Tổng quan luận án

Bản luận án tiến sĩ lịch sử mang tên "Phong trào yêu nước chống thực dân Pháp của nhân dân vùng trung du và thượng du Bắc Kì từ năm 1883 đến năm 1930" do nghiên cứu sinh Lưu Thị Ngọc Tuyết thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Phạm Quốc Sử và PGS. Vũ Thị Hòa, thuộc chuyên ngành Lịch sử Việt Nam (mã số: 62.13), bảo vệ năm 2018.

Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ vị trí địa lý, quân sự và kinh tế chiến lược của vùng trung du và thượng du Bắc Kì đối với cả nước. Khi tiến hành mở rộng xâm chiếm và bình định Việt Nam, thực dân Pháp đã coi đây là địa bàn chiến lược then chốt cần kiểm soát để củng cố bộ máy cai trị và khai thác tài nguyên. Vùng đất này cũng là địa bàn cư trú lâu đời của các dân tộc thiểu số với truyền thống kiên cường bảo vệ vùng biên cương phên giậu của Tổ quốc. Khi thực dân Pháp tiến công đánh chiếm, các sĩ phu, quan lại yêu nước cùng các tù trưởng và quần chúng nhân dân đã bền bỉ tiến hành các cuộc đấu tranh vũ trang và chính trị kéo dài gần năm thập kỷ. Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: dù phong trào có quy mô rộng lớn, tính chất quyết liệt và mang nhiều sắc thái đặc thù, các công trình sử học của người Pháp trước đây đều nhìn nhận phiến diện theo quan điểm thực dân, quy chụp nghĩa quân là "giặc cướp" hoặc "phiến loạn"; trong khi các công trình trong nước trước và sau năm 1945 chủ yếu nghiên cứu tản mạn về từng cuộc khởi nghĩa riêng rẽ hoặc dừng lại ở phạm vi lịch sử từng địa phương, chưa có một công trình nào tái hiện toàn cảnh, chuyên sâu và có hệ thống về phong trào yêu nước chống Pháp trên toàn bộ không gian liên vùng trung du và thượng du Bắc Kì trong suốt giai đoạn từ năm 1883 đến năm 1930.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ bức tranh toàn cảnh về phong trào yêu nước chống thực dân Pháp xâm lược và cai trị ở khu vực trung du và thượng du Bắc Kì trong hai thập niên cuối thế kỷ XIX và ba thập niên đầu thế kỷ XX; từ đó đánh giá khách quan vai trò, tầm quan trọng chiến lược của vùng đất này trong lịch sử chống thực dân Pháp nói riêng và lịch sử giữ nước nói chung của dân tộc Việt Nam.

Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài gồm 4 nội dung cụ thể:

  1. Làm rõ bối cảnh lịch sử và những nhân tố tác động đến sự hình thành, phát triển của phong trào yêu nước chống thực dân Pháp của nhân dân vùng trung du và thượng du Bắc Kì (1883 – 1930).
  2. Nghiên cứu một cách tương đối đầy đủ, có hệ thống về diễn biến, quá trình hình thành và các bước phát triển của phong trào chống Pháp của nhân dân trung du và thượng du Bắc Kì (1883 – 1930).
  3. Đánh giá vai trò của các thủ lĩnh nghĩa quân trong những cuộc khởi nghĩa lớn; mối liên hệ, phối hợp chiến đấu của các cuộc khởi nghĩa ở từng vùng; làm sáng tỏ một số phong trào yêu nước chống Pháp tiêu biểu; sự chuyển biến của phong trào yêu nước chống Pháp ở trung du và thượng du Bắc Kì từ cuối thế kỷ XIX sang đầu thế kỷ XX.
  4. Làm rõ những đặc điểm nổi bật, tính chất và vai trò của phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân vùng trung du và thượng du Bắc Kì trong mối liên hệ với phong trào đấu tranh chung của cả nước những thập niên cuối thế kỷ XIX và 30 năm đầu thế kỷ XX.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu được xác định rõ ràng:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các cuộc khởi nghĩa, các phong trào và hoạt động yêu nước chống thực dân Pháp của thủ lĩnh, nghĩa quân và nhân dân vùng trung du và thượng du Bắc Kì từ năm 1883 đến năm 1930.
  • Phạm vi thời gian: Gần 5 thập kỷ, tính từ mốc thực dân Pháp mở rộng đánh chiếm vùng trung du và thượng du Bắc Kì (năm 1883) cho đến khi Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập và cuộc khởi nghĩa Yên Bái nổ ra (năm 1930).
  • Phạm vi không gian: Toàn bộ địa bàn vùng trung du và thượng du Bắc Kì thời kỳ thuộc địa của Pháp, bao gồm 17 tỉnh: Bắc Giang, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Cao Bằng, Thái Nguyên, Hà Giang, Hòa Bình, Quảng Yên, Hải Ninh, Hưng Hóa, Sơn Tây, Phú Thọ, Sơn La, Lai Châu, Lào Cai, Tuyên Quang, Yên Bái, cùng các đạo quan binh tương ứng.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung khảo cứu các cuộc khởi nghĩa vũ trang, căn cứ địa kháng chiến, hoạt động bạo động, vận động cứu nước của các tầng lớp sĩ phu, quan lại, hào mục, thủ lĩnh nông dân, tù trưởng và nhân dân các dân tộc thiểu số.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan lịch sử nghiên cứu được tác giả phân chia thành các nhóm công trình trong và ngoài nước:

