Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Lịch sử Việt Nam của tác giả Phạm Thị Lan, do GS. Đinh Xuân Lâm và PGS. Nguyễn Văn Khánh hướng dẫn tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội (năm 2002), nghiên cứu đề tài: "Sự chuyển biến của phong trào yêu nước chống Pháp ở Thái Bình cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX".

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả xuất phát từ quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng Lao động Việt Nam (1951) về truyền thống nồng nàn yêu nước của dân tộc. Yêu cầu đổi mới đất nước đòi hỏi công tác giáo dục tư tưởng và nghiên cứu lịch sử các phong trào yêu nước chống ngoại xâm phải bổ sung tư liệu mới, làm sáng tỏ trên phương diện lý luận và thực tiễn sự hình thành đường lối cứu nước theo hướng cách mạng vô sản. Về mặt địa bàn, Thái Bình là tỉnh thuần nông nghiệp, bốn bề sông biển, có khó khăn nhất định về tiếp nhận thông tin từ bên ngoài nhưng lại là địa bàn sớm bùng nổ các phong trào đấu tranh yêu nước và cách mạng. Nơi đây thành lập chi bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên vào đầu năm 1927 (chỉ sau Hà Nội), có tổ chức Đảng Cộng sản thành lập sớm (tháng 6 năm 1929) và diễn ra các cuộc biểu tình quy mô lớn của nông dân Tiền Hải, Duyên Hà - Tiên Hưng trong năm 1930. Tuy nhiên, việc nghiên cứu có hệ thống và chuyên sâu về quá trình chuyển biến của phong trào tại địa bàn này trước đó chưa được thực hiện đầy đủ.

Mục đích nghiên cứu của luận án được tác giả xác định gồm ba mục tiêu cụ thể:

  1. Trên cơ sở tìm hiểu bối cảnh hình thành và phát triển của phong trào yêu nước chống Pháp ở Thái Bình, nhận thức được đầy đủ hơn nội dung và bản chất của phong trào.
  2. Làm sáng tỏ khuynh hướng mới của phong trào (gồm nội dung đấu tranh, hình thức biểu hiện) để thấy được sự chuyển biến (về tư tưởng, hình thức) của phong trào yêu nước chống Pháp ở Thái Bình cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX.
  3. Làm rõ thêm các đặc điểm và vị trí của phong trào yêu nước chống Pháp ở Thái Bình trong bối cảnh khu vực Bắc Kỳ giai đoạn này, góp phần phục vụ nhu cầu nghiên cứu thực tiễn và lý luận.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là sự chuyển biến của phong trào yêu nước chống Pháp ở Thái Bình cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX trên bình diện tư tưởng và hình thức biểu hiện.

Phạm vi không gian tập trung tại địa bàn tỉnh Thái Bình trong mối liên hệ với vùng phụ cận Bắc Kỳ. Phạm vi thời gian kéo dài từ năm 1873 đến năm 1930. Năm 1873 đánh dấu thời điểm quân Pháp do Dupré chỉ đạo tiến đánh Bắc Kỳ (thành Hà Nội thất thủ ngày 20/11/1873, thành Nam Định thất thủ ngày 12/12/1873), dẫn đến Hiệp ước Giáp Tuất (1874) buộc quần chúng nhận thức rõ nhiệm vụ chống thực dân Pháp phải gắn liền với chống triều đình phong kiến đầu hàng. Năm 1930 đánh dấu mốc Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, chấm dứt tình trạng khủng hoảng về đường lối cứu nước của phong trào yêu nước tại Thái Bình cũng như trên cả nước.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Trong phần lịch sử nghiên cứu vấn đề, luận án thống kê các nhóm công trình nghiên cứu trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến đề tài:

Nhóm công trình lịch sử và khảo cứu nhân vật thời kỳ cận đại:

  • Phan Bội Châu: Việt Nam vong quốc sử (1905, phần viết về Nguyễn Quang Bích); Phan Bội Châu và Đặng Đoàn Bằng: Việt Nam nghĩa liệt sử (1918, viết về gia đình Nguyễn Hữu Cương).
  • Đào Duy Anh: Lịch sử cách mạng Việt Nam từ 1862 – 1930 (1955).
  • Trần Văn Giàu: Chống xâm lăng (1957).
  • Phạm Văn Thụ: Thái Bình phong vật chí (1900, bản chữ Hán, Phần III: Nhân vật, Phần V: Tình trạng việc đánh dẹp).

