ, tuyên truyền, vận động đời sống mới… Sau hơn một năm, những khó khăn trước mắt về vấn đề tài chính, giặc đói, giặc dốt đã căn bản được giải quyết, Việt Nam từ chỗ phải đối phó cùng một lúc với nhiều kẻ thù thì nay chỉ còn phải đối phó với một kẻ thù là thực dân Pháp. Việt Nam muốn hòa bình để xây dựng và kiến thiết đất nước, Chính phủ Việt Nam mà đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thực hiện sách lược ngoại giao mềm mỏng để giải quyết mối quan hệ với Pháp, ký với Pháp bản Hiệp định Sơ bộ ngày 06/03/1946 và bản Tạm ước ngày 14/9/1946, nhân nhượng với Pháp một số quyền lợi. Nhưng Việt Nam càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, chúng tìm mọi cách để phá hoại, xóa bỏ những nội dung đã ký kết, tăng cường các hành động khiêu khích và liên tiếp gây ra các cuộc xung đột với lực lượng vũ trang Việt Nam. Trắng trợn hơn cả, ngày 18/12/1946, thực dân Pháp láo xược gửi tối hậu thư đòi Chính phủ Việt Nam giải tán lực lượng tự vệ chiến đấu và giao quyền kiểm soát thủ đô cho chúng.
17 z Trước hành động xâm lược đó, nhân dân Việt Nam chỉ có một con đường là cầm vũ khí đứng lên kháng chiến đánh đuổi giặc ngoại xâm để bảo vệ độc lập, tự do, bảo vệ những thành quả Cách mạng tháng Tám và thực hiện nhiệm vụ kiến quốc nhằm xây dựng chế độ mới. Ngày 18 và 19/12/1946, Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp ở Vạn Phúc (Hà Đông) do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì đã quyết định phát động cuộc toàn quốc kháng chiến chống Pháp và đề ra những vấn đề cơ bản về đường lối kháng chiến chống Pháp, ngay đêm 19/12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Cách mạng Việt Nam đặt ra những nhiệm vụ cơ bản cần phải giải quyết: kháng chiến và kiến quốc, kháng chiến để đánh đuổi giặc ngoại xâm, bảo vệ độc lập dân tộc; kiến quốc tức là xây dựng chế độ mới. Với Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp bắt đầu, nhân dân Việt Nam thà hy sinh tất cả để bảo vệ độc lập dân tộc, đường lối kháng chiến được hình thành, đó là đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ và tự lực cánh sinh, vừa kháng chiến, vừa kiến quốc, vừa kháng chiến vừa xây dựng củng cố chính quyền và tiềm lực đất nước về mọi mặt.
Quân dân Việt Nam vừa chiến đấu nhằm tiêu hao và giam chân địch trong các đô thị, vừa tiến hành di chuyển các cơ quan, kho tàng, tổ chức cho nhân dân đi tản cư, đồng thời duy trì sản xuất, đảm bảo nhu cầu ăn mặc cho lực lượng vũ trang, từng bước xây dựng tiềm lực kinh tế cho kháng chiến và chú trọng xây dựng đời sống mới cho nhân dân…chuyển cả nước vào thời chiến và xây dựng thế trận kháng chiến lâu dài. Giữa lúc chiến dịch Việt Bắc đang diễn ra quyết liệt và giành những thắng lợi bước đầu, để vừa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ kháng chiến và nhiệm vụ kiến quốc, nhiều phong trào thi đua ở một số địa phương, đơn vị, hay ở các ngành đã diễn ra. Ngày 10/11/1947, Bộ Tổng Chỉ huy ra Huấn lệnh Luyện quân lập công nhằm “gây một phong trào ganh đua luyện tập và thi nhau giết giặc, trong bộ đội chính quy và trong các đội du kích” [4, 01]. Huấn lệnh ra 18 z đời là yếu tố đầu tiên “nhen nhóm mầm thi đua” trong quân đội, khích lệ, động viên bộ đội, dân quân luyện tập để nâng cao trình độ tác chiến, diệt được nhiều sinh lực địch.