Nhóm công trình tiếng nước ngoài tập trung vào ghi chép của các sĩ quan và học giả người Pháp:

  • Tác phẩm Pirates et rebelles au Tonkin nos soldats au Yen The (1892) của Frey miêu tả hệ thống công sự Yên Thế, thừa nhận nghệ thuật tác chiến của Đề Thám và sự xuất hiện của "Đảng quốc gia" cùng các làng chiến đấu.
  • Souvenirs de l'Annam et du Tonkin (1892) của Masson ghi lại quá trình hành quân (1886 - 1887), chỉ ra nhận thức sai lầm của Pháp khi cho rằng đã chiếm xong Bắc Kì năm 1888.
  • Opérations militaires au Tonkin (1896) của Chalerol tổng kết chiến sự ở Chợ Mới, Đông Triều, Yên Thế, Cai Kinh từ 1885 đến 1895.
  • Dix ans de Haut-Tonkin (1899) của Girod phản ánh các cuộc viễn chinh tại Bắc Kạn, Tuyên Quang, Hưng Hóa giai đoạn 1888 - 1898.
  • Trois Colonnes au Tonkin (1894 - 1895) (1899) của Galliéni đúc kết biện pháp "thực dân bằng quân sự" và chiến thuật "vết dầu loang" tại Quân khu 2.
  • L'Indo-Chine: Erreurs et dangers. Un programme (1901) của Fernand Bernard ghi nhận tinh thần dân tộc kiên định của người An Nam dưới ngọn cờ vua Hàm Nghi.
  • L'Empire d'Annam (1904) của Charles Gosselin khẳng định nghị lực kiên cường và sức chiến đấu bền bỉ của người Việt Nam.
  • Étude sur la Guerre contre les Pirates au Tonkin (1909) của Rumilly phân tích uy tín xã hội sâu rộng của Hoàng Hoa Thám tại Yên Thế, Vĩnh Yên, Phúc Yên.
  • Monographie du territoire militaire (1928) của Deport cung cấp tư liệu về địa bàn Tây Bắc và thủ lĩnh Đèo Văn Trì.
  • Lettres du Tonkin et de Madagascar (1894 - 1899) (1920) của Lyautey mô tả sự thiếu hụt binh lực, khủng hoảng tiếp tế và vai trò của các thủ lĩnh Hà Quốc Thượng, Bá Kỳ, Hoàng Mẫn.
  • Histoire militaire de l’Indochine Française (1931) do các sĩ quan tham mưu Pháp biên soạn, tổng hợp các cuộc giao chiến vũ trang với Hoàng Hoa Thám, Đề Kiều, Đốc Ngữ, Lương Tam Kỳ.
  • La Garde indigène de l'Indochine de sa création à nos jours (1933) của Daufès viết về các hoạt động quân sự trấn áp từ năm 1886 đến năm 1930.
  • Các công trình nghiên cứu hiện đại: Vietnamese Anticolonialism (1971) của David Marr; Annam - Tonkin 1885 - 1896: Lettrés et paysans Vietnamiens face à la conquête coloniale (1989) của Charles Fourniau; La province Muong de Hoa Binh (1994) của Pierre Grossin; Người Pháp và người An Nam, bạn hay thù? (2006) của Philippe Devillers.

Nhóm công trình tiếng Việt được chia thành các phân nhóm:

  • Tài liệu địa chí và dân tộc học: Đại Nam nhất thống chí của Quốc Sử quán triều Nguyễn; Địa dư các tỉnh Bắc Kì (1930); tác phẩm của Lã Văn Lô (1973) về vai trò của các dân tộc thiểu số; Góp phần tìm hiểu tỉnh Hòa Bình (1972) của Bùi Văn Kín; Tư liệu về lịch sử xã hội dân tộc Thái ở Tây Bắc (1977); sử biên niên bản mường Quam tô mương; các cuốn lịch sử địa phương tỉnh Cao Bằng, Hà Giang, Sơn La, Yên Bái.
  • Nghiên cứu thông sử và chuyên khảo thời kỳ cận đại: Việt Nam sử lược (1920) của Trần Trọng Kim; bộ Chống xâm lăng (3 tập) của Trần Văn Giàu; Lịch sử Tám mươi năm chống Pháp (1957) của Trần Huy Liệu; Việt Nam tranh đấu sử (1949) và Việt sử toàn thư của Phạm Văn Sơn; bộ sách Lịch sử Việt Nam (tập III, VI, VII, VIII) do Đinh Xuân Lâm chủ biên; Lịch sử Vĩnh Phú (1980) của Lê Tượng và Vũ Kim Biên; Lịch sử cận - hiện đại Việt Nam, một số vấn đề cần nghiên cứu (1998) của Đinh Xuân Lâm; Kỳ Đồng Nguyễn Văn Cẩm (1993) của Nguyễn Phan Quang; Danh tướng yêu nước Tôn Thất Thuyết (1839 - 1913) (1998); Phong trào dân tộc trong đấu tranh chống Pháp ở Việt Nam 1885 - 1918 (2007) của Nguyễn Ngọc Cơ; Lịch sử Quân sự Việt Nam tập 9 (2000); Căn cứ địa trong phong trào Cần Vương chống Pháp (1885 - 1896) (2005) của Dương Đình Lập; Việt Nam dưới thời Pháp đô hộ (2008) của Nguyễn Thế Anh.
  • Các công trình chuyên sâu trực tiếp: Nhân dân các dân tộc Tây Bắc chống thực dân Pháp xâm lược (1858 - 1930) (1972) của Ban Dân tộc Khu tự trị Tây Bắc; Phong trào nông dân Yên Thế chống Thực dân Pháp xâm lược (1884 - 1913) (2001) của Nguyễn Văn Kiệm; Hoàng Hoa Thám (1836 - 1913) (2013) của Khổng Đức Thiêm; Phong trào Cần Vương ở Phú Thọ cuối thế kỷ XIX (2007); Kỷ yếu hội thảo Danh nhân Nguyễn Quang Bích với phong trào Cần Vương chống Pháp cuối thế kỷ XIX (2011); Mũi tên thần – Những câu chuyện về nghĩa quân Hoàng Đình Kinh (1999) của Nguyễn Quang Huynh; Kỷ yếu Khởi nghĩa Thái Nguyên 80 năm nhìn lại (1997); Khởi nghĩa Yên Bái (02 - 1930) - một số vấn đề lịch sử (1997); Việt Nam Quốc dân Đảng trong lịch sử cách mạng Việt Nam (2012) của Nguyễn Văn Khánh; Lịch sử phong trào công nhân mỏ Quảng Ninh (1883 - 1945) (1974) của Thi Sảnh; Phong trào chống Pháp ở Sơn La từ cuối thế kỷ XIX đến năm 1945 (2012) của Phạm Văn Lực; Hoàng Đình Giong cuộc đời và sự nghiệp hoạt động cách mạng (1904 - 1947) (2014); luận án tiến sĩ Phong trào Cần Vương chống Pháp ở Bắc Kì (1885 - 1896) (2015) của Nguyễn Thị Thanh Hoa; cùng các bài báo khoa học trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử của Đặng Huy Vận, Đinh Xuân Lâm, Hoàng Đình Bình, Trịnh Nhu, Bùi Đình Phong, Phạm Quang Trung.

Vị trí của luận án: Luận án là công trình chuyên khảo đầu tiên xâu chuỗi, phân tích có hệ thống toàn bộ tiến trình hình thành, phát triển và chuyển biến của phong trào yêu nước chống Pháp trên phạm vi liên vùng trung du và thượng du Bắc Kì từ năm 1883 đến năm 1930; khắc phục tình trạng thiếu khách quan của các tài liệu thực dân cũ cũng như sự tản mạn, cục bộ của các công trình địa phương đã công bố.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên cơ sở phương pháp luận sử học Mác - xít, lập trường của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử. Nghiên cứu quán triệt các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh về giai cấp lãnh đạo cách mạng, bạo lực cách mạng, khởi nghĩa vũ trang, cũng như vai trò của quần chúng nhân dân và khối đại đoàn kết các dân tộc trong sự nghiệp chống giặc ngoại xâm.

Về phương pháp nghiên cứu, tác giả kết hợp chặt chẽ các phương pháp chuyên ngành và liên ngành:

  • Phương pháp lịch sử và phương pháp logic: Đây là hai phương pháp nền tảng được vận dụng xuyên suốt nhằm dựng lại diễn biến cụ thể của phong trào theo trình tự thời gian khách quan, qua đó khái quát hóa các quy luật vận động, bản chất và đặc trưng nội tại của phong trào trong mối quan hệ nhân quả.
  • Phương pháp điền dã và khảo sát thực địa: Do tính chất nghiên cứu lịch sử liên vùng miền núi, tác giả thực hiện khảo sát tại các địa phương để xác minh địa danh, cấu trúc căn cứ kháng chiến, vết tích đồn bốt, thu thập lời kể dân gian và đối chiếu tư liệu gia phả của các dòng họ thủ lĩnh.
  • Các phương pháp bổ trợ: Phương pháp phân tích và tổng hợp tư liệu, phương pháp nghiên cứu liên ngành (kết hợp sử học với dân tộc học, văn hóa học, địa lý lịch sử), phương pháp so sánh lịch sử và phương pháp thống kê lịch sử.

