Tổng quan về luận án

Luận án tiến sĩ Lịch sử mang tên "Đấu tranh quân sự ở Khánh Hòa trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954)" do nghiên cứu sinh Hồ Hải Hưng thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Văn Hoa và PGS. Trương Công Huỳnh Kỳ tại Trường Đại học Sư phạm - Đại học Huế (Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam, Mã số: 62 22 03 13, năm 2017) là công trình nghiên cứu chuyên khảo đầu tiên tái hiện một cách hệ thống, toàn diện và sâu sắc diện mạo của cuộc đấu tranh vũ trang tại một địa bàn chiến lược trọng yếu ở cực Nam Trung Bộ. Đặt trong bối cảnh cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp, Khánh Hòa giữ vị trí địa - quân sự đặc biệt khi vừa là cửa ngõ yết hầu nối liền Nam Bộ với Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, vừa sở hữu bờ biển dài hơn 427 km với vịnh Cam Ranh, cảng Nha Trang và cụm đảo tiền tiêu Trường Sa.

Khoảng trống học thuật (research gap) cốt lõi mà công trình giải quyết là sự thiếu vắng các nghiên cứu lịch sử quân sự chuyên sâu ở cấp độ địa phương đối với vùng "sau lưng địch" (vùng tạm bị chiếm, vùng du kích và căn cứ du kích), nơi phản ánh quy luật đối đầu phi đối xứng gay gắt giữa lực lượng vũ trang cách mạng non trẻ và đạo quân viễn chinh nhà nghề phương Tây. Luận án đặt ra và giải quyết 4 câu hỏi nghiên cứu cơ bản (RQ):

  • RQ1: Những nhân tố tự nhiên, kinh tế - xã hội và truyền thống lịch sử nào đã quy định tính chất đặc thù của đấu tranh quân sự tại Khánh Hòa?
  • RQ2: Quá trình hoạch định và chuyển hóa đường lối đấu tranh quân sự của Đảng từ quy mô đô thị sang chiến tranh du kích diễn ra như thế nào qua hai giai đoạn 1945 - 1946 và 1947 - 1954?
  • RQ3: Nghệ thuật xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân và thế trận căn cứ địa kháng chiến trong lòng địch được vận hành dựa trên cơ chế nào?
  • RQ4: Đâu là những quy luật, đặc điểm bản chất và bài học kinh nghiệm có giá trị thực tiễn đối với công tác quốc phòng - an ninh hiện đại?

Hệ thống giả thuyết khoa học tương ứng được xác lập:

  • H1: Đấu tranh quân sự tại Khánh Hòa không đơn thuần là hoạt động tác chiến cục bộ mà là điểm "hội quân", chốt chặn chiến lược bảo vệ trực tiếp vùng tự do liên hoàn Nam - Ngãi - Bình - Phú.
  • H2: Sự kết hợp giữa bộ đội địa phương, dân quân du kích và thế trận lòng dân tại các căn cứ địa (Hòn Dù, Đồng Bò, Đồng Trăn, Đá Bàn, Hòn Hèo) là nhân tố quyết định vô hiệu hóa chính sách bình định, lấn chiếm của thực dân Pháp.
  • H3: Sự chủ động tiến công và linh hoạt chuyển hóa thế trận là quy luật xuyên suốt bảo đảm cho chiến tranh nhân dân giành thắng lợi trong điều kiện bị cô lập tạm thời.

Khung lý thuyết của luận án được định hình vững chắc dựa trên phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh về "toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến", kết hợp với lý luận chiến tranh phi đối xứng và tương quan lực lượng quân sự học hiện đại. Phạm vi nghiên cứu bao quát không gian toàn tỉnh Khánh Hòa thời kỳ 1945 - 1954 với diện tích 5.197 km², dân số xấp xỉ 180.000 người, kéo dài suốt 9 năm lịch sử từ khi nổ súng bao vây Mặt trận Nha Trang (23-10-1945) đến khi kết thúc Hiệp định Genève (8-1954).

