Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954 và chiến dịch Điện Biên Phủ trong tiến trình quân sự của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp" được tác giả Nguyễn Thị Diễm thực hiện tại Khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh dưới sự hướng dẫn của ThS. Dương Văn Huê (niên khóa 2005 - 2009, hoàn thành tháng 5 năm 2009).

Về bối cảnh và lý do chọn đề tài, tác giả xuất phát từ dịp kỷ niệm 55 năm chiến thắng Điện Biên Phủ (1954 - 2009) để nhìn nhận lại sự kiện quân sự đỉnh cao này trong toàn bộ tiến trình lịch sử kháng chiến. Nghiên cứu tập trung giải quyết những trăn trở lịch sử về sự hình thành phương châm tác chiến của Đảng và quyết định thay đổi cách đánh mang tính bước ngoặt của Bộ chỉ huy tiền phương.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể:

  1. Đặt chiến cuộc Đông - Xuân 1953 - 1954 và chiến dịch Điện Biên Phủ trong tổng thể tiến trình quan hệ quốc tế sau Chiến tranh thế giới thứ hai và toàn bộ tiến trình quân sự cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, không coi đây là một sự kiện biệt lập.
  2. Xâu chuỗi các văn kiện của Đảng để làm sáng tỏ quá trình chỉ đạo chiến lược từ Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương đầu năm 1953, các kế hoạch của Bộ Tổng tham mưu trình Bộ Chính trị, và đo lường tương quan lực lượng hai bên giai đoạn 1951 - 1953.
  3. Làm rõ sự chuyển đổi phương châm tác chiến từ "đánh nhanh, thắng nhanh" (hoặc "đánh nhanh, giải quyết nhanh") sang "đánh chắc, tiến chắc", qua đó chứng minh tính nhất quán và sự lãnh đạo linh hoạt về nghệ thuật quân sự của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là các chủ trương chiến lược, kế hoạch tác chiến và diễn biến quân sự trong chiến cuộc Đông - Xuân 1953 - 1954 cùng chiến dịch Điện Biên Phủ. Phạm vi không gian bao quát chiến trường toàn quốc và bán đảo Đông Dương (có liên hệ đến cục diện quốc tế); phạm vi thời gian trải dài từ năm 1947 đến tháng 5 năm 1954, trong đó trọng tâm đi sâu vào giai đoạn từ đầu năm 1953 đến ngày 7 tháng 5 năm 1954.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được triển khai trên nền tảng phương pháp luận sử học Mác - Lênin kết hợp quan điểm lịch sử quân sự chính thống của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nghiên cứu dựa trên các chỉ thị, nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, Bộ Chính trị, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh.

Các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành được tác giả áp dụng bao gồm:

  • Phương pháp tổng hợp: Khai thác và tập hợp nguồn tư liệu đa diện từ văn kiện lưu trữ, công trình nghiên cứu sử học, cùng hồi ký của các tướng lĩnh Việt Nam và các tướng lĩnh, học giả phương Tây.
  • Phương pháp phân loại: Rà soát và phân tách rõ ràng giữa tư liệu gốc (văn kiện Đảng, tài liệu lưu trữ của Bộ Tổng chỉ huy), các công trình hồi ký (của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Đại tướng Hoàng Văn Thái, Đại tướng Lê Trọng Tấn, tướng Henri Navarre) và các bài viết khảo cứu học thuật.
  • Phương pháp so sánh, đối chiếu: So sánh nhận định giữa các nguồn tư liệu của hai bên tham chiến nhằm làm sáng tỏ tính chân thực của diễn tiến lịch sử.
  • Phương pháp phân tích tư liệu: Chắt lọc dữ liệu để rút ra logic lịch sử của từng quyết sách quân sự và sự thay đổi hình thái chiến trường.