Nguồn tư liệu thực hiện đề tài gồm ba bộ phận chính:

  1. Tài liệu lưu trữ: Khai thác tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I và Thư viện Quốc gia Việt Nam, bao gồm hồ sơ hành chính, địa chí, báo cáo chính trị của chính quyền bảo hộ Pháp thuộc các phông: Phông Toàn quyền Đông Dương (FGGI), Phông Phủ Thống sứ Bắc Kì (FRST), Phông Tòa sứ Phú Thọ (FRPT).
  2. Tài liệu tham khảo thành văn: Các bộ thông sử triều Nguyễn, lịch sử đảng bộ các địa phương, chuyên khảo, luận án, luận văn và các bài báo khoa học trên các tạp chí chuyên ngành.
  3. Tài liệu điền dã và văn bản địa phương: Các văn bản lưu trữ bằng chữ Pháp, chữ Hán - Nôm và chữ Thái cổ (như sử biên niên Quam tô mương), ảnh tư liệu, bản đồ, lược đồ hành quân, gia phả dòng họ và văn bia di tích (tiêu biểu như bia đá Bảo Ninh Sùng Phúc tự bi ở Tuyên Quang).

Nội dung chính theo từng chương

Chỉ tiêu phân vùng Số liệu và đặc điểm cụ thể trong văn bản luận án
Tổng diện tích tự nhiên Khoảng 102.000 km², chiếm 88% diện tích toàn Bắc Kì (115.700 km²)
Các đơn vị hành chính thời thuộc địa Gồm 17 tỉnh: Bắc Giang, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Cao Bằng, Thái Nguyên, Hà Giang, Hòa Bình, Quảng Yên, Hải Ninh, Hưng Hóa, Sơn Tây, Phú Thọ, Sơn La, Lai Châu, Lào Cai, Tuyên Quang, Yên Bái
Hệ thống 4 Đạo quan binh (thành lập 1891) Đạo quan binh I (Hải Ninh), Đạo quan binh II (Cao Bằng), Đạo quan binh III (Hà Giang), Đạo quan binh IV (Lai Châu)
Tài nguyên khoáng sản trọng điểm Than (Hòn Gai, Cẩm Phả, Đông Triều, Thái Nguyên); Chì, kẽm, thiếc (Tuyên Quang, Bắc Kạn, Cao Bằng); Apatit (Lào Cai); Vàng (Trấn Yên), Bạc (Văn Chấn)
Địa hình chia cắt hiểm trở Các dãy núi: Hoàng Liên Sơn (đỉnh Phan Si Păng cao 3.142 m), Sông Mã, Mẫu Sơn, Cai Kinh, Tam Đảo; xen kẽ các cánh đồng lớn: Mường Thanh, Mường Lò, Mường Tấc, Phù Yên

Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Chương 1 hệ thống hóa và phân loại toàn bộ các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan thành các nhóm cụ thể. Tác giả chỉ ra rằng nguồn tư liệu của các sĩ quan và tác giả Pháp thời thuộc địa cung cấp nhiều chi tiết về địa hình, công sự, các trận giao chiến và chiến thuật quân sự của hai bên, song phản ánh lệch lạc bản chất phong trào yêu nước do đứng trên lập trường thực dân. Đối với các công trình tiếng Việt, nghiên cứu trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 còn sơ lược và có sự nhầm lẫn về nhân vật, địa bàn; các công trình từ sau năm 1954 đến nay tuy đã đi sâu nghiên cứu một số cuộc khởi nghĩa lớn như khởi nghĩa Yên Thế, Thái Nguyên, Yên Bái hoặc phong trào Cần Vương tại từng địa phương, nhưng chưa làm rõ được tính liên kết không gian và bức tranh lịch sử liên vùng xuyên suốt từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX. Từ đó, chương 1 khẳng định sự cần thiết của đề tài luận án.

Chương 2: Phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân vùng trung du và thượng du Bắc Kì (1883 – 1897)

Chương 2 trình bày điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, văn hóa và truyền thống chống ngoại xâm của vùng đất; phân tích quá trình thực dân Pháp đánh chiếm, thiết lập bộ máy thống trị và diễn biến phong trào kháng chiến từ năm 1883 đến năm 1897.