Literature Review và Positioning

Lịch sử chiến tranh giải phóng dân tộc Việt Nam giai đoạn 1945 - 1954 là chủ đề thu hút sự quan tâm rộng rãi của giới học thuật trong nước và quốc tế. Tổng quan tình hình nghiên cứu cho thấy hai dòng tư liệu và công trình chủ đạo:

Dòng nghiên cứu tổng quan chiến lược toàn quốc và chiến trường Liên khu 5: Các công trình kinh điển của Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (1985, 2014) với bộ Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954) (6 tập) và Lịch sử quân sự Việt Nam (tập 10); công trình Tổng kết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp - Thắng lợi và bài học của Ban Chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị (1996); các khảo cứu của Đại tướng Võ Nguyên Giáp (2006), Thượng tướng Hoàng Minh Thảo (2007), Trung tướng Lê Trọng Tấn (1984), Đại tá Trần Trọng Trung (2004) và TS. Nguyễn Mạnh Hà (1996). Ở cấp độ chiến khu, Bộ Tư lệnh Quân khu 5 (1989, 1998) đã xuất bản Khu 5 - 30 năm chiến tranh giải phóngLịch sử đặc công Quân khu 5. Điểm chung của nhóm công trình này là phác thảo bức tranh toàn cảnh, làm rõ đường lối lãnh đạo của Trung ương Đảng nhưng chưa thể đi sâu chi tiết vào vi mô chuyển dịch thế trận tại từng huyện, xã của chiến trường sau lưng địch như Khánh Hòa.

Dòng nghiên cứu lịch sử địa phương và căn cứ cách mạng: Ban Thường vụ Tỉnh ủy Khánh Hòa (2001) với Lịch sử Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa (1930 - 1975); Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Khánh Hòa (1998, 2013) với Lực lượng vũ trang tỉnh Khánh Hòa - Ba mươi năm xây dựng, chiến đấu và chiến thắng (1945 - 1975)Lịch sử công tác Đảng, công tác chính trị lực lượng vũ trang nhân dân tỉnh Khánh Hòa (1945 - 2010); các công trình chuyên đề của Chu Đình Lộc (1999, 2015, 2016) về căn cứ địa Cực Nam Trung Bộ và công tác huấn luyện quân sự.

Về phía quốc tế, các công trình khảo cứu tư liệu của học giả Pháp như Philippe Devillers (1993) trong Paris - Sài Gòn - Hà Nội: Tài liệu lưu trữ của cuộc chiến tranh 1944 - 1947 và hồi ký của Tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp Henri Navarre (2004) với Thời điểm của những sự thật đã cung cấp những góc nhìn từ phía đối phương. Đặc biệt, Devillers chỉ rõ: "Các tài liệu lưu trữ đã chứng minh cuộc chiến tranh Đông Dương... không phải do ngẫu nhiên, mà do tội lỗi, do sự vụng về hoặc tính toán sai của một vài người... Một cánh nhỏ những quan chức và nhà quân sự cao cấp Pháp đã châm ngòi cho cuộc chiến tranh giữa Việt Nam và nước Pháp". Trong khi đó, Tướng Navarre thừa nhận sự thất bại chiến lược trong kiểm soát lãnh thổ: "Phía Nam, về lý thuyết, chúng ta kiểm soát toàn bộ đất nước, nhưng ở đấy Việt Minh làm chủ được những “vệt” quan trọng... Vùng rộng nhất là Liên khu 5, trải dài suốt Nam phần Trung Bộ, từ mũi Né (Varella) đến rìa phía Nam Đà Nẵng. Sự có mặt của 30.000 người có võ trang, trong đó 18.000 quân chính quy hoặc quân địa phương tinh nhuệ, đối với miền Trung và miền Nam Đông Dương là một mối đe dọa...".

Tranh luận học thuật cốt lõi tồn tại giữa hai quan điểm: Một mặt coi đấu tranh quân sự vùng đô thị tạm chiếm là thứ yếu so với các chiến dịch vận động chiến trên chiến trường chính Bắc Bộ; mặt khác khẳng định các mặt trận đô thị ven biển như Nha Trang có vai trò kìm chân mang tính quyết định đến cấu trúc thời gian chiến lược của toàn bộ cuộc chiến tranh. Luận án đã định vị chuẩn xác và nâng tầm đóng góp khoa học khi so sánh thế trận Khánh Hòa với các mô hình bình định viễn chinh của Pháp tại Algeria và chiến lược phản nổi dậy (counter-insurgency) của Anh tại Mã Lai, chứng minh rằng sự kết hợp giữa ba thứ quân và căn cứ lòng dân tại Khánh Hòa đã làm phá sản hoàn toàn chiến thuật bao vây cơ giới của tướng Leclerc ngay từ cuối năm 1945.

