Chương 1 IMMANUEL KANT VỚI TÁC PHẨM “PHÊ PHÁN NĂNG LỰC PHÁN ĐOÁN” 1. Điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội, văn hóa và những tiền đề cho sự hình thành triết học I. Điều kiện kinh tế Vào cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, nước Đức vẫn còn là một quốc gia phong kiến điển hình, lạc hậu cả về kinh tế và chính trị. Việc tiếp tục tăng cường quyền lực duy trì chế độ quân chủ của triều đình vua Phổ Phriđrich Vin Hem đã cản trở đất nước phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa, khiến cho công nghiệp, thủ công nghiệp, nông nghiệp bị hạn chế, khiến người dân Đức cảm thấy bất bình trước tình cảnh đất nước thời bấy giờ.
Nhiều sử gia đánh giá, nước Đức thế kỷ XVIII là một trong những nước lạc hậu bậc nhất châu Âu, cuộc chiến tranh Ba mươi năm (1618 - 1648) với nước láng giềng đã làm tiêu hao sinh lực của nó. Suốt thời gian dài nước Đức nằm trong tình trạng trì trệ, bảo thủ, bị chia năm xẻ bảy bởi nạn cát cứ. Bộ máy nhà nước của chế độ quân chủ tỏ ra hà khắc, nhưng kém năng động và hết sức quan liêu, đàn áp tư tưởng tự do và dân chủ. Xét theo mức độ cách mạng thì Đức lạc hậu hơn so với Anh 200 năm, so với Pháp 50 năm.
Đó là sự cách biệt quá lớn. Song quy luật phát triển của tri thức triết học cho thấy rằng chính khi trong đời sống xã hội và sinh hoạt tinh thần nảy sinh những tình huống có vấn đề, đòi hỏi phải giải quyết, thì khi ấy, tùy thuộc vào điều kiện cụ thể, vào khả năng chủ quan của tư duy con người, truyền thống văn hóa, mà xuất hiện hàng loạt phương án khác nhau nhằm giải quyết chúng. Nước Đức nửa sau thế lỷ XVIII hội đủ các đặc điểm ấy. Hơn nữa giai cấp tư sản Đức sinh sau đẻ muộn đã biết tiếp thu kinh nghiệm của các dân tộc đi trước, kết thừa có chọn lọc và phát triển chúng trong điều kiện của mình, bất chấp tình trạng trì trệ của hiện thực vật chất.
Tính vượt trước của tri thức, tư 8 tưởng chính là ở đây. Vậy là trên bản đồ Tây Âu lúc đó xuất hiện ba cường quốc với ba thế mạnh khác nhau: nước Anh với ưu thế vượt trội về kinh tế, nước Pháp được xem là diễn đàn các tư tưởng và phong trào chính trị, nước Đức với cuộc cách mạng trong lĩnh vực lý trí. Nói về thời kì lịch sử đó, Ăngghen đã nói như sau: không một ai cảm thấy mình dễ chịu. Thủ công nghiệp, thương nghiệp, công nghiệp, nông nghiệp trong nước đều bị giảm đến mức thấp nhất.
Nông dân, người làm nghề thủ công, chủ xưởng chịu hai tầng đau khổ vì chính sách ăn bám và vì tình hình làm ăn khó khăn. Giai cấp quý tộc và các ông hoàng thấy rằng mặc dù chúng đã bóp nặn đến cùng những thần dân của chúng nhưng số thu của chúng khó mà đua kịp số chi ngày càng tăng lên. Mọi việc đều bi đát và cả nước đều công phẫn. Không có giáo dục, không có những phương tiện tác động đến ý thức quần chúng, không có tự do báo chí, không có dư luận xã hội, không có cả đến sự buôn bán nhỏ nào tới các nước khác.