Về điều kiện tự nhiên, khu vực chiếm 88% diện tích Bắc Kì, có vị trí "cửa vào ra" giáp Vân Nam, Quảng Tây và Lào; địa hình núi non hiểm trở với dãy Hoàng Liên Sơn, Tam Đảo, hệ thống sông ngòi dày đặc (sông Hồng, sông Đà, sông Lô, sông Gâm, Kỳ Cùng) và khí hậu nhiệt đới gió mùa gây bệnh tật cho quân Pháp. Nhân dân các dân tộc có truyền thống đoàn kết chống ngoại xâm qua các triều đại Lý (Tông Đản, Thân Cảnh Phúc, dòng họ Hà ở Vị Long), Trần (Hà Bổng, Hà Đặc, Hà Chương, Nguyễn Thế Lộc), Lê (Nghĩa binh Áo Đỏ, Cầm Quý, Xa Khả Tham) và các thủ lĩnh thế kỷ XIX (Bạc Cầm Ten, Cầm Ngọc Hánh).

Khi Pháp đánh chiếm Bắc Kì lần thứ nhất (1873) và lần thứ hai (1882), liên quân triều đình phối hợp với quân Thập Châu và quân Cờ Đen Lưu Vĩnh Phúc đã lập chiến công tại trận Cầu Giấy năm 1873 (Garnier tử trận) và năm 1883 (Rivière tử trận). Sau các Hiệp ước 1883 và 1884, Pháp thiết lập bộ máy cai trị hà khắc: chia 14 quân khu (1888), lập 4 đạo quan binh (1891) làm vành đai quân sự kiểm soát biên giới; thực hiện chiến thuật "vết dầu loang" từ năm 1892; chiếm đất lập đồn điền, buộc triều Nguyễn bán đứt mỏ Hòn Gai - Cẩm Phả giá 100.000 đồng Đông Dương, độc quyền muối, thuốc phiện và tăng các loại thuế (phụ thu thuế đinh năm 1896 là 1 đồng 3 hào 8).

Diễn biến phong trào kháng Pháp giai đoạn 1883 - 1897 diễn ra qua hai thời kỳ:

  • Giai đoạn 1883 - 1885: Bất chấp lệnh triệt binh của triều đình Huế, sĩ phu và nhân dân kiên quyết kháng cự. Tại Sơn Tây, Lương Tuấn Tú khắc ấn "Xướng nghĩa Bắc Kì trung nghĩa sĩ dân" tập hợp nghĩa quân; Nguyễn Văn Giáp cùng tù trưởng Thái Đèo Văn Trì, Đèo Văn Toa, Nguyễn Văn Quang cầm cự ác liệt. Tại Lạng Sơn, Hoàng Đình Kinh quy tụ lực lượng lập căn cứ Đồng Nải, phục kích quân Pháp tại Cầu Quan Âm (Sự kiện Bắc Lệ tháng 6/1884), chiêu mộ 2 vạn quân phối hợp với quân Thanh đẩy lui quân Pháp về Chũ đầu năm 1885. Tại Hưng Hóa, thành mất tháng 4/1884, Nguyễn Quang Bích rút về Sơn Động xây đại đồn, phát trát hiệu triệu kháng chiến. Tại Tuyên Quang, nghĩa binh của Đốc Thịnh phối hợp cùng quân Cờ Đen Lưu Vĩnh Phúc bao vây 600 lính Pháp trong thành suốt 9 tháng (8/1884 - 4/1885).
  • Giai đoạn 1885 - 1897: Sau Chiếu Cần Vương (7/1885), phong trào bùng nổ mạnh mẽ. Nguyễn Quang Bích trở thành ngọn cờ quy tụ vùng Tây Bắc, lập căn cứ Nghĩa Lộ; các thủ lĩnh Đề Kiều, Đốc Ngữ chỉ huy chiến đấu kiên cường ở hạ lưu sông Đà và Phú Thọ; nghĩa quân Lưu Kỳ làm chủ vùng Đông Bắc từ Bảo Đài đến Lạng Sơn, Thái Nguyên; phong trào nông dân Yên Thế do Đề Nắm và Hoàng Hoa Thám lãnh đạo nổ ra từ 1884, liên tục đánh lui các cuộc hành quân càn quét lớn của Pháp, buộc thực dân Pháp phải chấp nhận đình chiến hai lần (1894 và 1897).

Chương 3: Phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân vùng trung du và thượng du Bắc Kì (1898 – 1930)

Chương 3 làm rõ bối cảnh lịch sử và diễn biến phong trào yêu nước từ năm 1898 đến năm 1930.

Về bối cảnh, cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1897 - 1914) và lần thứ hai (1919 - 1929) của Pháp đã làm chuyển biến cơ cấu kinh tế - xã hội miền núi, hình thành đội ngũ công nhân khai mỏ tại Quảng Ninh, Thái Nguyên, Cao Bằng. Các trào lưu tư tưởng dân chủ tư sản (tân thư, Duy Tân, Cách mạng Tân Hợi 1911) và sau đó là chủ nghĩa Mác - Lênin qua thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga (1917) từng bước du nhập vào Việt Nam.