Nguồn dữ liệu của khóa luận bao gồm Văn kiện Đảng toàn tập (Tập 14, Tập 15); các tập hồi ký của Đại tướng Võ Nguyên Giáp (Điện Biên Phủ 50 năm nhìn lại, Tổng tập Hồi ký); các công trình tư liệu của Trần Trọng Trung, Thượng tướng Hoàng Minh Thảo, GS. Phan Ngọc Liên; hồi ký của Navarre (Thời điểm của những sự thật, Đông Dương hấp hối); tài liệu nghiên cứu quốc tế của Gabriel Kolko, Archimedes Patti, Jules Roy và Jean Pouget.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Khái quát tình hình Đông Dương đến giữa năm 1953

Chương này phân tích bối cảnh quốc tế phân cực hai phe sau Chiến tranh thế giới thứ hai, sự ra đời của khối NATO (4/1949), sự thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (1949) và cuộc chiến tranh Triều Tiên làm biến đổi cán cân lực lượng tại châu Á. Khóa luận hệ thống hóa toàn bộ các chiến dịch quân sự tiêu biểu của quân và dân ta trên khắp chiến trường từ năm 1947 đến năm 1952:

  • Chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông 1947: Đánh bại kế hoạch Lé-a và Xanh-tuya của quân Pháp, loại khỏi vòng chiến đấu trên 7.200 tên địch, bắn rơi 18 máy bay, đánh chìm 16 tàu chiến và 38 ca nô, thu giữ 2 pháo 105mm, 7 pháo 75mm, 16 khẩu 20mm; phía ta hy sinh 260 đồng chí, bị thương 168 người.
  • Chiến dịch Biên Giới 1950: Đập tan kế hoạch Rơve, xóa sổ hai binh đoàn Lơpagiơ và Sáctông, loại khỏi vòng chiến trên 8.000 tên địch (gồm 8 tiểu đoàn Âu - Phi và 2 tiểu đoàn ngụy), giải phóng 200 km đường số 4, 17 thị trấn và 5 thị xã quan trọng (Cao Bằng, Lạng Sơn, Lào Cai, Thái Nguyên, Hòa Bình).
  • Các chiến dịch tiến công ở vùng trung du và đồng bằng năm 1951: Bao gồm chiến dịch Trần Hưng Đạo (Trung Du), Hoàng Hoa Thám (Đường 18) và Quang Trung (Hà Nam Ninh). Tổng cộng ba chiến dịch đã tiêu diệt khoảng 70 vị trí, loại khỏi vòng chiến khoảng 10.000 quân địch nhưng quân ta cũng gặp nhiều khó khăn trước sức cơ động, hỏa lực pháo binh và máy bay của quân viễn chinh Pháp dưới sự chỉ huy của tướng De Lattre.
  • Chiến dịch Lý Thường Kiệt (9/1951): Tại Nghĩa Lộ (Tây Bắc), Đại đoàn 312 tiêu diệt và bắt khoảng 500 địch nhưng ta bị tiêu hao lớn (253 hy sinh, 964 bị thương, 87 mất tích).
  • Chiến dịch Hòa Bình (1951 - 1952): Quân ta đánh bại hai cuộc hành binh "Hoa Tuylip" và "Hoa Sen" của Pháp. Tổng thiệt hại của địch là trên 20.000 tên (14.030 chết, 7.219 bị bắt), 13 máy bay, 17 tàu xuồng; tổn thất của phía ta là 11.193 người; giải phóng 5.000 km² với 2 triệu dân.
  • Chiến dịch Tây Bắc (Thu - Đông 1952): Ta tiêu diệt và bắt 6.029 địch tại Tây Bắc, giải phóng 28.000 km² với 250.000 dân (gồm toàn bộ tỉnh Sơn La, trừ Nà Sản), buộc địch phải co cụm xây dựng tập đoàn cứ điểm Nà Sản.

Từ thực tiễn đó, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 4 (khóa II, tháng 1/1953) đã xác định phương châm chiến lược: "Tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu", "Đánh ăn chắc, tiến ăn chắc. Chắc thắng thì kiên quyết đánh cho kỳ thắng. Không chắc thắng thì kiên quyết không đánh". Khi tướng Henri Navarre nhận chức Tổng chỉ huy (5/1953) và ban hành Kế hoạch Nava nhằm bình định miền Nam và tìm kiếm thắng lợi quyết định trong 18 tháng, ta đã kịp thời nắm bắt tình hình để điều chỉnh phương hướng chiến lược.

