Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu (14 trang) Chương 2: Đấu tranh quân sự ở Khánh Hòa (1945 - 1946) (43 trang). Chương 3: Đấu tranh quân sự ở Khánh Hòa (1947 - 1954) (63 trang). Chương 4: Đặc điểm, vai trò và một số kinh nghiệm (23 trang). 9 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.
TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN Vấn đề ĐTQS trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954) của quân và dân Việt Nam nói chung và Khánh Hòa nói riêng lâu nay đã được phản ánh trong nhiều công trình nghiên cứu, nhiều cuốn sách xuất bản ở trong và ngoài nước, bao gồm 2 nhóm sau: 1. Nhóm các công trình nghiên cứu về đấu tranh quân sự trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954) Ban Nghiên cứu lịch sử quân sự thuộc Tổng cục Chính trị, Bộ Quốc phòng (1974), Lịch sử Qu n đ i nh n d n Việt Nam, tập 1, Nxb QĐND, HN. Nội dung công trình đã trình bày một cách có hệ thống quá trình hình thành và lớn mạnh của QĐND Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 – 1954). Bên cạnh việc nêu các quan điểm chỉ đạo của ĐCSVN về quá trình thành lập các đơn vị vũ trang, công trình còn đề cập đến các hoạt động đấu tranh vũ trang trong cuộc kháng chiến chống Pháp tại nhiều địa phương trong cả nước, trong đó, QĐND Việt Nam là lực lượng đóng vai trò quyết định.
Lê Trọng Tấn (1984), Chiến cu c ng Xu n 1953 - 1954 - M t bước phát triển sáng tạo của nghệ thuật qu n sự Việt Nam, Nxb QĐND, HN. Công trình đã trình bày di n biến cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-1954, đặc biệt tác giả đã phân tích, luận giải một số vấn đề về nghệ thuật quân sự của chiến tranh nhân dân, các đặc điểm nổi bật trong quá trình chỉ đạo chiến lược và chiến dịch của Đảng thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp. Tiêu biểu trong nhóm này có thể kể đến công trình nghiên cứu về cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp do Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (1985 nghiên cứu, biên soạn đó là bộ Lịch sử cu c kháng chiến chống thực d n háp 1945 - 1954), gồm 6 tập. Nội dung của công trình này trình bày về cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ và tự lực cánh sinh của quân dân cả nước chống thực dân Pháp xâm lược.
Do đây là những công trình nghiên cứu toàn diện về cuộc kháng chiến 10 chống thực dân Pháp, nên những nội dung liên quan đến hoạt động ĐTQS được trình bày còn chưa chuyên sâu mà chủ yếu là các trận đánh cụ thể, điển hình về một số hoạt động hay kết quả ở một địa phương hay của một số đơn vị. Ban Chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị (1996 , Tổng kết cu c kháng chiến chống thực d n háp - Thắng lợi v b i học, Nxb CTQG, HN. Công trình đã kế thừa những thành tựu từ các công trình tổng kết trước, có thêm những phát triển mới theo tư duy chính trị - quân sự không ngừng được hoàn thiện và đổi mới của Đảng. Bên cạnh đó, công trình còn chứa đựng nội dung phong phú về nhiều mặt, phản ánh tầm vóc của cuộc kháng chiến do ĐCSVN lãnh đạo cũng như những nỗ lực, đóng góp của quân và dân ở các địa phương trên khắp cả nước.
Liên quan đến các hoạt động ĐTQS của quân và dân Khánh Hòa, công trình đã dành một phần đánh giá về vai trò của Mặt trận Nha Trang - Khánh Hòa đối với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp: “Với tinh thần tích cực tiến c ng tiêu hao địch, với cách đánh mưu trí táo bạo, được sự giúp đỡ tận tình của nh n d n, lực lượng vũ trang Mặt trận Nha Trang đã bao v y kìm ch n qu n háp trong th nh phố hơn ba tháng, góp phần l m thất bại m mưu chiến lược của chúng hòng m r ng vùng kiểm soát đến vĩ tuyến 16 trong vòng v i tháng” [10, tr. Nguy n Mạnh Hà (1996 , Chính sách chính trị, qu n sự của háp Việt Nam trong giai đoạn 1945 - 1954 và nguyên nh n thất bại của chúng, Luận án Phó Tiến sĩ Khoa học Quân sự, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam. Công trình đã trình bày một cách có hệ thống những nội dung chủ yếu trong chính sách chính trị, quân sự của Pháp, chỉ ra các căn nguyên thất bại của chúng và khẳng định tính nhất quán, xuyên suốt trong chính sách xâm lược của Pháp là bằng mọi cách áp đặt trở lại và duy trì sự thống trị thực dân, chứng minh nguyên nhân sâu xa và trực tiếp làm bùng nổ cuộc chiến tranh là do chính sách thực dân xâm lược đã lỗi thời, phản động của Pháp, đồng thời khẳng định nguyên nhân khiến chính sách chính trị, quân sự của Pháp thất bại là do chiến tranh xâm lược phi nghĩa và một nguyên nhân quyết định là gặp phải một đối thủ kiên cường là dân tộc Việt Nam quyết tâm hy sinh chiến đấu vì độc lập, tự do. Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (1997 , ậu phương chiến tranh nh n d n Việt Nam 1945 - 1975), Nxb QĐND, Hà Nội.