Nhóm tài liệu địa chí, khảo cứu quân sự của các tác giả người Pháp:

  • P. Pasquier: Tỉnh Thái Bình (1904, Chương II: Quá trình lịch sử).
  • Grossin: Lịch sử tỉnh Thái Bình.
  • Các công trình chuyên khảo quân sự: Lịch sử đội lính khố xanh Trung – Bắc kỳ (tập 1) và Lịch sử quân sự xứ Đông Dương.

Nhóm công trình nghiên cứu chuyên đề, lịch sử địa phương và dòng họ:

  • Đinh Xuân Lâm: Thái Bình trong phong trào chống xâm lược Pháp nửa sau thế kỷ XIX (1998).
  • Chương Thâu: Đông Kinh Nghĩa thục và phong trào cải cách văn hoá đầu thế kỷ XX (1997).
  • Các tập sách khảo cứu: Danh nhân Thái Bình (tập 1 năm 1986, tập 2 năm 1988, tập 3 năm 1989); Ngàn năm đất và người Thái Bình (1989); Thái Bình truyền thống và hiện tại (1991); Lịch sử Đảng bộ Tỉnh Thái Bình (1927-1954).
  • Các bài nghiên cứu cụ thể: Phạm Xanh viết về dòng họ Nguyễn ở Động Trung; Trần Việt Phương (1994) viết về hoạt động yêu nước liên hệ với Nguyễn Mậu Kiến; Đoàn Ngọc Hân (1994) nghiên cứu về Động Trung cuối thế kỷ XIX; Trần Thị Băng Thanh (1996) nghiên cứu bước chuyển cứu nước từ Cần Vương đến vô sản; Nguyễn Tiến Đoàn (1996) khảo sát quan hệ giữa cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Huy với Nguyễn Hữu Cương và Ngô Quang Đoan; Nguyễn Thanh Vân (1997) viết về kháng chiến trước khi có Đảng; Trương Sỹ Hùng (1997) nghiên cứu mối liên hệ giữa Phan Bội Châu với chí sĩ Thái Bình; Nguyễn Thị Huệ (1999) nghiên cứu hoạt động Đông Kinh Nghĩa thục tại Thái Bình.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả chỉ rõ: Các công trình trước đây chủ yếu giới thiệu danh nhân đơn lẻ, từng dòng họ cụ thể (dòng họ Nguyễn ở Động Trung, dòng họ Ngô ở Trình Phố), hoặc chỉ dừng lại ở việc khái quát diễn biến phong trào yêu nước trong từng giai đoạn ngắn hạn gắn với một làng, thôn nhất định. Chưa có công trình nào nghiên cứu có hệ thống, toàn diện về tiến trình chuyển biến của phong trào trên cả hai phương diện tư tưởng và hình thức đấu tranh, đồng thời phân tích mối quan hệ hữu cơ giữa những biến đổi kinh tế - chính trị - xã hội ở địa phương với sự vận động cứu nước từ lập trường phong kiến sang dân chủ tư sản và lập trường cách mạng vô sản.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án vận dụng nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử trong khoa học lịch sử để xem xét các sự kiện trong mối liên hệ nhân quả và tiến trình vận động cụ thể của xã hội Việt Nam thời thuộc địa.

Phương pháp nghiên cứu chủ yếu được áp dụng là phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc. Bên cạnh đó, tác giả sử dụng các phương pháp bổ trợ gồm: phương pháp lập bản đồ, phương pháp mô tả lịch sử, phương pháp so sánh lịch sử (bao gồm so sánh đồng đại giữa Thái Bình với các địa phương khác ở Bắc Kỳ và so sánh lịch đại qua từng thời kỳ 1873–1896, 1897–1918, 1919–1930).