Chương II: Kế hoạch tác chiến của ta và địch đến trước ngày 13/3/1954

Chương II tập trung phân tích tiến trình hình thành kế hoạch Đông - Xuân 1953 - 1954 và sự xuất hiện ngoài dự kiến của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ:

  • Phương hướng chiến lược: Cuối tháng 9 năm 1953, Bộ Chính trị họp thông qua phương án tác chiến Đông - Xuân, xác định hướng chính là Tây Bắc.
  • Quá trình hình thành cứ điểm: Ngày 20 tháng 11 năm 1953, Pháp cho quân nhảy dù chiếm Điện Biên Phủ. Ngày 3 tháng 12 năm 1953, Nava quyết định "tiếp nhận chiến đấu" và biến Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm phòng ngự mạnh. Ngày 6 tháng 12 năm 1953, Tổng Quân ủy báo cáo Bộ Chính trị quyết tâm tiêu diệt Điện Biên Phủ với dự kiến quân số chiến dịch là 42.570 người (bộ đội trực tiếp tác chiến khoảng 35.000 người), thời gian ước độ 45 ngày theo phương châm "đánh chắc, tiến chắc".
  • Chuyển đổi phương châm tác chiến: Khi Bộ chỉ huy tiền phương lên chiến trường, phương án "đánh nhanh, giải quyết nhanh" (dự kiến trong 3 ngày 2 đêm) được đề xuất tại Hội nghị Thẩm Púa ngày 14 tháng 1 năm 1954. Tuy nhiên, trước việc địch tăng cường phòng ngự, tăng quân số và khó khăn trong công tác kéo pháo, ngày 26 tháng 1 năm 1954 tại Mường Phăng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã quyết định chuyển phương châm tác chiến sang "đánh chắc, tiến chắc", ra lệnh hoãn tiến công, kéo pháo ra vị trí an toàn (hoàn thành ngày 5/2/1954) để chuẩn bị lại địa bàn và lực lượng theo phương án bao vây, đánh lấn dài ngày.

Chương III: Chiến dịch Điện Biên Phủ

Chương III tái hiện diễn biến 55 ngày đêm của chiến dịch Điện Biên Phủ qua 3 đợt tiến công lịch sử gắn liền với sự phối hợp trên khắp các chiến trường Đông Dương:

  • Đợt 1 (13/3 - 17/3/1954): Quân ta mở màn nổ súng lúc 17 giờ ngày 13 tháng 3 năm 1954, tiêu diệt hoàn toàn trung tâm đề kháng Him Lam (22h30 cùng ngày), đồi Độc Lập (rạng sáng 15/3) và bức hàng đồn Bản Kéo (17/3), mở toang cánh cửa phía Bắc và Đông Bắc của tập đoàn cứ điểm.
  • Đợt 2 (30/3 - cuối tháng 4/1954): Ta mở cuộc tiến công vào các cao điểm phía Đông (C1, E, D1, A1). Cuộc chiến đấu giằng co ác liệt diễn ra tại đồi A1 và C1. Quân ta xây dựng hệ thống chiến hào vây lấn, siết chặt vòng vây, đến ngày 22 tháng 4 làm chủ hoàn toàn sân bay Mường Thanh, cắt đứt hoàn toàn nguồn tiếp tế hàng không của đối phương.
  • Đợt 3 (1/5 - 7/5/1954): Quân ta đồng loạt tổng công kích, tiêu diệt các cứ điểm C1, 505, 505A, 311A. Tối 6 tháng 5, khối bộc phá 1.000 kg phát nổ trên đồi A1 làm hiệu lệnh tổng công kích. Chiều 7 tháng 5 năm 1954, lúc 17 giờ 30 phút, cờ "Quyết chiến, quyết thắng" tung bay trên nóc hầm Đờ Cát, toàn bộ Bộ chỉ huy tập đoàn cứ điểm bị bắt sống. Đến 24 giờ cùng ngày, toàn bộ 2.000 quân địch tại phân khu Nam (Hồng Cúm) rút chạy bị bắt gọn.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp kết quả của toàn bộ chiến cuộc và chiến dịch thông qua các bảng thống kê và số liệu trích xuất từ văn kiện lịch sử và tài liệu lưu trữ:

Nội dung / Chiến trường Thắng lợi của quân và dân ta Tổn thất của đối phương (Quân Pháp & can thiệp Mỹ)
Chiến dịch Việt Bắc (1947) Bảo vệ vững chắc cơ quan đầu não và căn cứ địa kháng chiến Loại khỏi vòng chiến >7.200 tên, 18 máy bay, 16 tàu chiến, 38 ca nô
Chiến dịch Biên Giới (1950) Giải phóng 200 km biên giới, 17 thị trấn, 5 thị xã Xóa sổ 2 binh đoàn, diệt và bắt >8.000 tên (8 tiểu đoàn Âu - Phi, 2 tiểu đoàn ngụy)
Chiến dịch Hòa Bình (1951-1952) Giải phóng 5.000 km² với 2 triệu dân Loại khỏi vòng chiến >20.000 tên (14.030 chết, 7.219 bị bắt), 13 máy bay, 17 tàu xuồng
Chiến dịch Tây Bắc (1952) Giải phóng 28.000 km² với 250.000 dân, khai thông cửa ngõ Tây Bắc Tiêu diệt và bắt 6.029 tên tại Tây Bắc và 1.884 tên tại Phú Thọ
Chiến dịch Điện Biên Phủ (1954) Tiêu diệt hoàn toàn tập đoàn cứ điểm sau 55 ngày đêm (13/3 - 7/5/1954) Xóa sổ hoàn toàn lực lượng đồn trú, bắt sống tướng Đờ Cát cùng toàn bộ ban tham mưu, bắt hàng 2.000 quân tại Hồng Cúm

Phần phụ lục của khóa luận dẫn theo ước tính của cơ quan tham mưu Pháp về thiệt hại của các sư đoàn Việt Nam tại mặt trận Điện Biên Phủ: Sư đoàn 304 khoảng 490 người, Sư đoàn 308 khoảng 2.650 người, Sư đoàn 312 khoảng 2.160 người, Sư đoàn 316 khoảng 1.250 người, lực lượng không phân định khoảng 1.350 người, và số bị thương khoảng 15.000 người.

Về mặt đóng góp khoa học, tác giả đã:

  • Xâu chuỗi có hệ thống tính liên tục trong đường lối quân sự của Đảng từ Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 4 (tháng 1/1953) đến phương án tác chiến Điện Biên Phủ tháng 12/1953 và quyết định lịch sử ngày 26/1/1954.
  • Làm rõ tính tất yếu khoa học và sự dũng cảm cá nhân của Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp khi từ bỏ phương châm "đánh nhanh, thắng nhanh" để quay lại phương châm "đánh chắc, tiến chắc", chứng minh sự tôn trọng thực tế khách quan của Bộ chỉ huy mặt trận.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của văn bản: Tác giả tự nhận định năng lực cá nhân còn giới hạn nên chưa bao quát hết một số nguồn tài liệu ngoại văn cũng như một số tài liệu tiếng Việt liên quan đến các vấn đề chính trị phức tạp hoặc nguồn số liệu chưa được kiểm chứng đầy đủ.
  • Hướng mở nghiên cứu: Khóa luận gợi mở việc tiếp tục nghiên cứu sâu hơn mối liên hệ giữa các quyết sách tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương đầu năm 1953 với toàn bộ quá trình xây dựng kế hoạch tác chiến của Bộ Tổng tham mưu trong các chiến trường phối hợp trên bán đảo Đông Dương.

