Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ lịch sử với đề tài "Đấu tranh quân sự ở Khánh Hòa trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954)" do nghiên cứu sinh Hồ Hải Hưng thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm - Đại học Huế vào năm 2017, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Văn Hoa và PGS. Trương Công Huỳnh Kỳ. Luận án thuộc chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, mã số 62 22 03 13.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), đấu tranh quân sự giữ vai trò quyết định đối với thắng lợi của dân tộc, góp phần chuyển hóa thế trận, tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch và làm phá sản các kế hoạch quân sự của thực dân Pháp. Tại chiến trường Nam Trung Bộ, Khánh Hòa là địa bàn đặc thù thuộc vùng sau lưng địch. Hoạt động đấu tranh quân sự tại đây diễn ra sớm hơn so với các tỉnh trong khu vực, thể hiện nghệ thuật chiến tranh toàn dân ("lấy nhỏ đánh lớn, lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh"), góp phần giam chân đối phương, bảo vệ căn cứ và vùng tự do Nam Trung Bộ (vùng tự do Nam - Ngãi - Bình - Phú).
Nhiều công trình lịch sử chiến tranh đã phản ánh cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trên bình diện cả nước hoặc liên khu. Tuy nhiên, trước khi luận án được thực hiện, chưa có một công trình chuyên khảo nào nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống và đánh giá toàn diện về quá trình đấu tranh quân sự ở Khánh Hòa trong suốt giai đoạn 1945 - 1954, đặc biệt là việc làm rõ đường lối chỉ đạo của Đảng, nghệ thuật tác chiến, phương thức xây dựng lực lượng ba thứ quân, đặc điểm, vai trò và những kinh nghiệm lịch sử của địa phương trong mối tương quan với chiến trường toàn quốc.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là tái hiện có hệ thống và toàn diện quá trình đấu tranh quân sự ở Khánh Hòa thời kỳ 1945 - 1954; làm rõ sự vận dụng sáng tạo đường lối quân sự của Đảng vào hoàn cảnh thực tiễn địa phương; đúc rút những kinh nghiệm lịch sử phục vụ nhiệm vụ xây dựng thế trận quốc phòng - an ninh tại địa phương hiện nay.
Để thực hiện mục đích trên, tác giả xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Phân tích các nhân tố tự nhiên, kinh tế - xã hội và truyền thống lịch sử tác động đến đấu tranh quân sự ở Khánh Hòa trong kháng chiến chống Pháp.
- Làm rõ âm mưu, thủ đoạn, kế hoạch chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp đối với Khánh Hòa và chủ trương đấu tranh quân sự của Trung ương Đảng, Liên khu ủy 5, Tỉnh ủy Khánh Hòa.
- Tái hiện có hệ thống quá trình đấu tranh quân sự ở Khánh Hòa qua hai giai đoạn chính: 1945 - 1946 và 1947 - 1954.
- Phân tích đặc điểm, khẳng định vai trò của đấu tranh quân sự ở Khánh Hòa; đúc rút những kinh nghiệm thực tiễn từ giai đoạn 1945 - 1954 để vận dụng vào thực tiễn hiện nay.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Quá trình đấu tranh quân sự ở Khánh Hòa trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954); các đặc điểm, vai trò và kinh nghiệm lịch sử rút ra từ quá trình này.
- Phạm vi không gian: Địa bàn tỉnh Khánh Hòa theo địa giới hành chính thời kỳ 1945 - 1954.
- Phạm vi thời gian: Từ tháng 10-1945 (thời điểm thực dân Pháp tiến hành nổ súng xâm lược Khánh Hòa) đến tháng 8-1954 (thời điểm kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp trên địa bàn tỉnh). Một số nội dung được mở rộng khảo sát trước tháng 10-1945 nhằm làm rõ bối cảnh và công tác chuẩn bị lực lượng.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào công tác xây dựng, củng cố và phát triển lực lượng vũ trang ba thứ quân (bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích); xây dựng và bảo vệ căn cứ địa cách mạng; bảo đảm hậu cần, vũ khí tự tạo; diễn biến, kết quả, ý nghĩa của các chiến dịch, trận đánh tiêu biểu; sự kết hợp giữa đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị và binh vận.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả chia các công trình nghiên cứu liên quan thành hai nhóm chính:
1. Nhóm công trình nghiên cứu về đấu tranh quân sự trong kháng chiến chống Pháp trên phạm vi cả nước và liên khu
- Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, tập 1 (Ban Nghiên cứu Lịch sử Quân sự thuộc Tổng cục Chính trị, Nxb QĐND, 1974): Trình bày sự hình thành, lớn mạnh của quân đội và các hoạt động vũ trang trên toàn quốc.