Phong trào yêu nước giai đoạn này phát triển qua nhiều hình thức:

  • Khởi nghĩa nông dân Yên Thế (1898 - 1913): Hoàng Hoa Thám củng cố căn cứ Phồn Xương, khôi phục lực lượng, gắn kết với phong trào yêu nước của các sĩ phu Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, tham gia vụ Hà Thành đầu độc (1908); chiến đấu kiên cường chống các đợt càn quét lớn của quân Pháp cho đến khi Đề Thám bị sát hại năm 1913.
  • Các cuộc đấu tranh tự phát của đồng bào thiểu số: Khởi nghĩa của Tổng Kiêm tại Hòa Bình đánh chiếm tỉnh lị đầu thế kỷ XX; phong trào chống xâu thuế, phu phen, cướp đất lập đồn điền diễn ra rải rác ở khắp các tỉnh thượng du.
  • Hoạt động bạo động theo khuynh hướng dân chủ tư sản: Cuộc vận động vũ trang của Việt Nam Quang phục hội tại Phú Thọ (1915); Khởi nghĩa Thái Nguyên (1917) do Đội Cấn và Lương Ngọc Quyến lãnh đạo, giải phóng tỉnh lị, thành lập quân đội Quang phục và giữ quyền kiểm soát gần 6 tháng; cuộc Khởi nghĩa Yên Bái (tháng 2/1930) do Việt Nam Quốc dân Đảng lãnh đạo tấn công đồn lính khố đỏ và cơ quan thực dân tại Yên Bái, lan rộng sang các địa phương lân cận.
  • Phong trào công nhân và sự tiếp nhận tư tưởng vô sản: Phong trào công nhân mỏ than Quảng Ninh đấu tranh bãi công đòi cải thiện đời sống; sự truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin thông qua Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên tại Cao Bằng - Lạng Sơn với vai trò nòng cốt của Hoàng Đình Giong (được đào tạo lý luận tại cơ sở Long Châu, Trung Quốc), dẫn tới sự ra đời của các tổ chức Đảng Cộng sản đầu năm 1930.

Chương 4: Một số nhận xét về phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân vùng trung du và thượng du Bắc Kì (1883 – 1930)

Chương 4 đúc kết các nhận xét khoa học về đặc điểm, tính chất và vai trò lịch sử của phong trào:

  • Đặc điểm nổi bật:
    1. Phong trào thu hút đông đảo các thành phần dân tộc, tầng lớp tham gia, trong đó nổi bật là vai trò của các thủ lĩnh và đồng bào các dân tộc thiểu số (Tày, Nùng, Thái, Mường, Dao, Mông...).
    2. Địa bàn tác chiến trải rộng trên hầu hết các địa phương, phát huy tối đa ưu thế hiểm trở của núi rừng và địa bàn biên giới để lập căn cứ, xây dựng làng chiến đấu và tiến hành chiến tranh du kích.
    3. Có sự liên hệ, phối hợp chiến đấu chặt chẽ giữa các cuộc khởi nghĩa nội vùng, cũng như phối hợp tác chiến với phong trào chống Pháp ở vùng đồng bằng Bắc Kì và Trung Kì.
    4. Phong trào chịu ảnh hưởng và chuyển biến liên tục qua nhiều hệ tư tưởng: từ hệ tư tưởng phong kiến (Cần Vương) sang khuynh hướng dân chủ tư sản (Việt Nam Quang phục hội, Việt Nam Quốc dân Đảng) và bước đầu chịu ảnh hưởng của tư tưởng vô sản (Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, Đảng Cộng sản Việt Nam).
    5. Thiết lập được mối liên hệ quốc tế, tranh thủ sự ủng hộ và bàn đạp hoạt động từ khu vực biên giới Trung Quốc và Lào.
  • Tính chất: Mang tính nhân dân sâu sắc xuất phát từ quyền lợi ruộng đất và đời sống thiết thực; tính dân tộc rộng rãi thể hiện qua tinh thần đoàn kết chống giặc ngoại xâm; tính tự phát trong tổ chức và phương thức đấu tranh ở giai đoạn đầu.
  • Vai trò lịch sử: Phong trào đã làm chậm trễ tiến độ bình định, gây tổn thất nặng nề và làm thất bại nhiều âm mưu cai trị của thực dân Pháp; hỗ trợ, chia lửa tích cực cho phong trào kháng chiến ở đồng bằng Bắc Kì và toàn quốc; hun đúc ý chí đấu tranh giải phóng dân tộc của toàn thể nhân dân Việt Nam.