Nguồn tư liệu nghiên cứu của luận án được khai thác từ bốn nhóm dữ liệu thực tế:

  • Nguồn thư tịch cổ và địa chí chính thống: Các bộ chính sử biên niên của Quốc sử quán triều Nguyễn (Đại Nam thực lục chính biên, Đại Nam nhất thống chí, Đại Nam chính biên liệt truyện); Đại Việt địa dư toàn biên (Nguyễn Văn Siêu); Thái Bình tỉnh thông chí (Phạm Văn Thụ); Đồng Khánh địa dư chí lược.
  • Nguồn tài liệu lưu trữ: Tài liệu chữ Pháp và chữ Hán tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I thuộc "Phông Thống sứ Bắc kỳ" (hồ sơ địa chí, báo cáo cai trị, kinh tế, chính trị, văn hóa) và "Phông Nha kinh lược" (thông báo, bản án đàn áp các thủ lĩnh kháng Pháp); tài liệu lưu trữ tại Cục Lưu trữ Trung ương Đảng; tư liệu tại Thư viện Quốc gia, Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm và Thư viện tỉnh Thái Bình (xã chí, địa bạ, báo cáo thống kê của cơ quan hành chính thời thuộc Pháp).
  • Nguồn tài liệu thực địa: Các bản gia phả (toàn văn và trích lục) của các dòng họ có thân nhân tham gia chống Pháp hoặc tham gia mở mang kinh tế, văn hóa; các tập hồi ký, văn thơ yêu nước, di vật, ảnh tư liệu sưu tầm tại địa phương.
  • Ấn phẩm xuất bản: Sách nghiên cứu, tạp chí chuyên ngành, kỷ yếu khoa học, các luận án tiến sĩ liên quan và các ghi chép của học giả, quan chức thực dân Pháp (như Pierre Pasquier, Grossin).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Bối cảnh kinh tế – chính trị - xã hội của phong trào yêu nước chống Pháp ở Thái Bình cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX

Chương 1 trình bày đặc điểm địa lý, dân cư và những biến động toàn diện về cơ cấu chính trị, kinh tế, xã hội tại địa bàn tỉnh qua hai mốc thời gian: cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX.

Về địa lý và hành chính: Tỉnh Thái Bình được thành lập ngày 21/3/1890 theo nghị định của Toàn quyền Đông Dương từ việc hợp nhất các huyện thuộc tỉnh Nam Định (Đông Quan, Phụ Dực, Quỳnh Côi, Thụy Anh, Thanh Quan, Tiền Hải, Trực Định, Vũ Tiên, Thư Trì) và huyện Thần Khê của Hưng Yên; đến năm 1894 sáp nhập thêm hai huyện Duyên Hà và Hưng Nhân. Toàn tỉnh có diện tích 1.533 km², là tỉnh đồng bằng duy nhất ở Bắc Bộ không có núi, người Kinh chiếm tỷ lệ tuyệt đối.

Tình hình cuối thế kỷ XIX: Năm 1894, toàn tỉnh có 3 phủ, 12 huyện, 95 tổng, 802 làng xã; dân số ghi nhận 161.927 người. Chính quyền thực dân tăng cường bóc lột qua hệ thống thuế khóa và phu phen tạp dịch.

Năm Thuế điền thổ và thuế thân (đồng Đông Dương)
1893 278.732,03
1895 334.118,58
1896 335.362,44
1897 384.926,73
1898 434.957,20
1899 434.961,75

Số tiền thuế năm 1899 tăng gấp rưỡi so với năm 1893. Bên cạnh thuế, người dân phải chịu 48 ngày phu dịch không công mỗi năm. Năm 1894, bình quân cứ 289 người dân Thái Bình thì có 1 người bị cưỡng bức lao động làm đường sắt Phủ Lạng Thương - Lạng Sơn (tháng 5/1894 Thái Bình cung cấp 655 người trên tổng số 4.128 phu của 10 tỉnh Bắc Kỳ). Về ruộng đất năm 1894, toàn tỉnh có 365.783 mẫu (gồm 290.250 mẫu ruộng và 75.533 mẫu đất), phân bố bình quân đầu người không đều: huyện thấp nhất là Trực Định (1,57 mẫu/người), cao nhất là Phụ Dực (3,78 mẫu/người). Tình trạng thiên tai, vỡ đê diễn ra thường xuyên: tháng 7/1892 vỡ đê sông Luộc tại Đại Nẫm (80m), Đế Đô (70m), Ngọc Quế (80m); tháng 7/1894 vỡ đê sông Hồng tại Hưng Nhân (80m), Hải Triều (210m). Thủ công nghiệp mang tính gia đình (dệt vải Bộ La, tơ lụa Bái, chiếu Hải Triều); toàn tỉnh có 108 chợ và 119 bến đò. Về văn hóa, tỉnh có truyền thống khoa bảng với 111 vị đỗ đại khoa từ thời phong kiến đến khoa thi Nho học cuối cùng năm 1919.