- Lê Trọng Tấn (1984), Chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954 - Một bước phát triển sáng tạo của nghệ thuật quân sự Việt Nam (Nxb QĐND): Phân tích nghệ thuật quân sự và chỉ đạo chiến lược của Đảng trong giai đoạn cuối cuộc kháng chiến.
- Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), gồm 6 tập (Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, 1985): Trình bày toàn diện cuộc kháng chiến toàn dân, trường kỳ trên cả nước.
- Tổng kết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp - Thắng lợi và bài học (Ban Chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị, Nxb CTQG, 1996): Đánh giá ý nghĩa chiến lược của Mặt trận Nha Trang - Khánh Hòa trong việc bao vây, giam chân quân Pháp hơn 3 tháng, làm phá sản kế hoạch mở rộng chiếm đóng đến vĩ tuyến 16.
- Nguyễn Mạnh Hà (1996), Chính sách chính trị, quân sự của Pháp ở Việt Nam trong giai đoạn 1945 - 1954 và nguyên nhân thất bại của chúng (Luận án Phó Tiến sĩ, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam): Luận giải chính sách thực dân và nguyên nhân thất bại của quân đội viễn chinh Pháp.
- Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945 - 1975) (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, Nxb QĐND, 1997): Đánh giá vai trò xây dựng hậu phương và căn cứ địa kháng chiến tại chỗ.
- Trần Trọng Trung (2004), Lịch sử cuộc chiến tranh bẩn thỉu, tập 1 (Nxb QĐND): Trình bày các kế hoạch quân sự của Pháp, trong đó có cuộc hành quân Gaur do tướng Leclerc chỉ huy nhằm giải vây cho quân Pháp ở Nha Trang, Khánh Hòa, Đà Lạt vào cuối năm 1945.
- Lê Huy Bình (2007), Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 - 1954) (Luận án Tiến sĩ, Học viện Chính trị Quân sự).
- Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (2014), Lịch sử quân sự Việt Nam (tập 10) và Lịch sử tư tưởng quân sự Việt Nam (5 tập, Nxb CTQG).
- Các công trình cấp vùng và quân khu: Bộ Tư lệnh Quân khu 5 (1989), Khu 5 - 30 năm chiến tranh giải phóng (tập 1); Viện Lịch sử Đảng và Hội đồng biên soạn Lịch sử Nam Trung Bộ kháng chiến (1992), Nam Trung Bộ kháng chiến (1945 - 1975); Bộ Tư lệnh Quân khu 5 (1998), Lịch sử đặc công Quân khu 5 (1952 - 1975); Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (1999), Phụ nữ Nam Trung Bộ trong sự nghiệp kháng chiến cứu nước (1930 - 1975); Ban Chỉ đạo biên soạn Lịch sử Chính phủ (2006), Ủy ban Kháng chiến Hành chính miền Nam Trung Bộ (1945 - 1954); Tổng tập hồi ký của Đại tướng Võ Nguyên Giáp (2006).
- Công trình của các học giả nước ngoài: Philippe Devillers (1993), Paris - Sài Gòn - Hà Nội: Tài liệu lưu trữ của cuộc chiến tranh 1944 - 1947 (Hoàng Hữu Đản dịch, Nxb TP. Hồ Chí Minh); Henri Navarre (2004), Thời điểm của những sự thật (Nguyễn Huy Cầu dịch, Nxb CAND).
2. Nhóm công trình nghiên cứu về đấu tranh quân sự ở Khánh Hòa (1945 - 1954)
- Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Tỉnh ủy Phú Khánh (1980), 50 năm hoạt động của Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Phú Khánh.
- Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Khánh Hòa (1998), Lực lượng vũ trang tỉnh Khánh Hòa - Ba mươi năm xây dựng, chiến đấu và chiến thắng (1945 - 1975), tập 1.
- Chu Đình Lộc (1999), Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa lãnh đạo xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng thời kỳ 1945 - 1946 (Luận văn Thạc sĩ Lịch sử, ĐHKHXH&NV Hà Nội); tác giả Chu Đình Lộc cũng công bố sách Căn cứ địa cách mạng Cực Nam Trung Bộ trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ (1945 - 1975) (Nxb ĐHQG TP.HCM, 2016) và bài báo khoa học về các khóa huấn luyện quân sự ở Khánh Hòa thời kỳ 1945 - 1946 (Tạp chí Lịch sử Quân sự, 2015).
- Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa (2001), Lịch sử Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Khánh Hòa (1930 - 1975).
- Kỷ yếu hội thảo khoa học: Mặt trận Nha Trang - Khánh Hòa, Nam Trung Bộ: Hồi đầu kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1947) do Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Khánh Hòa phối hợp Bộ Tư lệnh Quân khu 5 và Viện LSQSVN tổ chức (Nxb QĐND, 2005).
- Đảng ủy - Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Khánh Hòa (2013), Lịch sử công tác Đảng, công tác chính trị lực lượng vũ trang nhân dân tỉnh Khánh Hòa (1945 - 2010).
- Các bài hồi ký và nghiên cứu chuyên khảo: Mặt trận Nha Trang - Khánh Hòa (Ban Liên lạc 23-10, Sở VHTT Khánh Hòa, 2005); Hà Văn Lâu (2015), Từ mặt trận Chợ Mới - Ngọc Hội đến phòng tuyến Cây Da - Quán Giếng (Tạp chí Lịch sử Quân sự).
Khoảng trống luận án giải quyết
Các công trình trên đã cung cấp hệ thống tư liệu và nhận định cơ bản, song chủ yếu tiếp cận vấn đề ở diện rộng toàn quốc, cấp quân khu, hoặc chỉ nghiên cứu một sự kiện riêng lẻ (như Mặt trận 101 ngày đêm tại Nha Trang) hay theo dòng lịch sử Đảng bộ địa phương. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống: Tái hiện tiến trình đấu tranh quân sự trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa một cách xuyên suốt từ tháng 10-1945 đến tháng 8-1954, phân tích sự phát triển của các hình thái chiến thuật, vai trò của căn cứ địa và hậu phương tại chỗ, làm nổi bật các đặc điểm riêng biệt của chiến trường Khánh Hòa và đúc kết các bài học kinh nghiệm quân sự mang tính hệ thống.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Luận án được triển khai dựa trên nền tảng phương pháp luận sử học Mác - xít, quan điểm đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam và tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh cách mạng, nghệ thuật quân sự chiến tranh nhân dân, xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân và kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị, binh vận.
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp chủ yếu: Phương pháp lịch sử kết hợp chặt chẽ với phương pháp lôgíc nhằm tái hiện chân thực, khách quan các sự kiện quân sự theo trình tự thời gian, đồng thời khái quát hóa bản chất, quy luật vận động và bài học kinh nghiệm.
- Phương pháp cụ thể: Phương pháp sưu tầm, phân loại và xử lý tư liệu văn bản; phương pháp khảo sát điền dã di tích lịch sử; phương pháp phỏng vấn nhân chứng lịch sử; các kỹ thuật phân tích, tổng hợp, so sánh và thống kê lịch sử.
Nguồn tư liệu sử dụng
- Tài liệu lưu trữ: Các văn kiện, nghị quyết, chỉ thị của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy, Liên khu ủy 5, Tỉnh ủy Khánh Hòa và chính quyền kháng chiến địa phương được khai thác tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng, Bộ Tư lệnh Quân khu 5, Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng, Thư viện Quốc gia, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam và Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Khánh Hòa.
- Tác phẩm kinh điển và công trình nghiên cứu: Các tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, văn kiện của Đảng, hồi ký của các tướng lĩnh quân đội (Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Đại tá Hà Văn Lâu...); các bộ lịch sử chiến tranh, lịch sử quân sự của Bộ Quốc phòng, Viện LSQS Việt Nam, Quân khu 5 và Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa.
- Tư liệu điền dã và nhân chứng: Khảo sát các căn cứ địa (Đồng Bò, Hòn Dù, Đồng Trăn, Đá Bàn, Hòn Hèo...), các địa điểm di tích lịch sử trận đánh; ghi chép hồi ức của các cựu chiến binh thuộc Ban Liên lạc Mặt trận 23-10 Nha Trang - Khánh Hòa.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Chương 1 phân tích có hệ thống hai nhóm công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về đấu tranh quân sự thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954) nói chung và chiến trường Khánh Hòa nói riêng. Trên cơ sở chỉ ra những đóng góp và các khía cạnh chưa được khảo cứu đầy đủ, tác giả xác định 5 vấn đề trọng tâm mà luận án đi sâu giải quyết:
- Đánh giá tác động của các nhân tố tự nhiên, kinh tế - xã hội, truyền thống lịch sử đến cuộc kháng chiến tại địa phương.
- Làm rõ âm mưu của thực dân Pháp và chủ trương chỉ đạo đấu tranh quân sự của Trung ương Đảng, Liên khu ủy 5, Tỉnh ủy Khánh Hòa.
- Làm rõ quá trình chuẩn bị, phát triển lực lượng vũ trang và xây dựng hệ thống căn cứ địa cách mạng.
- Tái hiện toàn diện tiến trình đấu tranh quân sự của quân và dân Khánh Hòa từ năm 1945 đến năm 1954.
- Phân tích các đặc điểm, khẳng định vai trò và đúc rút bài học kinh nghiệm thực tiễn.
Chương 2: ĐẤU TRANH QUÂN SỰ Ở KHÁNH HÒA (1945 - 1946)
Chương 2 làm rõ các nhân tố tác động, quá trình xây dựng thế trận và diễn biến chiến sự trước ngày Toàn quốc kháng chiến:
- Đặc điểm tự nhiên và kinh tế - xã hội: Tỉnh Khánh Hòa có diện tích 5.197 $km^2$, trải dài từ 12°52’15" đến 11°42’50" vĩ độ Bắc và 108°40’33" đến 109°27’55" kinh độ Đông. Địa hình hẹp ngang (nơi hẹp nhất 10 - 15 km, nơi rộng nhất khoảng 60 km), 3/4 diện tích là rừng núi với các đỉnh núi cao như Chư Mư (2.050 m), Hòn Chín Khúc. Tỉnh có 3 thung lũng gắn liền với 3 vùng đồng bằng (Nha Trang - Diên Khánh, Ninh Hòa - Vạn Ninh, Cam Ranh), đường bờ biển dài hơn 427 km với vịnh Cam Ranh có độ sâu 18 - 20 m, eo biển rộng 1,6 km. Dân số thời kỳ này khoảng 180.000 người gồm các dân tộc Kinh, Chăm, Raglai, Chu Ru, Ê Đê, S'tiêng...
- Truyền thống đấu tranh: Kế thừa truyền thống phong trào Tây Sơn (1785), phong trào Cần Vương (khởi nghĩa Trịnh Phong, Trần Đường năm 1885), phong trào Duy Tân. Ngày 24-2-1930, Tỉnh ủy lâm thời Đảng bộ Cộng sản Khánh Hòa thành lập do Trần Hữu Duyệt làm Bí thư. Trong Cách mạng Tháng Tám 1945, đêm 12-8-1945 Ban Chấp hành Việt Minh họp tại nhà ông Nguyễn Điệp (số 45 đường Hoàng Tử Cảnh, Nha Trang) quyết định khởi nghĩa, đến ngày 19-8-1945 chính quyền cách mạng lâm thời tỉnh ra mắt nhân dân.
| Tiêu chí |
Dữ kiện lịch sử tại Khánh Hòa (1945 - 1946) |
| Cơ sở huấn luyện quân sự |
- Trường Huấn luyện Quân sự Đồng Đế (thành lập 01-9-1945 do Hà Văn Lâu phụ trách quân sự, Tôn Thất Liên phụ trách hậu cần). - Trường Huấn luyện Quân sự Lạc An (Ninh Hòa), Trường Quân chính ở Thành (Diên Khánh). |
| Sản xuất quân giới |
Xưởng Quân giới Đồng Trăn (thành lập tháng 9-1945 tại Vĩnh Xương, do Nguyễn Xuân Thắng phụ trách; có hơn 50 công nhân cơ khí, gara ô tô, Viện Pasteur, Viện Hải dương học). |
| Lực lượng chỉ huy Mặt trận |
Ban Chỉ huy Mặt trận Nha Trang: Trần Chí Hiền (Chỉ huy trưởng), Nguyễn Thế Lâm (Chỉ huy phó), Hà Văn Lâu (Tham mưu trưởng), Nguyễn Mô (Chính trị viên). |
| Chi viện từ Trung ương & các tỉnh |
Chi đội Nam tiến Lê Trung Đình (Lê Kích chỉ huy), Đại đội Thuận Hóa (Nguyễn Thế Lâm), các đơn vị Nam tiến Nghệ Tĩnh, Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Ninh... |
- Diễn biến Mặt trận Nha Trang - Khánh Hòa (10-1945 đến 2-1946): Rạng sáng ngày 23-10-1945, phát lệnh bằng khối bộc phá tại cửa hầm xe lửa số 1 (Ngọc Hiệp), lực lượng ta đồng loạt tập kích các vị trí chiếm đóng của quân Pháp và quân Nhật tại thị xã Nha Trang (nhà Ga, nhà Đèn, Sở Thuốc, chợ Xóm Mới, kho vũ khí Bình Tân). Đại đội trưởng Tự vệ Nha Trang Võ Văn Ký anh dũng hy sinh khi chỉ huy đánh chiếm nhà Ga.
- Thiết lập phòng tuyến bao vây: Sau trận tập kích, quân ta rút ra ngoài nội thị, lập phòng tuyến bờ Bắc sông Cái (đồi La San - cầu Xóm Bóng - Cù Lao - Núi Sạn) do Chi đội Lê Trung Đình chốt giữ và phòng tuyến Chợ Mới - Bretelles ở phía Tây - Nam do tiểu đoàn tự vệ của Hà Văn Lâu chỉ huy. Tại đồi La San, trận địa pháo (2 khẩu pháo 75 ly, 1 khẩu 20 ly) đã bắn chìm tàu tiếp tế của Pháp trước khách sạn Beau Rivage và Grand ngày 26-10-1945. Cuộc chiến đấu bao vây, kìm chân địch trong nội thị Nha Trang kéo dài suốt 101 ngày đêm, làm thất bại kế hoạch tiến quân nhanh ra vĩ tuyến 16 của tướng Leclerc.
- Giai đoạn củng cố (2-1946 đến 12-1946): Chuyển hướng sang xây dựng chiến tranh du kích, di chuyển cơ quan về căn cứ Đồng Bò, Hòn Dù, Đồng Trăn, bảo toàn lực lượng chuẩn bị kháng chiến lâu dài.
Chương 3: ĐẤU TRANH QUÂN SỰ Ở KHÁNH HÒA (1947 - 1954)
Chương 3 trình bày ba giai đoạn phát triển của cuộc đấu tranh quân sự trong giai đoạn toàn quốc kháng chiến:
- Giai đoạn 1947 - 1949 (Phát triển chiến tranh du kích, làm thất bại chính sách "bình định"): Quân và dân Khánh Hòa đẩy mạnh lối đánh du kích, tiêu hao binh lực địch trên các tuyến giao thông huyết mạch (Quốc lộ 1, Đường 21 đi Buôn Ma Thuột, tuyến đường sắt Bắc - Nam); xây dựng các căn cứ địa kháng chiến liên hoàn: Hóc Chim, Hòn Dù, Đồng Bò, Đồng Trăn, Ba Cụm, Hòn Hèo, Đá Bàn; thành lập các đại đội bộ đội địa phương tập trung (Đại đội Hồng Liên, Đại đội Lê Hồng Phong, Đại đội Vũ Trung Ân).
- Giai đoạn 1950 - 1952 (Vượt qua khó khăn, củng cố và phát triển lực lượng kháng chiến): Đối phó với âm mưu dồn dân, lập tề, lập "vành đai trắng" và chính sách "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt" của Pháp.