Kết quả và những đóng góp mới

Bản luận án đã nêu rõ những kết quả và đóng góp mới về lý luận và thực tiễn:

  • Về mặt lý luận và khoa học: Luận án là công trình sử học đầu tiên tái hiện một cách toàn diện, liên tục và có hệ thống phong trào yêu nước chống thực dân Pháp của nhân dân vùng trung du và thượng du Bắc Kì trong suốt giai đoạn 1883 - 1930. Luận án làm rõ quy luật chuyển biến tư tưởng cứu nước từ lập trường phong kiến sang dân chủ tư sản và bước đầu tiếp cận khuynh hướng vô sản trên một địa bàn chiến lược đặc thù; chứng minh sinh động vai trò to lớn của đồng bào các dân tộc thiểu số và khối liên minh Kinh - Thượng trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc.
  • Về mặt thực tiễn: Luận án cung cấp hệ thống tư liệu lịch sử xác thực, có độ tin cậy cao, phục vụ trực tiếp cho công tác nghiên cứu, biên soạn giáo trình và giảng dạy lịch sử địa phương tại các trường phổ thông, trường cao đẳng, đại học các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc; góp phần tuyên truyền, giáo dục truyền thống yêu quê hương, đất nước, bồi dưỡng lòng tự hào dân tộc cho thế hệ trẻ.

Về mặt kiến nghị: Luận án đề xuất việc tiếp tục đầu tư bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử kháng chiến tại khu vực trung du và miền núi phía Bắc; đưa các nội dung lịch sử đấu tranh của đồng bào các dân tộc thiểu số vào chương trình giáo dục lịch sử địa phương nhằm phát huy giá trị di sản cách mạng và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về hạn chế, luận án bị chi phối bởi tính phân tán và tản mạn của nguồn sử liệu địa phương, đặc biệt là các tài liệu chữ Hán - Nôm và chữ Thái cổ còn nằm rải rác trong các bản mường, gia phả dòng họ chưa được dịch chú, công bố đầy đủ. Nguồn tư liệu lưu trữ của thực dân Pháp mang nặng quan điểm cai trị thuộc địa, xuyên tạc tính chất chính nghĩa của các phong trào khởi nghĩa, đòi hỏi quá trình kiểm chứng, đối chiếu công phu. Do phạm vi không gian rộng lớn gồm 17 tỉnh và thời gian kéo dài gần nửa thế kỷ, một số hoạt động đấu tranh nhỏ lẻ ở các vùng sâu, vùng xa chưa thể khảo sát chi tiết tới từng cơ sở thôn bản.

Hướng nghiên cứu tiếp theo được xác định là:

  • Tiếp tục sưu tầm, phiên âm, dịch chú các nguồn tư liệu thành văn bằng chữ dân tộc (như các bản sử thi, biên niên sử bản mường Quam tô mương, gia phả các dòng họ lang đạo, phìa tạo, tù trưởng).
  • Mở rộng khai thác các tài liệu lưu trữ địa phương và tư liệu điền dã dân gian tại các tỉnh biên giới Tây Bắc và Đông Bắc để làm sâu sắc hơn các hình thức đấu tranh vũ trang và quan hệ liên kết xuyên biên giới.
  • Đi sâu nghiên cứu so sánh về nghệ thuật quân sự và cấu trúc căn cứ địa giữa các tiểu vùng văn hóa - lịch sử Đông Bắc và Tây Bắc trong từng giai đoạn kháng chiến cụ thể.

Giá trị tham khảo

Bản luận án là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cao cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, Lịch sử Quân sự, Dân tộc học và Văn hóa học: Luận án cung cấp khung phân tích hệ thống về phong trào kháng chiến liên vùng và phương pháp tiếp cận tư liệu lịch sử dân tộc thiểu số.
  • Giáo viên lịch sử tại các trường phổ thông và cao đẳng, đại học thuộc các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc: Luận án là tài liệu trực tiếp phục vụ biên soạn bài giảng lịch sử địa phương theo chương trình giáo dục phổ thông.
  • Cán bộ quản lý văn hóa và cơ quan hoạch định chính sách: Luận án cung cấp các cứ liệu lịch sử xác thực về vị trí chiến lược an ninh - quốc phòng của vùng đất phên giậu, giúp hoạch định các chính sách phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia.

Các nội dung đáng tham khảo nhất bao gồm: các dữ liệu về việc thiết lập hệ thống đạo quan binh và các đồn bốt biên giới của quân đội Pháp; diễn biến các chiến dịch bao vây và tác chiến phối hợp giữa nghĩa quân các dân tộc thiểu số với quân Cờ Đen và quân triều đình; hồ sơ tư liệu về các thủ lĩnh địa phương như Hoàng Đình Kinh, Đề Kiều, Đốc Ngữ, Đèo Văn Trì, Bạc Cầm Ten.