Tình hình đầu thế kỷ XX: Bộ máy cai trị của Pháp hoàn thiện với Tòa Công sứ và lực lượng vũ trang đồn trú.

Phân loại lực lượng (tháng 11/1913) Tổng số quân số (người) Phạm vi bố trí chính
Lính khố xanh 135 Tỉnh lỵ (87), đồn Diêm Hộ (15), Bến Hiệp (10), Tân Đệ (10), Ninh Cù (13)
Lính cơ 150 Tỉnh lỵ (59), huyện Kiến Xương (18), Tiền Hải (15), Thư Trì (12), các phủ huyện khác (4 người/nơi)

Số làng xã tăng từ 658 làng (năm 1905) lên 820 làng (năm 1920) phục vụ kiểm soát hành chính. Nông nghiệp tiếp tục chịu sưu thuế nặng và thiên tai: vỡ đê Phú Chử (1913) làm ngập 4 huyện miền nam; vỡ đê sông Trà Lý tại An Để (12/7/1915) làm ngập 11 làng, ngập 1.600 ha. Công nghiệp và thương nghiệp có sự biến chuyển: xuất hiện hai xưởng dệt chiếu lớn Minh Ký và Vạn Sinh tại huyện Hưng Nhân (sử dụng 700 khung dệt, 1.500 thợ, tiêu thụ 90.000 tấn cói, sản xuất 6 triệu kg chiếu/năm để xuất sang Hồng Kông); công ty dệt lụa Đồng Lợi (thành lập tháng 2/1907) và Tư Ích (tháng 4/1908) sáp nhập năm 1911 với cơ sở ươm tơ bằng hơi nước. Tỉnh xuất khẩu hàng năm khoảng 62.000 tấn gạo (1 triệu tạ Xiêm) và 800 kg tơ sống.

Về chuyển biến giai cấp: Dân số tăng nhanh đạt 809.340 người năm 1904; trong 242.200 suất đinh có 34% (82.280 suất) không có ruộng đất tư, phải làm thuê. Tầng lớp địa chủ phát triển, có 110 chủ đất sở hữu từ 50 đến trên 100 mẫu (trong đó 41 địa chủ có trên 100 mẫu, tập trung nhiều nhất tại Tiền Hải, Tiên Hưng, Thái Ninh). Đời sống cơ cực dẫn tới các luồng di dân: nông dân làng Keo ra làm thợ tại Nhà máy xi măng Hải Phòng lập nên xóm đình Đất; năm 1909 có 84 hộ với 328 nhân khẩu xin chuyển vào đồn điền Cần Thơ; năm 1914 Thái Bình cung cấp 908 phu làm đường sắt Bắc Kỳ; năm 1917 điều chuyển hàng trăm người đi mỏ bô-xít Cao Bằng. Sự bần cùng hóa này là nguyên nhân làm sâu sắc mâu thuẫn xã hội, tạo điều kiện tiếp nhận các tư tưởng yêu nước mới.

Chương 2: Những chuyển biến của phong trào yêu nước chống Pháp ở Thái Bình cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX

Chương 2 phân tích sự vận động nội tại của phong trào qua hai phương diện: chuyển biến về hệ tư tưởng và chuyển biến về hình thức đấu tranh.

Về mặt tư tưởng, phong trào trải qua ba bước chuyển nối tiếp:

  • Hệ tư tưởng chủ chiến, ái quốc mang tính trung quân cuối thế kỷ XIX: Lấy lập trường bảo vệ nền độc lập phong kiến làm nền tảng, thể hiện qua sự hưởng ứng phong trào Cần Vương của các sĩ phu, văn thân địa phương dưới sự chỉ huy của các thủ lĩnh quân sự.
  • Hệ tư tưởng dân chủ tư sản đầu thế kỷ XX: Tiếp thu trào lưu tư tưởng tiến bộ từ Tân thư, tác động của phong trào Duy Tân và trào lưu cách mạng tư sản châu Á. Tư tưởng cứu nước chuyển từ mục tiêu khôi phục chế độ quân chủ sang mục tiêu canh tân đất nước, nâng cao dân trí, phát triển kinh tế thương mại và đánh đổ ách đô hộ của thực dân thông qua xu hướng bạo động (Duy Tân hội, Việt Nam Quang phục hội) và xu hướng cải cách (Đông Kinh Nghĩa thục).
  • Hệ tư tưởng vô sản: Thông qua hoạt động của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên từ năm 1925, lý luận cách mạng giải phóng dân tộc theo lập trường Mác - Lênin được truyền bá vào các tầng lớp nhân dân Thái Bình, trực tiếp dẫn đến sự hình thành chi bộ cộng sản đầu tiên và sự lãnh đạo của Đảng bộ địa phương.

Về hình thức đấu tranh, có sự thay đổi rõ nét giữa hai giai đoạn:

  • Giai đoạn cuối thế kỷ XIX: Đấu tranh vũ trang là hình thức chủ yếu. Tiêu biểu là các hoạt động tham gia chiến đấu bảo vệ thành Nam Định (1873 và 1883), khởi nghĩa vũ trang bùng nổ rộng khắp các phủ huyện trong giai đoạn 1885–1896, cùng phong trào vũ trang của Kỳ Đồng - Mạc Đĩnh Phúc.
  • Giai đoạn đầu thế kỷ XX: Xuất hiện các hình thức đấu tranh phong phú, kết hợp công khai và bí mật:
    • Mở trường học nâng cao dân trí và truyền bá tư tưởng mới qua phong trào Nghĩa thục (giai đoạn 1907–1908).
    • Thành lập các hiệu buôn gây quỹ ủng hộ phong trào Đông Du và Đông Kinh Nghĩa thục, đưa người xuất dương sang Nhật Bản và Trung Quốc.
    • Tổ chức hội quần chúng nông dân, chuyển sang đấu tranh kinh tế kết hợp đấu tranh chính trị đòi quyền dân sinh, giảm sưu thuế, phản đối cướp ruộng đất (chuỗi đấu tranh của nông dân năm 1929 và cao trào biểu tình năm 1930).

Chương 3: Nhận xét chung về những chuyển biến trong phong trào yêu nước chống Pháp ở Thái Bình cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX

Chương 3 tổng kết các điều kiện lịch sử, nhân tố thúc đẩy và quy luật phát triển của phong trào tại Thái Bình:

Cơ sở của sự chuyển biến xuất phát từ bốn yếu tố:

  • Sự biến đổi cơ cấu kinh tế - xã hội dưới tác động của chính sách khai thác thuộc địa, làm gia tăng mâu thuẫn giữa nhân dân địa phương với thực dân Pháp và giai cấp địa chủ tay sai.
  • Truyền thống quật cường trong lịch sử trị thủy, khai hoang lấn biển và chống ngoại xâm của cư dân địa phương.
  • Vai trò hạt nhân của tầng lớp trí thức Nho học tiến bộ và các dòng họ khoa bảng giàu truyền thống yêu nước (như dòng họ Nguyễn ở Động Trung, dòng họ Ngô ở Trình Phố) trong việc đóng vai trò cầu nối tiếp nhận và chuyển giao các khuynh hướng cứu nước qua các thế hệ cha - con.
  • Mối liên hệ chặt chẽ và chịu ảnh hưởng trực tiếp từ các trung tâm phong trào công nhân và đô thị phụ cận như Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định.

Đặc điểm chuyển biến:

  • Tính liên tục, kế thừa không đứt đoạn: Phong trào yêu nước tại Thái Bình không bị dập tắt sau thất bại của Cần Vương mà chuyển hóa nhanh chóng sang phong trào duy tân, Đông Du, rồi bước sang phong trào công - nông do Đảng lãnh đạo.
  • Điểm đặc thù về tổ chức: Mặc dù là một tỉnh thuần nông, chưa có các khu công nghiệp tập trung lớn, nhưng Thái Bình đã thành lập Ban Tỉnh ủy Đông Dương Cộng sản Đảng rất sớm (tháng 6/1929). Hệ thống tổ chức cơ sở đảng cắm rễ sâu rộng trong quần chúng nông dân, tạo tiền đề cho các cuộc biểu tình nông dân quy mô lớn trong phong trào cách mạng 1930–1931.