Đóng góp lý thuyết và khung phân tích

Đóng góp cho lý thuyết

Luận án mở rộng và làm sâu sắc thêm học thuyết Chiến tranh nhân dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh và lý luận chiến lược quân sự Mác - Lênin thông qua việc cụ thể hóa mô hình tổ chức "Lực lượng vũ trang ba thứ quân" (bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích) trong điều kiện địa bàn duyên hải bị địch chia cắt sâu.

Nghiên cứu đã bổ sung và thử thách lý thuyết "Chiến tranh tiêu hao phi đối xứng" (Asymmetric Attrition Theory) của Ivan Arreguín-Toft và học thuyết quân sự của Carl von Clausewitz về "trung tâm trọng lực" (Center of Gravity). Bằng chứng thực nghiệm từ chiến trường Khánh Hòa chỉ ra rằng đối với một đạo quân xâm lược vượt trội về hỏa lực cơ giới và hải quân, trung tâm trọng lực không chỉ nằm ở lực lượng chính quy tập trung mà phân bổ rải rác trong cấu trúc thế trận du kích làng xã.

Các mệnh đề lý thuyết được đúc rút bao gồm:

  • Mệnh đề 1 (P1): Tại vùng sau lưng địch, sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang tỉ lệ thuận với độ phân tán linh hoạt của chiến thuật nhưng tỉ lệ nghịch với mức độ tập trung hành chính cứng nhắc.
  • Mệnh đề 2 (P2): Khả năng tự duy trì hậu cần tại chỗ của căn cứ địa kháng chiến là điều kiện biên tiên quyết quy định biên độ hoạt động của các đòn tiến công quân sự.
  • Mệnh đề 3 (P3): Sự phối hợp nhịp nhàng giữa đòn tiến công quân sự với đấu tranh chính trị và công tác binh vận tạo ra hiệu ứng đòn bẩy làm suy sụp ý chí chiến đấu của quân đội chiếm đóng.

Khung phân tích độc đáo

Luận án thiết lập khung phân tích đa chiều tích hợp ba trục lý thuyết:

  1. Lý thuyết không gian chiến lược và căn cứ địa: Khảo sát mối quan hệ hỗ tương giữa căn cứ địa rừng núi (Hòn Dù, Đồng Bò, Hòn Hèo, Đá Bàn, Ba Cụm) với các hành lang đồng bằng và đô thị ven biển.
  2. Lý thuyết chuyển hóa hình thái chiến tranh: Phân tích lộ trình biến đổi từ thế trận phòng tuyến mặt trận đô thị (tháng 10-1945 - tháng 2-1946) sang chiến tranh du kích giằng co (1947 - 1952) và tiến lên phối hợp đánh tiêu diệt đồn bốt, tháp canh (1953 - 1954).
  3. Lý thuyết liên kết chiến trường: Đặt hoạt động quân sự của tỉnh trong mối quan hệ hữu cơ với chiến trường Nam Bộ, Tây Nguyên và vùng tự do Liên khu 5.

Điều kiện biên (boundary conditions) của khung phân tích được xác lập chặt chẽ: Áp dụng cho các chiến trường hải đảo - ven biển có dải đồng bằng hẹp, bị cô lập trực tiếp bởi các trục giao thông huyết mạch do đối phương kiểm soát (Quốc lộ 1, Đường sắt Bắc - Nam, Quốc lộ 21) và không có sự hiện diện thường xuyên của các đại đoàn chủ lực cấp bộ.

Phương pháp nghiên cứu tiên tiến

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu vận dụng lập trường bản thể luận hiện thực phản biện (Critical Realism) và nhận thức luận duy vật lịch sử, bảo đảm xem xét các sự kiện quân sự trong mối liên hệ nhân quả khách quan và sự vận động lịch sử liên tục. Thiết kế nghiên cứu kết hợp đa phương pháp (Mixed Historical Methods) với cấu trúc phân tầng:

  • Cấp độ vĩ mô: Khảo sát đường lối chỉ đạo chiến tranh của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tư lệnh Liên khu 5.
  • Cấp độ trung mô: Đánh giá sự chuyển hướng chiến lược của Tỉnh ủy và Ban Chỉ huy Tỉnh đội Khánh Hòa.
  • Cấp độ vi mô: Phân tích vi biểu đồ tác chiến tại từng trận đánh cụ thể (Mặt trận Chợ Mới - Ngọc Hội, đồi La San, phòng tuyến Bretelles, ga Nha Trang, kho Bình Tân).

Quy trình nghiên cứu rigorous

Quy trình thu thập và thẩm định tư liệu sử học được thực hiện qua các bước nghiêm ngặt:

  • Heuristic tư liệu lưu trữ thành văn: Khai thác hàng trăm hồ sơ tài liệu gốc tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng, Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III (Hà Nội), Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV (Đà Lạt), Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam và Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Khánh Hòa.
  • Phương pháp điền dã và lịch sử truyền khẩu (Oral History): Tổ chức khảo sát thực địa tại các di tích căn cứ địa (Đồng Bò, Đồng Trăn, Hòn Hèo, đèo Cổ Mã, đèo Phượng Hoàng) và phỏng vấn sâu các nhân chứng lịch sử, tướng lĩnh từng trực tiếp chỉ huy chiến đấu trên Mặt trận Nha Trang - Khánh Hòa (như Thiếu tướng Hà Văn Lâu, Đại tá Đặng Tính, cùng các cựu chiến binh Ban Liên lạc Mặt trận 23-10).
  • Tam giác hóa dữ liệu (Data Triangulation): Đối chiếu chéo giữa ba nguồn thông tin: Văn kiện, nghị quyết của Đảng - Báo cáo tác chiến thực địa của lực lượng vũ trang Việt Nam - Tài liệu lưu trữ quân sự và hồi ký của tướng lĩnh Pháp (Philippe Devillers, Henri Navarre, Leclerc).

Data và phân tích

Dữ liệu lịch sử được phân loại theo ma trận thời gian và không gian. Các dữ liệu định lượng về nhân khẩu (180.000 người), sản lượng kinh tế kháng chiến, số lượng súng đạn xưởng quân giới Đồng Trăn sản xuất, cũng như số lượng các trận càn quét của địch được thống kê và kiểm tra độ tin cậy bằng phương pháp phân tích so sánh lịch sử (Comparative Historical Analysis). Nghiên cứu sử dụng phần mềm bản đồ hóa lịch sử để tái dựng sơ đồ các phòng tuyến và hệ thống cứ điểm tháp canh De La Tour của thực dân Pháp trên trục đường giao thông liên huyện Khánh Hòa.

Phát hiện đột phá và implications

Những phát hiện then chốt

Thứ nhất, vai trò chiến lược ngăn chặn của Mặt trận Nha Trang (101 ngày đêm): Luận án làm sáng tỏ rằng cuộc tiến công rạng sáng ngày 23-10-1945 bằng tiếng nổ bộc phá tại cửa hầm xe lửa số 1 và cuộc chiến đấu bao vây kìm chân quân Pháp suốt 101 ngày đêm (từ 23-10-1945 đến 2-1946) tại phòng tuyến La San - Chợ Mới - Bretelles đã làm tiêu hao nặng nề sinh lực địch. Đúng như nhận định trong công trình của Ban Chỉ đạo tổng kết chiến tranh: "Với tinh thần tích cực tiến công tiêu hao địch, với cách đánh mưu trí táo bạo, được sự giúp đỡ tận tình của nhân dân, lực lượng vũ trang Mặt trận Nha Trang đã bao vây kìm chân quân Pháp trong thành phố hơn ba tháng, góp phần làm thất bại âm mưu chiến lược của chúng hòng mở rộng vùng kiểm soát đến vĩ tuyến 16 trong vòng vài tháng".

Thứ hai, Khánh Hòa là tâm điểm "hội quân" của các chi đội Nam tiến: Luận án chứng minh Khánh Hòa là địa bàn tiếp nhận và phối hợp tác chiến tiêu biểu nhất giữa lực lượng tự vệ địa phương với các chi đội Nam tiến từ miền Bắc và miền Trung (Chi đội Lê Trung Đình do Lê Kích chỉ huy, Đại đội Thuận Hóa do Nguyễn Thế Lâm chỉ huy, các đơn vị Nam Long, Hà Vy Tùng). Sự hội quân này không chỉ giải quyết bài toán thiếu hụt cán bộ chỉ huy quân sự mà còn bảo vệ hành lang giao thông đường sắt, bảo đảm vận chuyển vũ khí từ Bắc vào Nam Bộ thông qua phương thức đẩy xe goòng tiếp tế xuyên đêm từ hầm Rù Rì vào ga Suối Dầu (dài hơn 20 km) ngay dưới tầm hỏa lực của đối phương.

Thứ ba, sự phá sản của kế hoạch giải cứu chớp nhoáng của Bộ chỉ huy Pháp: Tư liệu luận án xác nhận đòn tiến công kiên cường của quân dân Khánh Hòa đã buộc Thống chế Leclerc phải điều động lực lượng cơ động chiến lược khổng lồ nhằm giải tỏa thế bị vây hãm. Tác giả Trần Trọng Trung (2004) đã ghi nhận: "do hoạt động mạnh của các lực lượng kháng chiến trên chiến trường này buộc Leclerc phải tập trung phần lớn lực lượng có trong tay (chừng 15.000 trong tổng số ngót 30.000 tên ở miền Nam cuối năm 1945) để mở cuộc hành quân Gô (Gaur) nhằm cứu nguy cho quân Pháp ở Nha Trang, Khánh Hòa, Đà Lạt. Cuộc hành binh quy mô lớn này do viên tổng chỉ huy đích thân điều khiển, chia thành hai gọng kìm lớn, lấy Nha Trang làm hợp điểm".

Thứ tư, bước chuyển hóa linh hoạt từ phòng ngự trận địa sang chiến tranh nhân dân bền bỉ (1947 - 1954): Trước chính sách bình định khốc liệt và thủ đoạn "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt", Đảng bộ tỉnh đã nhanh chóng chuyển trọng tâm sang củng cố các căn cứ địa kháng chiến (Hóc Chim, Hòn Dù, Đồng Bò, Đồng Trăn, Hòn Hèo, Đá Bàn), đẩy mạnh tác chiến du kích của các Đại đội Hồng Liên, Lê Hồng Phong, Vũ Trung Ân. Quân dân Khánh Hòa đã kiên cường vượt qua khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng giai đoạn 1950 - 1953 khi thiên tai và địch họa làm sụt giảm sản lượng nông nghiệp (như tại Ninh Hiệp trước kia thu hoạch 120 giạ chỉ còn 30 giạ, vùng Thượng du mất mùa 40% đến 60%), từng bước đánh bại hệ thống đồn bốt, tháp canh, phối hợp chặt chẽ với Chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954 đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn.

Implications đa chiều

  • Về mặt học thuật và lý thuyết: Cung cấp luận cứ thực chứng khẳng định quy luật của chiến tranh nhân dân tại vùng sau lưng địch; làm phong phú kho tàng lý luận quân sự Việt Nam về nghệ thuật kết hợp ba thứ quân và chuyển hóa thế trận.
  • Về mặt phương pháp luận: Cung cấp bộ công cụ tiếp cận vi lịch sử kết hợp với phân tích địa - chiến lược trong nghiên cứu lịch sử quân sự địa phương.
  • Về mặt thực tiễn và chính sách quốc phòng: Cung cấp những bài học quý giá về xây dựng "Khu vực phòng thủ tỉnh" vững chắc, thế trận lòng dân và phương thức kết hợp quốc phòng với phát triển kinh tế biển tại địa bàn duyên hải Nam Trung Bộ hiện nay, đặc biệt trong nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo tại Vịnh Cam Ranh và quần đảo Trường Sa.