Không có gì cả ngoài sự đê tiện và ích kỉ. Tinh thần ham lợi thấp kém, hèn hạ thảm hại thấm nhuần trong toàn dân. Tất cả đều hư nát, lung lay sắp sửa đổ và cũng không thể hy vọng được một sự thay đổi tốt, vì rằng trong dân tộc không có một lực lượng nào đủ sức để có thể dọn đi được cái tử thi đã rữa của cái chế độ đã lỗi thời ấy [20, 561 - 562]. Về kinh tế, giai cấp tư sản Đức chủ trương ưu tiên phát triển ngành thương mại, thủ công nghiệp và trong sản xuất theo lối công trường thủ công (những xí nghiệp lớn tư bản chủ nghĩa) ở Đức hầu như chưa có vào nửa cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX) bắt buộc phải phục vụ cho bọn phong kiến đang thống trị ở Đức lúc bấy giờ.
Trong khi thị trường bên trong phát triển còn rất yếu, và việc buôn bán trên thị trường còn rất hạn chế thì khách hàng chủ yếu là tầng lớp thống trị và số đông quan lại, giai cấp tư sản trong mỗi nhà nước Đức nhỏ ấy đã bị ràng buộc vào những khách hàng ấy. Nền kinh tế chủ yếu ở trình độ thủ công lạc hậu, những di tích của chế độ nông nô, phường hội, chuyên chế phản động đều là những lực cản kìm hãm sự phát triển lên tư bản chủ nghĩa của Đức. Ngoài 9 ra, nước Đức còn chịu sự tác động của những mối liên hệ từ bên ngoài làm cho nước Đức không có điều kiện để phát triển thành phần kinh tế tư bản chủ nghĩa trong lòng chế độ phong kiến và làm cho nước Đức rơi vào tình trạng cực kỳ bi đát về kinh tế chính trị - xã hội. Điều kiện chính trị - xã hội Những chuyển biến về kinh tế dẫn đến sự thay đổi về phân bố lực lượng giai cấp trong xã hội.
Giai cấp quý tộc phong kiến vẫn giữ địa vị thống trị trong bộ máy nhà nước và ngoan cố tăng cường quyền lực của chế độ quân chủ chuyên chế phong kiến. Do đó, tình trạng đất nước bị chia cắt với quyền lực vô hạn của các tiểu vương quốc là một trở ngại lớn đối với sự phát triển kinh tế tư bản chủ nghĩa. Do sự chuyển biến về kinh tế và chính trị, những mâu thuẫn cơ bản của xã hội Đức ngày càng bộc lộ rõ. Bước vào giai đoạn cuối của chế độ phong kiến, mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản với chế độ quân chủ chuyên chế và mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân cùng đông đảo quần chúng nhân dân lao động với giai cấp quý tộc phong kiến càng trở nên sâu sắc.
Điều đó phản ánh mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất tư bản chủ nghĩa ngày càng phát triển với quan hệ sản xuất phong kiến lạc hậu đang kìm hãm sức sản xuất. Rõ ràng khi phân tích xã hội tư bản có thể thấy rằng trong thực tiễn lẫn nhận thức phương pháp biện chứng thâm nhập khắp nơi, thể hiện tính chất của thời đại mới năng động và phát triển. Phép biện chứng của triết học cổ điển Đức, theo nghĩa này, là sự kế thừa, hệ thống hóa, cụ thể hóa, làm sâu sắc thêm tinh thần biện chứng của thời đại. Nó là tinh thần của thời đại được trình bày bởi phong cách Đức.
