chương 1, tác giả nghiên cứu khái quát lịch sử An Nam; Chương 2, trình bày những cuộc hành quân của quân Pháp ở vùng thượng du Bắc Kì chống lại bọn giặc cướp (nghĩa quân); tổ chức quân sự của Pháp ở Đông Dương, trong đó có ghi chép về các trận đánh ở vùng thượng du Bắc Kì như Chợ Mới, Đông Triều, Yên Thế, Cai Kinh. với số liệu cụ thể, phác thảo sơ đồ một số trận đánh tương đối chi tiết. Đồng thời, tác giả còn đưa ra những nhận xét về công cuộc bình định miền thượng du Bắc Kì của thực dân Pháp. Cuốn Dix ans de Haut – Toukin (Mười năm ở vùng cao Bắc Kì) của Girod, 1899, [188] là hồi kí của một trung sĩ Pháp về những điều đã chứng kiến trong 10 năm ở Bắc Kì (1888 - 1898), trong đó có các cuộc hành quân của quân Pháp đến các vùng thượng du Bắc Kì như Bắc Kạn, Tuyên Quang, Hưng Hoá., những trận 8 đánh của quân Pháp, sự chống đối của dân chúng và những cuộc khởi nghĩa của thủ lĩnh địa phương.
Galliéni với công trình Trois Colonnes au Tonkin (1894 - 1895) (Ba đạo quân ở Bắc Kì (1894 - 1895), 1899 [178]. Với vai trò là chỉ huy quân khu 2 của quân đội Pháp, Galliéni đã tổng kết về chiến thuật, các trận đánh của quân Pháp ở thượng du Bắc Kì. Tại trang 4, Galliéni nhận định: "Tất cả các làng mạc ở vùng Cai Kinh đều nộp thuế cho chúng (nghĩa quân)"., "Quân khu 2, dọc biên giới Trung Hoa, giáp với các tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây của Trung Quốc, với các đồn bốt chính của chúng ta ở Lạng Sơn, Đồng Đăng, Na Sầm, Thất Khê, Cao Bằng, nằm trên con đường chính từ Lạng Sơn đi Cao Bằng, đây là vùng cư trú của các dân tộc Thổ và Mán, toàn bộ nằm trong tay bọn cướp". Tác giả phân tích biện pháp chinh phục thuộc địa Việt Nam của quân Pháp bằng chính sách "Thực dân bằng quân sự" và phương pháp "vết dầu loang" được đánh giá hiệu quả trong tất cả các phương pháp chinh phục thuộc địa của Pháp ở Bắc Kì.
Cuốn L'Indo-Chine: Erreurs et dangers. Un programme (Đông Dương những sai lầm và nguy cơ) của Fernand Bernard, 1901, [175] đã phân tích tình hình Đông Dương sau khi Pháp xâm chiếm Bắc Kì (từ 1883), gồm: Tổ chức bộ máy chính quyền và công cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp. Bernard đã đánh giá tinh thần dân tộc, sự trung thành với vị vua yêu nước của người An Nam như sau: "đối với con mắt người An Nam, vua (Hàm Nghi) là hiện thân của Tổ quốc, đang phải chống chọi với ngoại xâm" [175; tr. Bernard cũng chỉ ra những sai lầm và nguy cơ của Pháp trong quá trình khai thác và bóc lột thuộc địa Việt Nam: "Chúng ta phải đương đầu với một dân tộc thống nhất, và tinh thần quốc gia chưa hề suy yếu một chút nào" [175; tr.
Tác giả thừa nhận "những người An Nam nổi loạn như những tên giặc cướp (nghĩa quân) vả lại cách thức chiến đấu mà các toán quân nổi loạn đã sử dụng đối với các đạo quân của ta thật đáng sợ, hơn là những trận đánh chính quy đã đánh dấu cuộc tiến công của quân ta lên Lạng Sơn hoặc lên Tuyên Quang" [175; tr. 9 Charles Gosselin với L'Empire l'Annam (Vương quốc An Nam), 1904 [179] là công trình nghiên cứu về lịch sử An Nam. Trong đó, Charles Gosselin tập trung nghiên cứu những sự kiện xảy ra trong quá trình chinh phục thuộc địa của thực dân Pháp. Khi đề cập đến phong trào chống thực dân Pháp xâm lược ở Việt Nam, tác giả nhận định: “Thật sự là nước An Nam này có một sức sống mãnh liệt mới chịu đựng được một cuộc chiến tranh trường kì như vậy, trong tình trạng phương tiện tự vệ hết sức thiếu thốn.
trước vũ khí của chúng ta, họ chỉ có một cách là chết để bảo vệ tự do; tất cả đều coi khinh cái chết với lòng dũng cảm bình tĩnh. Rumilly với công trình Etude sur la Guerre conntre les Pirates au Tonkin (Nghiên cứu về cuộc chiến tranh chống bọn cướp tại Bắc Kì), 1909, [189] là tập hợp những nghiên cứu về hoạt động của những toán cướp (nghĩa quân). Tác giả Rumilly đã đưa ra nhận định về thủ lĩnh Đề Thám: "Đề Thám là một đối thủ kì cựu của chúng ta (Pháp), Đề Thám có uy tín lớn đối với bộ hạ của mình và uy tín lớn đối với dân chúng An Nam" [189; tr. Rumilly đã ghi chép về sự giúp đỡ của dân chúng đối với cuộc khởi nghĩa như sau: “Những dân cư các vùng Yên Thế, Phúc Yên, Vĩnh Yên.
nơi hoạt động của Đề Thám đều đồng lòng với Thám. Thám tự đặt mình trước mặt họ và được họ coi như một vị anh hùng dân tộc” [tr. 3], và "Không lấy gì làm lạ rằng những kẻ mà chúng ta gọi là cướp thì những người dân bản xứ coi họ như những người phản kháng, ở khắp nơi được đón tiếp và giữ kín" [tr. Tác giả đánh giá: "thực tế những đơn vị hành quân của chúng ta luôn luôn không có mắt, các tướng cướp luôn luôn chủ động.
Bọn chúng quyết định được trận đánh ở nơi mà bọn chúng thấy thích hợp, vào lúc thích hợp sau khi đã có sự chuẩn bị tỉ mỉ". "Có rất nhiều toán cướp đóng quân một cách bình tĩnh sát ngay trại binh của chúng ta một vài cây số mà chúng ta không hay biết gì" [tr. Tác giả Deport với công trình Monographie du terrtoire militaire (Các Đạo quan binh), 1928, [186] cung cấp những thông tin về lịch sử của người Thái Tây Bắc và thế lực của Đèo Văn Trì. Công trình cũng miêu tả chi tiết một số trận đánh của quân Pháp ở vùng Tây Bắc (1883 – 1888).
Deport đã thừa nhận những khó 10 khăn về quân số của quân Pháp ở vùng Tây Bắc: "Quân số của chúng ta ở vùng này gần như rất ít, lại đóng quân rải rác nên khó khăn trong việc thực hiện các cuộc truy quét". Deport phân tích thủ đoạn của Pháp nhằm mua chuộc, dụ dỗ và gây chia rẽ giữa các thủ lĩnh nghĩa quân ở Tây Bắc [186; tr. Tác giả Lyautey với công trình Lettres du Tonkin et de Madagascar (1894 - 1899) (Thư của Bắc Kì và của Madagascar (1894 - 1899)), 1920 [180], tập trung nghiên cứu về hoạt động của quân Pháp ở miền thượng du Bắc Kì. Lyautey đánh giá về tình trạng khủng hoảng tiếp tế của quân Pháp, sự bất lực vì không thể tăng quân số: "Miền thượng du Bắc Kì ta cần dùng đến cả đoàn quân to lớn rải khắp bán đảo để chống lại nạn cướp bóc" [tr.
185]; Cuốn sách cũng ghi chép về những trận chiến trên vùng sông Lô và tổ chức quân sự miền thượng lưu sông Gâm của quân Pháp [tr. Đặc biệt Lyautey đã đưa ra nhiều nhận định về vai trò của các thủ lĩnh như Hà Quốc Thượng, Bá Kỳ, Hoàng Mẫn. Cuốn "Histoire militaire de l’Indochine Francaise" (Lịch sử quân sự xứ Đông Dương) [190] do các sĩ quan tham mưu Pháp ở Đông Dương soạn thảo, 1931. Công trình ghi chép ngắn gọn theo từng khu vực về những hoạt động quân sự ở Đông Dương, trong đó có nhiều sự kiện liên quan đến chiến sự ở trung du và thượng du Bắc Kì.
Cuốn sách đã cung cấp những tư liệu phong phú về các cuộc đụng độ vũ trang giữa quân đội Pháp với nghĩa quân chống Pháp, nhiều trận đánh được miêu tả chi tiết, qua đó giúp chúng tôi đánh giá về vai trò của các thủ lĩnh nghĩa quân như Hoàng Hoa Thám, Đề Kiều, Đốc Ngữ, Đèo Văn Trì, Hoàng Cầu, Tổng Kiêm. Cuốn sách cũng ghi chép về biện pháp đàn áp về quân sự và âm mưu chia rẽ các nhóm nghĩa quân của quân Pháp. Qua ghi chép về cuộc khởi nghĩa của Đốc Ngữ, chúng ta thấy quân Pháp đã triệt để sử dụng đội ngũ tay sai để chiêu dụ nghĩa quân đầu hàng, làm nội phản cho Pháp, triệt phá những làng bản có người theo nghĩa quân. Cuốn sách cũng đánh giá các dân tộc vùng trung du và thượng du Bắc Kì tham gia chống Pháp ở khu vực trên.
Năm 1933, Daufès viết tác phẩm La Garde indigène de l'Indochine de sa création à nos jours (Đội quân bản xứ ở Đông Dương, từ khi thành lập đến nay), tập 1, [187] viết về xứ Bắc Kì. Công trình nghiên cứu về các hoạt động quân sự của quân 11 Pháp ở Bắc Kì; những cuộc hành binh của quân Pháp chống lại các cuộc nổi dậy của nhân dân. Trong đó, nhiều sự kiện được ghi chép rất cụ thể, cung cấp nguồn tài liệu chi tiết về các cuộc chiến chống lại nghĩa quân từ (1886 – 1930). Tác giả David Marr với tác phẩm Vietnamese Anticolonialism (Việt Nam chống chủ nghĩa thực dân), 1971 [219] đã phân tích tác động của chính sách khai thác và bóc lột thuộc địa của thực dân Pháp ở Việt Nam; nghiên cứu về các phong trào yêu nước của nhân dân Việt Nam; sự chuyển biến của phong trào yêu nước và cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX… Tác giả đã đưa ra ý kiến đánh giá về một số phong trào đấu tranh tiêu biểu của nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.
Năm 1989, Charles Fourniau xuất bản công trình Annam - Tonkin 1885- 1896: Lettrés et paysans Vietnamiens face à la conquête coloniale), (Trung Kì - Bắc Kì 1885 - 1896: Văn thân và nông dân Việt Nam đối đầu với cuộc chinh phục thuộc địa), [182]. Tác giả có nhiều đóng góp khi khai thác nhiều nguồn tài liệu ở Pháp để phục dựng phong trào chống Pháp của nhân dân Việt Nam. Khi đánh giá tính chất dân tộc và bản chất của các cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam, tác giả khẳng định đều bắt nguồn từ chủ nghĩa quốc gia Việt Nam [tr. Tại chương 2, Nghiên cứu về cuộc kháng chiến của dân tộc Việt Nam từ 1885-1887, theo tác giả: "các phong trào kháng chiến đều có tính dân tộc" [tr.
83], các cuộc chiến đấu chống Pháp đều dưới danh nghĩa của vua Hàm Nghi, các phong trào nổi dậy ở Bắc Kì từ năm 1885 hoàn toàn có tính chính trị và tính dân tộc; "Lời kêu gọi Cần Vương của Hàm Nghi đã có một vai trò rất quan trọng đối với Bắc Kì nhưng không giống như ở Trung Kì, lời kêu gọi Cần Vương không sinh ra cuộc kháng chiến ở Bắc Kì bởi vì cuộc kháng chiến này đã tồn tại từ lâu. Nhưng, lời kêu gọi của Vua đã góp phần tổ chức cuộc kháng chiến với sự tham gia rộng rãi của văn thân, các chánh tổng, các lực lượng yêu nước, các tầng lớp quan lại" [tr.