Trên khắp các mặt trận, các chiến sĩ bộ đội, dân quân du kích thi đua luyện quân đội, lập chiến công. Để cổ vũ, động viên bộ đội luyện quân lập công, các cơ quan, đoàn thể nhân dân khắp nơi đặt nhiều giải thưởng, ủng hộ lương thực. Phong trào luyện quân lập công sổi nổi đã đưa đến thắng lợi trong chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông 1947, làm thay đổi cục diện chiến trường, kết thúc giai đoạn phòng ngự chuyển sang phản công, quân dân ta càng thêm phấn khởi, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh, tích cực tham gia kháng chiến. Thắng lợi của chiến dịch Việt Bắc là thắng lợi có quy mô lớn đầu tiên của quân dân Việt Nam, là sự thể hiện rõ nét bước đầu sức mạnh của tinh thần yêu nước của nhân dân, quyết tâm kháng chiến chống ngoại xâm, ra sức thi đua hoàn thành nhiệm vụ, mục tiêu của cách mạng, của kháng chiến.
Xuất phát từ thực tiễn phong trào, nhận thấy sự cần thiết phải động viên, khích lệ tinh thần, khí thế thi đua, đồng thời thống nhất việc lãnh đạo, tổ chức phong trào thi đua và định hướng kịp thời phong trào thi đua cho tất cả các ngành, các giới trên cả nước, nắm bắt được nguyện vọng của nhân dân và yêu cầu thiết thực của cuộc kháng chiến, theo sáng kiến đề xuất của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 27/3/1948, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị phát động phong trào thi đua ái quốc trong cả nước, nhằm động viên tinh thần thi đua yêu nước, phát huy tinh thần sáng tạo, lòng nhiệt tình cách mạng trong mọi tầng lớp nhân dân, kêu gọi các tầng lớp nhân dân nỗ lực thi đua hoàn thành nhiệm vụ, đáp ứng nhu cầu ngày một phát triển của cuộc kháng chiến. Chỉ thị đã đề cập đến các vấn đề như mục đích, phạm vi, kế hoạch, tổ chức thi đua… Nội dung thi đua được đề ra về ba mặt: 1. Phương pháp: tức là nghĩ cách làm sao cho hợp lý; 2. Tinh thần: phấn đấu tích cực, hăng hái, không sợ gian lao, khổ sở; 19 z 3.
Kết quả: mọi hoạt động phải nhằm vào kết quả thực tế, kết quả phải tính về phẩm và lượng trong thời gian nhất định. Tiếp theo đó, ngày 01/5/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi Thi đua yêu nước: “Nước ta kinh tế lạc hậu, nhưng lòng yêu nước và chí quật cường chẳng kém ai. Nay muốn tự cấp, tự túc, đi kịp người ta, thì chúng ta phải đi mau. Vì vậy, sĩ, nông, công, thương, binh, gái trai, già trẻ, toàn thể quốc dân ta vô luận ở địa vị nào, làm công việc gì, phải ra sức tham gia cuộc Thi đua yêu nước, tức là tăng gia sản xuất.
Như thế thì kháng chiến nhất định thắng lợi, Kiến quốc nhất định thành công”. [19, 01] Ngày 11/6/1948, nhân dịp toàn quốc kỷ niệm 1.000 ngày kháng chiến (Ngày Nam bộ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược 23/9/1945), một lần nữa, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc, phát thanh rộng rãi đến toàn quân và toàn dân, một lần nữa kêu gọi nhân dân thi đua đóng góp sức mình cho kháng chiến, ra sức phục vụ kháng chiến1: “Mục đích thi đua ái quốc là: Diệt giặc đói, Diệt giặc dốt, Diệt giặc ngoại xâm. Cách làm là, dựa vào: Lực lượng của dân, Tinh thần của dân, để gây: Hạnh phúc cho dân. Vì vậy bổn phận của người dân Việt Nam, bất kỳ sĩ, nông, công, thương, binh; bất kỳ làm việc gì, đều cần phải thi đua nhau: Làm cho mau, 1 Ngày 11/6 được lấy làm ngày kỷ niệm Thi đua yêu nước hàng năm 20 z Làm cho tốt, Làm cho nhiều.
Mỗi người dân Việt Nam, bất kỳ già, trẻ, trai, gái; bất kỳ giàu, nghèo, lớn, nhỏ, đều cần phải trở nên một chiến sĩ tranh đấu trên mặt trận: Quân sự, kinh tế, chính trị, văn hóa. Thực hiện khẩu hiệu: Toàn dân kháng chiến, Toàn diện kháng chiến, Trong cuộc thi đua ái quốc, chúng ta: Vừa kháng chiến, Vừa kiến quốc. Kết quả đầu tiên của thi đua ái quốc sẽ là: Toàn dân đủ ăn đủ mặc, Toàn dân biết đọc, biết viết. Toàn bộ đội đầy đủ lương thực, khí giới, để diệt ngoại xâm.