Vì thế, bên cạnh những nét tiêu biểu, độc đáo, sáng tạo, phụ thuộc vào năng lực chủ quan của những người sáng tạo ra tri thức, vào điều kiện của gia đình, xã hội ở những chặng đường nhất định, sự hình thành phong cách tư duy Đức không thoát khỏi quy luật phổ biến, chi phối diện mạo sinh hoạt tinh thần chung. 10 Hiện thực của nước Đức và bối cảnh của thời đại in đậm dấu ấn của mình trong cuộc hành trình tư tưởng của các nhà triết học, làm nổi bật mâu thuẫn giữa hệ thống và phương pháp, thậm chí giữa các thời kỳ khác nhau ở cùng một nhà triết học. Có thể lấy Kant, Fichte, Schelling và Hegel làm sáng tỏ mâu thuẫn khó vượt qua này : phương pháp biện chứng tồn tại trong hệ thống duy tâm, tư tưởng tiến bộ, cách mạng đan xen với các yếu tố bảo thủ; hoặc sự xung đột giữa hai thời kỳ (thời kỳ “tiền phê phán” và thời kỳ “phê phán” ở Kant, thời kỳ Jena và thời kỳ Berlin ở Fichte, thời trẻ và thời đứng tuổi ở Schelling…). Điểm qua những nét chính về bối cảnh lịch sử của sự ra đời triết học cổ điển Đức có thể xác định tiền đề thực tiễn của nó là cách mạng Pháp và hiện thực nước Đức nửa sau thế kỷ XIX - nửa đầu thế kỷ XIX.
Cách mạng Pháp, sự hiện thực hóa lý tưởng của các nhà khai sáng, tác động tích cực đến định hướng dân chủ, nhân văn trong triết học cổ điển Đức, khơi dậy tinh thần hoài nghi và phê phán đối với chủ nghĩa giáo điều và bảo thủ cả trong khoa học lẫn trong chính trị. Mác xem triết học Kant là lý luận Đức của cách mạng Pháp [17,131] Hiện thực nước Đức được thể hiện ở hệ thống triết học Kant, Fichte, Schelling, Hegel, Feuerbach bằng tính hai mặt của nó. Một mặt triết học cổ điển Đức phản ánh khát vọng chiến thắng của lý trí trước cái phi lý, nỗ lực vượt qua sự ngưng đọng của đời sống hiện thực; mặt khác, các nhà triết học Đức, từ Kant đến Hegel, sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Đức, chịu sự quy định của hiện thực đó, buộc phải chấp nhận những giới hạn của tự do; sự tuân phục các chuẩn mực phổ biến đã trở thành “mệnh lệnh tuyệt đối”, sức mạnh cưỡng chế mang ý nghĩa của tính tất yếu không cưỡng được; những câu hỏi được nêu ra chưa hẳn tìm thấy lời giải đáp thỏa đáng, mặc dù, nói như Kant, đó chỉ là lời giải đáp hình thức. Mâu thuẫn của triết học cổ điển Đức cũng chình là mâu thuẫn của thực tại được tái hiện lại trong các hệ thống lý luận.
Những va chạm mang tính chất giai cấp gay gắt ở đêm trước cách mạng đã thể hiện trong triết học dưới dạng mâu thuẫn giữa lý tưởng và hiện thực, giữa 11 “cái hợp lý” và “cái phi lý”. Sau khi hoàn thành cách mạng, giai cấp tư sản lại giảng hòa với thực tiễn, bởi vì bây giờ thực tiễn đã trở thành “cái hợp lý”. Mâu thuẫn giữa lý tưởng và hiện thực đều mạnh như nhau cả ở Đức lẫn ở Pháp. Ở Đức tính chất lạc hậu về kinh tế và chính trị khiến cho mâu thuẫn này khó được giải quyết triệt để.
Cách mạng ở Đức chỉ diễn ra thành công trong lĩnh vực lý trí, vì bản thân thực tiễn chưa đủ chín muồi để làm bùng nổ cách mạng như đã từng thấy tại Anh và Pháp. Xuất phát từ tình trạng xã hội ngưng đọng, triết học và nghệ thuật Đức hướng về hoặc nước Pháp cách mạng, hoặc quá khứ để làm sống lại các giá trị thời vàng son. Kant, Fichte, Hegel, Goethe, Schiller… đã từng ngợi ca cách mạng Pháp, xem nó như sự trỗi dậy của bình minh, biểu tượng của tự do, đánh dấu sự khởi sắc của thời đại mới. Voltaire và Rousseau được tôn vinh thành những hiệp sỹ của công lý.
Tuy nhiên, nước Pháp giai đoạn chuyên chế cách mạng, tức giai đoạn Jacobin, đã làm cho các nhà triết học và các nhà thơ Đức hoảng sợ.