Limitations và Future Research

Mặc dù đạt được những kết quả đột phá, luận án thẳng thắn thừa nhận các giới hạn:

  1. Nguồn tư liệu lưu trữ phía quân đội viễn chinh Pháp về các chiến dịch càn quét cục bộ ở cấp phân khu (secteur) tại Khánh Hòa chưa được khai thác toàn diện do hạn chế tiếp cận các kho lưu trữ tại Vincennes và Aix-en-Provence (Pháp).
  2. Dữ liệu hồi ức của nhân chứng lịch sử có độ suy giảm tự nhiên do yếu tố thời gian và tuổi tác, đòi hỏi công tác thẩm định phải đối chiếu phức tạp.
  3. Việc định lượng chi tiết tổn thất kinh tế và tương quan hỏa lực trong từng trận đánh nhỏ lẻ của du kích xã chưa thể đạt độ chính xác tuyệt đối.

Chương trình nghiên cứu 10 năm tiếp theo (Future Research Agenda):

  • Ứng dụng hệ thống thông tin địa lý (GIS) và mô hình hóa 3D để tái hiện chi tiết diễn biến không gian của 101 ngày đêm Mặt trận Nha Trang và hệ thống căn cứ địa kháng chiến Cực Nam Trung Bộ.
  • Nghiên cứu so sánh xuyên quốc gia giữa mô hình chiến tranh du kích vùng sau lưng địch ở Nam Trung Bộ với các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc tại Đông Nam Á (Indonesia, Malaysia) và Bắc Phi (Algeria).
  • Khai thác sâu các tài liệu giải mật của Pháp và Mỹ về chiến lược kiểm soát cảng biển Cam Ranh giai đoạn 1945 - 1954.

Tác động và ảnh hưởng

  • Giá trị học thuật: Công trình là tài liệu tham khảo nền tảng cho các nghiên cứu lịch sử kháng chiến chống Pháp tại Khu 5 và Nam Trung Bộ, mở ra hướng tiếp cận mới trong việc đánh giá vai trò của chiến trường phụ đối với chiến trường chính.
  • Chính sách và Quốc phòng: Kết quả nghiên cứu được ứng dụng trực tiếp trong công tác biên soạn lịch sử quân sự của Quân khu 5, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Khánh Hòa, phục vụ công tác huấn luyện tác chiến khu vực phòng thủ.
  • Xã hội và Giáo dục: Đóng góp nguồn ngữ liệu chuẩn xác cho chương trình giáo dục lịch sử địa phương tại các trường phổ thông và đại học trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa, góp phần giáo dục truyền thống yêu nước và lòng tự hào dân tộc cho thế hệ trẻ.

Đối tượng hưởng lợi

  • Nghiên cứu sinh và học giả chuyên ngành Lịch sử: Tiếp cận nguồn tư liệu sơ cấp đã được thẩm định, phương pháp nghiên cứu lịch sử quân sự đa tầng và khung lý thuyết hoàn chỉnh.
  • Các nhà hoạch định chiến lược quân sự và quốc phòng: Vận dụng các bài học về xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân, xây dựng căn cứ địa hậu phương tại chỗ vào chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
  • Cán bộ quản lý văn hóa và chính quyền địa phương: Tư liệu hóa phục vụ công tác xếp hạng, trùng tu và phát huy giá trị các di tích lịch sử kháng chiến tại Khánh Hòa (Đồng Bò, Chợ Mới, Đồi La San, Hòn Hèo).
  • Giảng viên, giáo viên và sinh viên ngành Sư phạm Lịch sử: Giáo trình tham khảo chuyên sâu phục vụ giảng dạy lịch sử địa phương và lịch sử dân tộc.

Câu hỏi chuyên sâu

1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì và đã mở rộng học thuyết nào? Luận án đã mở rộng học thuyết Chiến tranh nhân dân Hồ Chí Minh và lý luận chiến tranh phi đối xứng bằng việc mô hình hóa cơ chế "kìm chân - phân tán lực lượng địch tại chỗ". Nghiên cứu chứng minh rằng một lực lượng vũ trang đô thị non trẻ, trang bị thô sơ hoàn toàn có thể vô hiệu hóa ưu thế cơ giới hóa của quân đội viễn chinh phương Tây bằng chiến thuật phòng tuyến bao vây kết hợp đánh nhỏ, lẻ, mưu trí trong lòng đô thị, tạo khoảng trống thời gian chiến lược cho hậu phương toàn quốc chuẩn bị kháng chiến lâu dài.

2. Đột phá về phương pháp nghiên cứu so với các công trình trước đây thể hiện như thế nào? So với công trình của Ban Chỉ đạo tổng kết chiến tranh (1996) hay Lịch sử Quân khu 5 (1989), luận án đột phá nhờ phương pháp tam giác hóa tư liệu lịch sử: Kết hợp đồng thời tài liệu lưu trữ của Đảng và Chính phủ VNDCCH, tài liệu quân sự viễn chinh Pháp (Devillers, Navarre) với khảo sát thực địa điền dã và phỏng vấn nhân chứng lịch sử trực tiếp tham gia Mặt trận Nha Trang 1945.

3. Phát hiện nào trong dữ liệu gây bất ngờ và có ý nghĩa học thuật lớn nhất? Phát hiện bất ngờ nhất là việc một mặt trận địa phương như Nha Trang đã buộc Tổng chỉ huy Leclerc phải huy động tới 15.000 quân (chiếm 50% tổng số 30.000 quân Pháp tại toàn miền Nam Việt Nam cuối năm 1945) để mở cuộc hành quân quy mô lớn Gaur giải nguy. Điều này đảo lộn quan niệm cũ cho rằng Mặt trận Nha Trang chỉ mang tính chất tự vệ địa phương tự phát.

4. Giao thức tái lập và kiểm chứng nghiên cứu (Replication Protocol) được cung cấp ra sao? Luận án cung cấp hệ thống tra cứu nguồn dữ liệu chính xác với mã lưu trữ văn bản tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III, IV và Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng; công khai danh mục nhân chứng phỏng vấn cùng tọa độ địa lý các điểm căn cứ địa kháng chiến khảo sát thực địa.

5. Chương trình nghiên cứu dài hạn trong 10 năm tới được phác thảo như thế nào? Xây dựng bản đồ số hóa không gian tác chiến 1945 - 1954 trên nền tảng GIS, đối chiếu toàn diện với khối tài liệu lưu trữ quân sự Pháp tại Vincennes và mở rộng nghiên cứu sang so sánh cấu trúc chiến tranh nhân dân duyên hải trên toàn tuyến Nam Trung Bộ.

Kết luận

Luận án của NCS Hồ Hải Hưng là một công trình khoa học nghiêm túc, mẫu mực và có đóng góp xuất sắc cho nền sử học quân sự Việt Nam với 5 luận điểm đúc kết:

  1. Khẳng định Đấu tranh quân sự tại Khánh Hòa (1945 - 1954) giữ vai trò then chốt, quyết định việc làm phá sản chiến lược "đánh nhanh thắng nhanh" của thực dân Pháp ở Nam Trung Bộ ngay từ những ngày đầu tái xâm lược.
  2. Làm sáng tỏ tính chất "hội quân" của Mặt trận Nha Trang, biểu tượng mẫu mực của tinh thần đại đoàn kết Bắc - Trung - Nam và sự chỉ đạo chiến lược nhạy bén của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh.
  3. Đúc kết nghệ thuật xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân thích ứng với đặc điểm chiến trường sau lưng địch, lấy bộ đội địa phương và dân quân du kích làm nòng cốt dựa trên điểm tựa căn cứ địa cách mạng vững chắc.
  4. Chứng minh mối quan hệ biện chứng không thể tách rời giữa đấu tranh quân sự, đấu tranh chính trị và công tác binh vận trong việc bẻ gãy chính sách bình định lấn chiếm của đối phương.
  5. Rút ra hệ thống bài học kinh nghiệm sâu sắc về phát huy tinh thần chủ động, tự lực tự cường, bám sát địa bàn và xây dựng thế trận an ninh - quốc phòng toàn dân, có giá trị trường tồn trong công cuộc xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc hiện nay.