Giá trị tham khảo

Công trình là tài liệu tham khảo thiết thực cho:

  • Sinh viên, giảng viên chuyên ngành Sư phạm Lịch sử và Lịch sử Quân sự Việt Nam khi tìm hiểu về nghệ thuật chiến dịch và tiến trình kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954).
  • Các nhà nghiên cứu lịch sử Đảng và lịch sử quân sự quan tâm đến quá trình chỉ đạo chuyển đổi phương châm tác chiến tại mặt trận Điện Biên Phủ.
  • Người học cần tra cứu hệ thống biên niên sự kiện quân sự (từ tháng 1/1953 đến ngày 7/5/1954) và danh mục tư liệu văn kiện được đối chiếu giữa các nguồn sử liệu Việt Nam và tài liệu lưu trữ phương Tây.

Câu hỏi thường gặp

1. Phương châm tác chiến "đánh chắc, tiến chắc" của quân đội ta được đề ra từ thời điểm nào theo các văn kiện Đảng? Phương châm này đã được đề ra ngay từ Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa II) diễn ra từ ngày 23 đến ngày 27 tháng 1 năm 1953 qua chỉ thị: "Đánh ăn chắc, tiến ăn chắc. Chắc thắng thì kiên quyết đánh cho kỳ thắng. Không chắc thắng thì kiên quyết không đánh".

2. Quyết định chuyển từ "đánh nhanh, thắng nhanh" sang "đánh chắc, tiến chắc" tại mặt trận Điện Biên Phủ được đưa ra vào ngày nào và ở đâu? Quyết định được đưa ra trong cuộc họp của Đảng ủy và Bộ chỉ huy mặt trận vào ngày 26 tháng 1 năm 1954 tại Mường Phăng, do Đại tướng Võ Nguyên Giáp chủ trì trước giờ nổ súng dự kiến ban đầu.

3. Theo báo cáo ngày 6/12/1953 của Tổng Quân ủy trình Bộ Chính trị, quân số dự kiến tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ là bao nhiêu? Báo cáo dự kiến tổng quân số của chiến dịch là 42.570 người, trong đó lực lượng trực tiếp tác chiến gồm bộ binh và pháo cao xạ là 35.000 người, với thời gian tác chiến ước tính khoảng 45 ngày.

4. Kế hoạch quân sự của Pháp tại Điện Biên Phủ nhằm mục đích gì theo Kế hoạch Nava? Kế hoạch Nava ban đầu chủ trương phòng ngự chiến lược ở miền Bắc, tập trung lực lượng bình định miền Nam nhằm chuyển bại thành thắng trong 18 tháng. Việc Pháp nhảy dù chiếm Điện Biên Phủ (20/11/1953) và Nava quyết định "tiếp nhận chiến đấu" (3/12/1953) là sự điều chỉnh nhằm bảo vệ Thượng Lào và biến Điện Biên Phủ thành "con nhím" khổng lồ thách thức quân chủ lực ta.

5. Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc chính xác vào thời điểm nào? Chiến dịch toàn thắng vào ngày 7 tháng 5 năm 1954: lúc 17 giờ 30 phút, quân ta chiếm hầm chỉ huy và bắt sống tướng Đờ Cát cùng ban tham mưu; đến 24 giờ cùng ngày, toàn bộ 2.000 quân địch tại phân khu Nam (Hồng Cúm) đầu hàng.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Diễm đã phân tích một cách có hệ thống chiến cuộc Đông - Xuân 1953 - 1954 và chiến dịch Điện Biên Phủ trong chỉnh thể tiến trình quân sự của cuộc kháng chiến chống Pháp. Bằng việc phân loại và đối chiếu nguồn tư liệu văn kiện Đảng với hồi ký lịch sử của cả hai phía, công trình làm sáng tỏ sự lãnh đạo chiến lược xuyên suốt của Trung ương Đảng và vai trò mang tính quyết định của việc chuyển đổi phương châm tác chiến sang "đánh chắc, tiến chắc". Đây là một bản khảo cứu lịch sử quân sự nghiêm túc, cung cấp nhiều dữ liệu thực tế và biên niên sự kiện chi tiết phục vụ công tác nghiên cứu và giảng dạy lịch sử.