Câu hỏi thường gặp

  1. Phạm vi địa giới của vùng trung du và thượng du Bắc Kì trong thời kỳ Pháp thuộc được luận án xác định bao gồm những đơn vị hành chính nào? Theo văn bản luận án, vùng trung du và thượng du Bắc Kì có diện tích khoảng 102.000 km² (chiếm 88% diện tích toàn Bắc Kì), bao gồm 17 tỉnh: Bắc Giang, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Cao Bằng, Thái Nguyên, Hà Giang, Hòa Bình, Quảng Yên, Hải Ninh, Hưng Hóa, Sơn Tây, Phú Thọ, Sơn La, Lai Châu, Lào Cai, Tuyên Quang, Yên Bái; cùng hệ thống 4 đạo quan binh được thiết lập từ năm 1891 gồm Đạo I (Hải Ninh), Đạo II (Cao Bằng), Đạo III (Hà Giang), Đạo IV (Lai Châu).

  2. Chế độ cai trị quân sự thông qua "đạo quan binh" của thực dân Pháp ở vùng thượng du có đặc điểm gì? Đạo quan binh là hình thức tổ chức hành chính quân sự đặc biệt tương đương cấp tỉnh do các sĩ quan chỉ huy Pháp trực tiếp nắm giữ. Thực dân Pháp thiết lập 4 đạo quan binh bao bọc dọc biên giới Việt - Trung và Việt - Lào nhằm tạo thành một vành đai quân sự khép kín, ngăn chặn nghĩa quân dựa vào sự hậu thuẫn từ bên ngoài, đồng thời chia cắt sự liên lạc giữa phong trào kháng chiến ở miền núi với đồng bằng.

  3. Cuộc bao vây thành Tuyên Quang (1884 - 1885) diễn ra với quy mô và lực lượng như thế nào? Từ tháng 8/1884 đến tháng 4/1885, đội nghĩa binh do Đốc Thịnh chỉ huy đã phối hợp với quân Cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc và quân Thập Châu (khoảng một vạn người) tiến hành bao vây chặt thành Tuyên Quang do 600 lính Pháp đồn trú suốt 9 tháng liên tục, đào hầm tới chân thành và cô lập hoàn toàn các tuyến chi viện thủy, bộ của quân Pháp.

  4. Sự chuyển biến về hệ tư tưởng của phong trào yêu nước tại khu vực nghiên cứu diễn ra qua các nấc thang nào? Phong trào chuyển biến lần lượt qua ba nấc thang tư tưởng: nửa cuối thế kỷ XIX chịu ảnh hưởng của hệ tư tưởng phong kiến dưới ngọn cờ Cần Vương; đầu thế kỷ XX chuyển sang ảnh hưởng của hệ tư tưởng dân chủ tư sản thông qua các tổ chức như Việt Nam Quang phục hội và Việt Nam Quốc dân Đảng; và từ những năm 1920 bước đầu tiếp nhận hệ tư tưởng vô sản thông qua hoạt động của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên tại Cao Bằng - Lạng Sơn và Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập năm 1930.

  5. Đồng bào các dân tộc thiểu số có vai trò gì trong các cuộc giao tranh lớn thời kỳ đầu kháng chiến (1883 - 1885)? Đồng bào các dân tộc thiểu số giữ vai trò nòng cốt trong lực lượng vũ trang: quân Thập Châu (Thái, Mường) phối hợp trong các trận Cầu Giấy (1873, 1883) và bảo vệ thành Sơn Tây (1883); nghĩa quân người Tày, Nùng do Hoàng Đình Kinh lãnh đạo tại Hữu Lũng lập căn cứ Đồng Nải, đánh thắng trận Cầu Quan Âm (Bắc Lệ, 1884) và tập hợp 2 vạn người phối hợp đánh lui quân Pháp đầu năm 1885; nhân dân các dân tộc ở Tuyên Quang, Hưng Hóa cung cấp lương thực và trực tiếp tham gia bao vây, tập kích các căn cứ đồn trú của Pháp.

Kết luận

Bản luận án tiến sĩ của Lưu Thị Ngọc Tuyết đã tái hiện một cách hoàn chỉnh, khách quan và có hệ thống tiến trình phong trào yêu nước chống thực dân Pháp của nhân dân vùng trung du và thượng du Bắc Kì từ năm 1883 đến năm 1930. Công trình làm rõ những đặc thù về tự nhiên, tổ chức hành chính quân sự của thực dân Pháp, diễn biến các cuộc khởi nghĩa vũ trang, cũng như bước chuyển về khuynh hướng tư tưởng cứu nước qua từng giai đoạn. Kết quả nghiên cứu khẳng định vị trí chiến lược xung yếu của địa bàn miền núi phía Bắc và vai trò to lớn của khối đại đoàn kết các dân tộc thiểu số trong sự nghiệp đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc.