Chương I: Khái quát tình hình Đông Dương đến giữa năm 1953, trong toàn chương này tác giả tập trung nghiên cứu về tình hình thế giới, cũng như tình hình Việt Nam kể từ khi nước Việt Nam ra đời. Các cuộc kháng chiến của ta từ năm 1947 đến năm 1952 trên các chiến trường. Đặc biệt là phướng hướng chiến lược của ta trong năm 1953 và sự ra đời của Kế hoạch quân sự Nava. * Chương II: Kế hoạch tác chiến của ta và địch đến trước ngày 13/ 3/ 1954, trong đó tác giả phân ra ba phần lớn.
Phần I: Phương hướng chiến lược của ta trong Đông Xuân 1953- 1954, được Bộ Tổng tham mưu báo cáo trong cuộc họp Hội nghị Bộ chính trị cuối tháng 9-1953. Phần II: Kế hoạch tác chiến từ ngày 20/11/1953 khi bắt đầu xuất hiện Điện Biên Phú đến ngày 26/1/1954 khi thay đổi kế hoạch tác chiến quyết định “đánh nhanh, thắng nhanh” quay trờ lại “đánh chắc, tiến chắc”. Tác già nghiên cứu theo trình tự thời gian trước hết là tình hình 12 GVHD: ThS. Dương Văn Hué SVTH: Nguyén Thi Diém chiến sự ở Việt Nam khi ta triển khai kế hoạch Đông Xuân dẫn đến sự thay đổi việc triển khai kế hoạch Nava.
Quá trình hình thành kế hoạch tác chiến “đánh nhanh, thắng nhanh" đã được Bộ chi huy tiền phương chiến dich đưa ra và triển khai trên toàn mặt trận sau đó là sự điều chỉnh lại kế hoạch tác chiến từ "đánh nhanh, thắng nhanh" quay trở lại “đánh chắc, tiến chắc” của Bộ chỉ huy mặt trận khi nhận thấy sự tăng viện ngày càng lớn mạnh của tập đoàn cứ điểm cũng như những khó khăn trong quá trình chuẩn bị của chúng ta. Ngoài ra còn làm rõ sự hình thành và ngày càng lớn mạnh của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Phần ba là kế hoạch tác chiến sau khi ta điều chỉnh lại theo phương án “đánh chắc, tiến chắc”, Với sự điều chỉnh lại kế hoạch tác chiến của ta và quá trình hoàn thiện tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ cuiả địch, cũng như hình thái chiến trường Đông Dương trước khi chiến dịch nổ ra. Tác giả bám sát sự điều chỉnh kế hoạch của ta trong quá trình chỉ đạo, triển khai và thực tiễn nghiên cứu chiến trường của Bộ chỉ huy tiền phương chiến dịch.
Cũng như sự tăng viện của Pháp - Mỹ cho tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ thanh con nhim khổng lồ pháo đài bất kha xâm phạm. * Chương II: Chiến dịch Điện Biên Phủ: Với diễn biến, sự phối hợp của các chiến trường trên toàn Đông Dương và kết quả ý nghĩa của chiến dịch Điện Biên Phủ. -Trong ba chương, trọng tâm tác giả giành vào chương II: Kế hoạch tác chiế của n ta và địch đến trước ngày 13/ 3/ 1954, Trong quá trình hình thành kế hoạch tác chiến của ta trong chiến cuộc Đông Xuân 1953 -1954 và Chiến dịch Điện Biên Phủ, đã diễn ra ngay từ đầu năm 1953. Tại hội nghị Trưng ương Đảng lần thứ 4 chúng ta đã có một kế hoạch “đánh chắc, tiến chắc”, chủ động trong năm 1953.
Khi kế hoạch Nava ra đời chúng ta tiếp tục nghiên cứu và điều chỉnh kế hoạch cho phù hợp với âm mưu mới của địch. Trong đế án Đông Xuân 1953 -1954 của ta cũng như trong kế hoạch Nava của Pháp không hé nhắc tới Điện Biên Phủ. Tuy nhiên sự thay đổi của chiến trường, số phận của Nava và kế hoạch Nava, cũng như cuộc chiến tranh xâm lược của Pháp ở Đông Dương được quyết định tại Điện Biên Phủ. Kế hoạch tác chiến của ta đã 13 GVHD: ThS.
Dương Văn Huẻ S¥TH: Nguyễn Thị Diễm được Đảng, Chính phủ và Bác để ra trong phương hướng chiến lược của ta đầu năm 1953 dần hoàn thiện trong Hội nghị Bộ chính trị với quyết tâm giải phóng Tây Bắc. Đến ngày 6/12/ 1953 trong Báo cáo của Tổng quân ủy trình Bộ chính trị thì kế họach giải phóng Tây Bắc và Điện Biên Phủ đã hoàn chỉnh với kế hoạch "đánh chắc, tiến chắc”. Sau đỏ ra chiến trường có sự thay đổi khi Bộ tham mưu tiền phương đi trước chuẩn bị chiến trường đã đưa ra kế hoạch “đánh nhanh, thắng nhanh", Nhưng cuối cùng chúng ta đã quay trở lại kế hoạch ban đầu *đánh chắc, tiến chắc". Đó là một diễn tiến lâu dai, phức tap cũng như sự chỉ đạo của Dang, Bác và việc nắm chắc phương hướng chiến lược của ta từ đầu năm 1953.
Thẻ hiện sự lãnh đạo sáng suốt, mền đẻo, cũng như sự nhận định đúng đắn kịp th củaời Đảng, Bác và Bộ chỉ huy chiến dịch trước âm mưu mới của địch và sự thay đổi tình hình chiến trường. Đây là một quá trình đầy khỏ khăn gian khổ của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta trong chiến cuộc Đông Xuân 1953 -1954 và chiến dịch Điện Biên Phủ. Đồng thời chiến cuộc Đông Xuân 1953- 1954 và chiến địch Điện Biên Phù gắn liền với cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta và chịu ảnh hưởng lớn của tình hình thế giới, do đó nó không chỉ tác động đến kết quả sau chiến tranh mà còn ảnh hưởng đến cáh nhìn nhận khác nhau của cả chính giới và các nhà sử học. Trong quá trình nghiên cứu tác giả được sự hưởng dẫn tận tình của thầy Dương Văn Hué cùng các thầy cô trong Khoa với sự nỗ lực của bản thân để hoàn thành khóa luận.
Tuy nhiên không tránh khỏi thiếu sót rit mong được sự nhận xét, đánh giá của các thầy cô và các bạn. Dương Van Huẻ SVTH: Nguyén Thi Diém CHUONG I: KHÁI QUAT TINH HÌNH ĐÔNG DUONG DEN GIỮA NĂM 1953 I. Tình hình the giới Đầu thập niên 50 của thế ki XX bối cảnh quốc tế có nhiều thay đổi, hình thái hai phe của cuộc chiến tranh lạnh đã hiện lên rõ rệt. Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (Nato) ra đời tháng 4- 1949, thực chất khối Nato là sự củng cố chính sách bành trướng, xâm lược của Mỹ.
Tiếp đó tháng 5- 1955 Tố chức hiệp ước phòng thủ Vacxava cũng ra đời, tình hình thé giới thêm căng thẳng. Ở Chau Âu sự phân chia Đông Âu XHCN và Tây Âu TBCN thêm một điểm nhắn, là sự thảnh lập của hai nước Đức (CHDC Đức và CHLB Đức vào năm 1949), đã khơi sâu sự đối đầu của hai hệ thốn thế giới. g Ở Châu Á sự xuất hiện của hai quốc gia trên bán đảo Triểu Tiên (CHDCND Triều Tiên - 9/1949 và Đại Hàn Dân Quốc- 8/1948). Đặc biệt sự thành lập nước CHND Trung Hoa năm 1949 do Đảng cộng sản lãnh đạo đã xoay chuyển cán cân thể giới, làm cho ưu thế của CNXH trở lên nổi trội, một lực lượng và cục diện mới xuất hiện ở Châu Á.
“Việc Cộng hòa nhân dân Trung Hoa gia nhập phe xã hội chủ nghĩa sẽ tăng cường đáng ké lực lượng và vị thé của phe này không chỉ ở vùng Đông Bắc A mà còn trên trường quốc tế "(') Trong khu vực Đông A điễn ra ba cuộc chiến tranh lớn: Cuộc chiến tranh Đông Dương, giai đoạn cuối của cuộc nội chiến Trung Quốc, cuộc chiến tranh mới bùng nỗ trên bán đảo Triều Tiên. “Dinh điểm của tình hình căng thẳng khi dé quốc Mỹ nhảy vào chiến trường Triểu Tiên với danh nghĩa đội quân Liên Hiệp Quốc cùng 13 nước đồng minh cứu nguy cho Hàn Quốc. Các đơn vị quân tình nguyện Trung Quốc trực tiếp tham chiến viện trợ cho Triều Tiên. Do vậy, cuộc chiến tranh đã vượt khỏi giới hạn nội bộ hai miền vì mục tiêu thống nhất đắt nước, mà bán đáo này đã bị bién thành bãi chiến trường do sức giữa hai lực lượng Trung Quác và Mỹ đằnsau g là sự ủng hộ của các nước thuộc hai phe: Liên Xô cùng các nước Xã hội chủ nghĩa, một bên là Anh, Pháp cùng các nước TBCN.
Nơi đây trở ') Lê Phụng Hoàng; 2007; Lich sử quan hệ quốc tế sau chiến tranh thế giơi thứ hai ( Tập 1: 1945 ~ 1975) , Trường Dai học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh. Dương Văn Hué SVTH: Nguyén Thi Diém thành điểm nỏng của cuộc chiến tranh lạnh giữa hai nửa cia "Trật tự Yalta” mà mỗi bên đều muốn giành phân thắng " (1; 22- 23] Cuối cùng hai bên phải đảm phán ngừng băn trở về vị trí ban đầu. Mặt khác ngay từ đầu thập ki 50, trong khi diễn biến trên chiến trường Đông Dương ngày càng quyết liệt thì phương án đi tìm lối thóat bằng con đường đàm phán đã xuất hiện trong suy tính của các cường quốc. Năm 1953 kế hoạch Nava ra đời cũng hàm chứa ý tưởng tìm một “giải pháp danh de” cho cuộc chiến đầy tổn thất này.
Tại Hội nghị ngoại trưởng bốn nước ở Beclin (1-1954) gồm Liên Xô, Mi, Anh, Pháp, ngoại trưởng Liên Xô đưa ra đề nghị triệu tập Hội nghị Giơnevơ có cả CHND Trung Hoa tham dự dé bàn về vấn đề Triều Tiên và lập lại hòa bình ở Đông Dương. Đây là thời điểm chín mùi để các nước lớn công khai đàm phán nhằm chấm đứt chiến tranh ở Đông Dương. Trước hết với các nước đế quốc, tình hình đã rõ khi quân viễn trinh Pháp mặc dù có sự viện trợ của Mĩ vẫn không giành được chiến thắng quyết định trên chiến trừơng. “Chinh sách của MT là can thiệp bằng viện trợ mà không muốn dé quân nhằm tránh lặp lại một Triều Tiên thứ hai; thái độ của Anh là dé chừng, lo ngại ảnh hưởng của cuộc chiến tranh sẽ làm rung chuyển các nước thuộc địa cud họ.
" [2; 28] Các nước xã hội chủ nghĩa cũng có những vấn đề đặt ra nhất là đối với hai nước lớn Liên Xô, Trung Quốc. Đến đầu 1954, sau 9 năm khôi phục đất nước Liên Xô đạt được nhiều thành tựu kinh tế, khoa học kĩ thuật. Việc Liên Xô thử thành công bom nguyên tử (1949) và bom khinh khí (1953) đã xóa thế độc quyền vũ khí hạt nhân của Mĩ và nâng cao vị thế của nhà nước XHCN trên trường quốc tế. Năm 1953 J, Stalin qua đời để lại hậu quả nghiêm trọng: xuất hiện tinh trạng không ổn định của bộ máy lãnh đạo tối cao; sự thay đổi về đường nổi đối ngoại theo xu hướng hòa dju với Mi của Khrushev cùng mục tiêu “chưng sống hòa bình, thì dua hoa bình".
"Liên Xô can một sự yên ồn trên bình diện quốc tế để rảnh tay giải quyết những van đề nội bộ và đồn sức hướng trọng tâm vào công việc Châu Âu, đặc biệt la van dé Beclin và Pite.”(3; 28] Trung Quốc chỉ một năm sau khi thành lập, đã tham gia vào cuộc chiến tranh Triéu Tiên với những tổn thất và hi sinh lớn, trong khi đó hậu 16 GVHD: ThS.