- Về tổ chức hành chính - quân sự: Tháng 5-1950, 3 xã của huyện Vĩnh Xương nhập vào Nha Trang lập 3 khu ngoại ô; sáp nhập xã Khánh Xương vào Diên Khánh thành huyện Vĩnh Khánh. Ngày 2-10-1951, UBKCHC miền Nam Trung Bộ ban hành Nghị định số 2172-MNTB sáp nhập huyện Ninh Hòa và Vạn Ninh thành liên huyện Bắc Khánh; vùng phía Nam tỉnh (thị xã Nha Trang, huyện Vĩnh Khánh, Ba Ngòi và Thượng du) gọi là Nam Khánh.
- LLVT tỉnh kiên trì bám đất, bảo vệ mùa màng, tổ chức các đội vũ trang tuyên truyền diệt tề trừ gian, đánh phục kích và chống càn quét vào vùng căn cứ thượng du.
- Giai đoạn 1953 - 1954 (Đẩy mạnh đấu tranh quân sự, phối hợp chiến trường toàn quốc đưa kháng chiến đến thắng lợi): Quân và dân Khánh Hòa đẩy mạnh đánh phá hệ thống đồn bốt, tháp canh kiểu De La Tour của thực dân Pháp; tiến công tiêu hao lực lượng địch trong các chiến dịch phối hợp với Chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954 và chiến trường Tây Nguyên, góp phần làm phá sản Kế hoạch Navarre, tiến tới kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến vào tháng 8-1954.
Chương 4: ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÒ VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM
Chương 4 đúc kết các luận điểm lý luận và thực tiễn:
1. Bốn đặc điểm nổi bật của đấu tranh quân sự ở Khánh Hòa
- Đấu tranh quân sự ở Khánh Hòa ngay từ đầu kháng chiến là nơi "hội quân" của cả nước: Là điểm dừng chân chiến đấu của nhiều chi đội bộ đội Nam tiến từ các tỉnh miền Bắc, Bắc Trung Bộ cùng sát cánh với LLVT địa phương.
- Chủ động tiến công địch là nét quán xuyến: Tinh thần chủ động tấn công thể hiện từ trận mở đầu 23-10-1945, bám giữ phòng tuyến bao vây 101 ngày đêm cho đến các đợt hoạt động du kích trong vùng sau lưng địch suốt 9 năm.
- Lực lượng chủ yếu là bộ đội địa phương và dân quân du kích: Do chiến trường bị chia cắt và nằm sâu trong vùng kiểm soát tạm thời của địch, bộ đội địa phương và dân quân du kích giữ vai trò nòng cốt tổ chức các trận đánh nhỏ, lẻ, tiêu hao sinh lực địch.
- Phong phú về hình thức và linh hoạt về biện pháp chiến thuật: Kết hợp đánh tập kích, phục kích giao thông, quấy rối đồn bốt, công đồn, đánh giao thông hào, kết hợp đặc công và biệt động nội thành.
2. Ba vai trò quan trọng của đấu tranh quân sự ở Khánh Hòa
- Góp phần kìm chân quân Pháp, bảo vệ vững chắc vùng tự do Nam - Ngãi - Bình - Phú và đường hành lang tiếp tế Bắc - Nam.
- Tiêu hao, tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, góp phần làm thất bại các kế hoạch chiến tranh của Pháp (kế hoạch "đánh nhanh thắng nhanh", kế hoạch "bình định", Kế hoạch Navarre).
- Hỗ trợ trực tiếp cho quần chúng nhân dân địa phương nổi dậy phá kìm, diệt tề, giữ vững cơ sở cách mạng và giành quyền làm chủ.
3. Ba bài học kinh nghiệm lịch sử
- Phát huy tinh thần chủ động, tự lực, tự cường, bám sát tình hình, kịp thời chuyển hóa thế trận kháng chiến phù hợp từng giai đoạn.
- Xây dựng LLVT nhân dân ba thứ quân phù hợp với điều kiện thực tế của chiến trường vùng sau lưng địch.
- Kết hợp chặt chẽ đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị và công tác binh vận nhằm nâng cao hiệu quả tác chiến.
Kết quả và những đóng góp mới
- Hệ thống hóa toàn diện tiến trình lịch sử: Luận án là công trình chuyên khảo đầu tiên tái hiện một cách có hệ thống, toàn diện và chân thực toàn bộ quá trình đấu tranh quân sự của quân và dân Khánh Hòa trong suốt 9 năm kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954), từ giai đoạn mở đầu Mặt trận Nha Trang đến khi cuộc kháng chiến kết thúc thắng lợi.
- Khái quát các đặc điểm và khẳng định vai trò chiến lược: Luận án làm nổi bật 4 đặc điểm mang tính quy luật và đặc thù của chiến trường Khánh Hòa đặt trong sự đối sánh với các chiến trường khác ở Nam Trung Bộ và cả nước; khẳng định vị trí chiến lược của Mặt trận Nha Trang 101 ngày đêm trong việc bảo vệ vùng tự do Nam - Ngãi - Bình - Phú.
- Đúc rút bài học kinh nghiệm thực tiễn: Luận án tổng kết 3 bài học kinh nghiệm về chuyển hóa thế trận, xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân và kết hợp ba mũi giáp công (quân sự, chính trị, binh vận).
- Bổ sung nguồn tư liệu lịch sử và giá trị ứng dụng: Cung cấp nguồn tư liệu lưu trữ có giá trị từ các cơ quan lưu trữ quốc gia, quân đội và địa phương; phục vụ trực tiếp cho công tác nghiên cứu, biên soạn lịch sử quân sự địa phương và giáo dục truyền thống yêu nước tại tỉnh Khánh Hòa.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Căn cứ theo phạm vi xác định trong văn bản, luận án tập trung chủ yếu vào diện mạo đấu tranh quân sự và nghệ thuật tác chiến của LLVT; các khía cạnh kinh tế, văn hóa, tài chính trong vùng căn cứ kháng chiến chỉ được tiếp cận như các yếu tố hậu cần phục vụ quân sự mà chưa đi sâu thành các chuyên mục độc lập.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu so sánh chuyên sâu về mối liên hệ tác chiến liên hoàn giữa chiến trường duyên hải Nam Trung Bộ (Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận) với chiến trường Tây Nguyên (Đắk Lắk, Lâm Viên) trong cuộc kháng chiến chống Pháp; nghiên cứu sâu hơn về mạng lưới hậu cần nhân dân và hoạt động quân báo, biệt động đô thị tại thị xã Nha Trang giai đoạn 1947 - 1954.
Giá trị tham khảo
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và nhà nghiên cứu: Luận án là tài liệu tham khảo chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, Lịch sử Quân sự, Lịch sử Đảng bộ địa phương; cung cấp phương pháp tiếp cận khai thác tư liệu lưu trữ quân sự và phương pháp dựng lại chiến dịch, trận đánh địa phương.
- Đối với giảng viên và cơ sở giáo dục: Là nguồn tài liệu phục vụ giảng dạy phần lịch sử địa phương tỉnh Khánh Hòa tại các trường phổ thông, trường cao đẳng, đại học trên địa bàn tỉnh và các trường sĩ quan quân đội thuộc Quân khu 5.
- Đối với cơ quan quản lý và lãnh đạo quân sự địa phương: Cung cấp luận cứ khoa học lịch sử cho Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Khánh Hòa, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy trong việc hoạch định chính sách xây dựng khu vực phòng thủ, thế trận quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân tại các địa bàn trọng điểm biển đảo hiện nay.
Câu hỏi thường gặp
1. Trận tập kích mở màn Mặt trận Nha Trang - Khánh Hòa diễn ra vào thời gian nào và các mục tiêu tiến công chính là gì?
Trận tập kích diễn ra vào lúc 3 giờ sáng ngày 23-10-1945, lấy tiếng nổ bộc phá tại cửa hầm xe lửa số 1 (Ngọc Hiệp) làm hiệu lệnh. Các lực lượng tự vệ, công an, trinh sát phối hợp cùng các đơn vị Nam tiến (Lê Trung Đình, Thuận Hóa) đồng loạt tấn công các vị trí chiếm đóng của quân Pháp và Nhật trong thị xã Nha Trang gồm: nhà Ga xe lửa, nhà Đèn, Sở Thuốc, chợ Xóm Mới và kho vũ khí Bình Tân.