Công trình đã đánh giá 11 về vai trò của căn cứ địa - hậu phương qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Công trình khẳng định hậu phương trong chiến tranh nhân dân Việt Nam là nhân tố thường xuyên quyết định thắng lợi của sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc. Đặc biệt, khi bàn về vai trò của hậu phương tại chỗ đối với chiến tranh cách mạng, công trình cho rằng: “Việc x y dựng hậu phương tại chỗ vững chắc có thể chuyển hóa thế trận từ yếu sang mạnh, hoặc từ mạnh sang yếu, điều n y phụ thu c v o các yếu tố như: Tính chất chính nghĩa hay phi nghĩa của chiến tranh m hậu phương phải phục vụ; phương thức tiến h nh chiến tranh cách mạng hay chiến tranh cổ điển; quy m tổ chức v huy đ ng nh n d n tham gia,… nhưng trên tất cả l lòng dân” [41, tr. Thông qua đó, công trình đã góp phần cung cấp những lí giải quan trọng nhằm đánh giá đúng vai trò của các căn cứ cách mạng trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.
Trần Trọng Trung (2004), Lịch sử cu c chiến tranh bẩn thỉu, tập 1, Nxb QĐND. Công trình đã nêu một cách có hệ thống những kế hoạch chiến tranh xâm lược của Chính phủ Cộng hòa Pháp. Đề cập đến quá trình thực hiện âm mưu đánh chiếm Khánh Hòa, tác giả viết: “ i đ i với việc tiếp tay cho quân Pháp m r ng chiến sự Nam B , từ cuối tháng 9, phái b quân sự Anh đã đưa m t tiểu đo n Anh - Ấn đổ b lên Nha Trang, viện cớ l để giải giáp qu n đ i Nhật Nam Trung B ” [154, tr. Sau đó, “do hoạt đ ng mạnh của các lực lượng kháng chiến trên chiến trư ng này bu c Leclerc phải tập trung phần lớn lực lượng có trong tay (chừng 15.000 trong tổng số ngót 30.000 tên miền Nam cuối năm 1945) để m cu c hành quân Gô (Gaur) nhằm cứu nguy cho quân Pháp Nha Trang, hánh òa, Lạt.
Cu c hành binh quy mô lớn này do viên tổng chỉ huy đích th n điều khiển, chia thành hai gọng kìm lớn, lấy Nha Trang làm hợp điểm” [154, tr. Lê Huy Bình (2007), Tư tư ng ồ Chí Minh về x y dựng lực lượng vũ trang ba thứ qu n trong cu c kháng chiến chống thực d n háp x m lược 1945 - 1954), Luận án tiến sĩ, Học viện Chính trị Quân sự Hà Nội. Trong công trình này, tác giả xác định đối tượng nghiên cứu là tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng LLVT ba thứ quân trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược với mục đích là nhằm khẳng định giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng LLVT ba thứ quân trong cuộc 12 kháng chiến chống thực dân Pháp và sự vận dụng tư tưởng của Người trong xây dựng LLVT trong thời đại mới. Bộ Quốc phòng và Viện Khoa học xã hội Việt Nam (2007 , 60 năm to n quốc kháng chiến - ký ức lịch sử v b i học kinh nghiệm x y dựng, bảo vệ Tổ quốc, Nxb QĐND, HN.
Công trình đã làm rõ thêm âm mưu và hành động xâm lược, bản chất hiếu chiến của thực dân Pháp và cũng chính tư tưởng thực dân đó đã châm ngòi cho cuộc chiến tranh nhằm xóa bỏ những thành quả của Cách mạng tháng Tám năm 1945; lập lại ách thống trị của chúng lên đất nước ta một lần nữa. Công trình đã góp phần làm sáng tỏ thêm về sự lãnh đạo, chỉ đạo tài tình, sáng suốt của Trung ương Ðảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh khi nền hòa bình không còn có thể cứu vãn, đã chủ động mở ra cuộc kháng chiến toàn quốc. Mặt khác, công trình đã tái hiện bối cảnh lịch sử, nguyên nhân, di n biến của quá trình toàn dân đứng lên tham gia kháng chiến và rút ra một số kinh nghiệm lịch sử như: “vừa đánh, vừa đ m, vừa huy đ ng sức mạnh to n d n tham gia đánh giặc giữ nước”,. Hoàng Minh Thảo (2007), B n về nghệ thuật qu n sự, Nxb CTQG, HN.
Công trình đã đi sâu nghiên cứu lý luận về nghệ thuật quân sự, tổng kết kinh nghiệm nghệ thuật quân sự trong lịch sử quân sự Việt Nam; phân tích cụ thể, chi tiết mưu kế chiến lược của các trận đánh lớn trong các cuộc chiến tranh chống xâm lược của dân tộc ta; ngoài ra còn đề cập đến nghệ thuật dùng binh trong một số trận đánh nổi tiếng thế giới. Có thể nói, cuốn sách đã tái hiện lại những năm tháng chiến đấu và chiến thắng mọi thế lực thù địch của dân tộc Việt Nam, góp phần gìn giữ, phát triển kho tàng nghệ thuật quân sự quý báu của dân tộc. Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (2014), Lịch sử quân sự Việt Nam, gồm 14 tập, Nxb CTQG. Đây là bộ công trình đã được biên soạn công phu, đồ sộ, rất có giá trị, dựng lại lịch sử quân sự vĩ đại của dân tộc ta trong các cuộc đấu tranh chống xâm lược và bảo vệ Tổ quốc, phản ánh có hệ thống và toàn bộ hoạt động quân sự của quân và dân ta.