2. Phòng tuyến bao vây quân Pháp trong nội thị Nha Trang (1945 - 1946) được bố trí ra sao?
Sau ngày 23-10-1945, quân ta rút ra lập hai tuyến bao vây: Phòng tuyến bờ Bắc sông Cái (từ đồi La San, cầu Xóm Bóng, Tháp Bà, Cù Lao đến Núi Sạn) do Chi đội Nam tiến Lê Trung Đình chốt giữ, có trận địa pháo trên đồi La San khống chế bờ biển; và phòng tuyến Chợ Mới - Bretelles ở phía Tây - Nam do tiểu đoàn tự vệ của Hà Văn Lâu chỉ huy đóng tại Vĩnh Điềm, Ngọc Hội, Kim Bồng, Chợ Mới, Lư Cấm nhằm ngăn chặn quân Pháp mở rộng diện chiếm đóng.
3. Xưởng Quân giới đầu tiên của tỉnh Khánh Hòa được thành lập khi nào, ở đâu và do ai phụ trách?
Xưởng Quân giới Khánh Hòa được thành lập vào tháng 9-1945, đặt tại Đồng Trăn (Vĩnh Xương) trên cơ sở trưng dụng cơ sở chế biến mủ cao su của đồn điền Boulanfot. Xưởng do Nguyễn Xuân Thắng phụ trách, cùng các đồng chí Phan Bá Đồng, Cai Thành Tài (Ban vũ khí: Nguyễn Văn Tạo; Ban rèn: Võ Văn Khôi) và hơn 50 công nhân cơ khí, thợ lành nghề tham gia chế tạo lựu đạn, sửa chữa súng pháo.
4. Tổ chức hành chính của tỉnh Khánh Hòa có sự điều chỉnh nào trong giai đoạn 1950 - 1951?
Tháng 5-1950, 3 xã của huyện Vĩnh Xương nhập vào thị xã Nha Trang thành 3 khu ngoại ô; xã Khánh Xương nhập vào huyện Diên Khánh thành huyện Vĩnh Khánh. Ngày 2-10-1951, theo Nghị định số 2172-MNTB của UBKCHC miền Nam Trung Bộ, hai huyện Ninh Hòa và Vạn Ninh sáp nhập thành liên huyện Bắc Khánh; vùng phía Nam (Nha Trang, Vĩnh Khánh, Ba Ngòi và Thượng du) gọi là vùng Nam Khánh.
5. Luận án đã đúc kết những đặc điểm chủ yếu nào của đấu tranh quân sự tại Khánh Hòa giai đoạn 1945 - 1954?
Luận án chỉ ra 4 đặc điểm nổi bật: (1) Khánh Hòa là nơi "hội quân" của các lực lượng Nam tiến trên cả nước ngay từ những ngày đầu kháng chiến; (2) Tinh thần chủ động tiến công địch là nét quán xuyến xuyên suốt; (3) Lực lượng tham gia tác chiến chủ yếu là bộ đội địa phương và dân quân du kích; (4) Nghệ thuật tác chiến thể hiện sự phong phú về hình thức và linh hoạt về biện pháp chiến thuật trong điều kiện chiến trường sau lưng địch.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Hồ Hải Hưng là công trình nghiên cứu lịch sử chuyên sâu, phản ánh chân thực và có hệ thống toàn bộ tiến trình đấu tranh quân sự của quân và dân tỉnh Khánh Hòa trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954). Tác phẩm đã làm rõ sự kết hợp hiệu quả giữa đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng với điều kiện địa bàn đặc thù vùng sau lưng địch, từ mốc son Mặt trận 101 ngày đêm Nha Trang đến các chiến dịch tiêu hao địch trong Đông Xuân 1953 - 1954. Công trình không chỉ bổ sung nguồn sử liệu xác thực cho lịch sử quân sự địa phương và Liên khu 5 mà còn đúc kết những bài học kinh nghiệm có giá trị thực tiễn trong công tác củng cố thế trận quốc phòng - an ninh hiện nay.