Ưu điểm và hạn chế:

  • Ưu điểm: Động viên được đông đảo quần chúng tham gia, phong trào diễn ra bền bỉ, nhạy bén nắm bắt các trào lưu tư tưởng tiến bộ của thời đại, gắn kết phong trào địa phương với phong trào chung của cả nước.
  • Hạn chế: Thời kỳ đầu cuối thế kỷ XIX còn mang nặng hệ tư tưởng phong kiến; giai đoạn đầu thế kỷ XX các tổ chức kinh tế và trường học nghĩa thục dễ bị chính quyền thực dân phát hiện, đàn áp và đóng cửa; điều kiện địa bàn sông nước chia cắt gây trở ngại cho việc liên lạc thống nhất khi bị khủng bố trắng.

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt khoa học:

  • Luận án là công trình nghiên cứu chuyên khảo đầu tiên phục dựng một cách toàn diện và có hệ thống quá trình vận động, chuyển biến của phong trào yêu nước chống Pháp tại Thái Bình trong suốt hơn nửa thế kỷ (1873–1930).
  • Làm rõ tính quy luật của sự chuyển biến tư tưởng: từ lập trường Cần Vương mang ý thức hệ phong kiến, qua lập trường dân chủ tư sản, đến việc tiếp nhận và khẳng định vai trò lãnh đạo của lập trường cách mạng vô sản.
  • Khai thác, hệ thống hóa và công bố nguồn tư liệu lịch sử lưu trữ từ các phông văn khố thuộc địa Pháp (Phông Thống sứ Bắc Kỳ, Phông Nha kinh lược), tài liệu địa phương (gia phả dòng họ, thơ văn, địa bạ) chưa từng được khai thác đầy đủ trước đó, góp phần làm sáng tỏ lịch sử phong trào yêu nước cận đại Việt Nam nói chung và lịch sử Thái Bình nói riêng.
  • Cung cấp luận cứ khoa học giải thích nguyên nhân một tỉnh nông nghiệp không có giai cấp công nhân tập trung lại có thể thành lập tổ chức cộng sản từ tháng 6 năm 1929 và phát động phong trào nông dân mạnh mẽ năm 1930.

Về mặt thực tiễn và kiến nghị:

  • Luận án đóng góp tư liệu phục vụ công tác nghiên cứu, biên soạn bộ lịch sử tỉnh Thái Bình và lịch sử Đảng bộ địa phương.
  • Cung cấp tài liệu giáo dục truyền thống yêu nước, lòng tự hào quê hương cho các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ.
  • Tác giả đề xuất bài học thực tiễn: Khơi dậy truyền thống yêu nước, củng cố khối đại đoàn kết xóm làng và dòng họ để vận dụng vào phong trào thi đua lao động sản xuất, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn tại địa phương trong giai đoạn hiện nay.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế:

  • Luận án thừa nhận việc thu thập tài liệu thống kê có hệ thống về kết quả khai hoang phục hóa của tỉnh ở một số giai đoạn đầu thế kỷ XX còn gặp khó khăn do nguồn thư tịch lưu trữ không đồng bộ.
  • Do phạm vi giới hạn trong giai đoạn 1873–1930 và tập trung vào địa bàn tỉnh Thái Bình, công trình chưa mở rộng nghiên cứu sâu về sự tương tác đa chiều với các trung tâm phong trào ở Trung Kỳ và Nam Kỳ.

Về hướng nghiên cứu tiếp:

  • Khai thác bổ sung các nguồn tư liệu lưu trữ địa phương và hồ sơ địa chính để làm rõ hơn diện mạo kinh tế nông nghiệp Thái Bình thời kỳ thuộc địa.
  • Mở rộng so sánh đối sánh mô hình chuyển biến phong trào yêu nước của Thái Bình với các tỉnh thuần nông nghiệp khác ở vùng đồng bằng Bắc Bộ trong cùng tiến trình lịch sử.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu chuyên khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng nghiên cứu và công tác thực tiễn:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên và giảng viên chuyên ngành Lịch sử Việt Nam cận - hiện đại, Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam: Cung cấp khung phân tích cụ thể về sự chuyển hóa từ phong trào Cần Vương sang khuynh hướng vô sản tại một địa phương đồng bằng.
  • Nhà nghiên cứu lịch sử địa phương và người làm công tác tuyên giáo, văn hóa tại Thái Bình: Cung cấp tư liệu chuẩn xác về danh nhân, địa bạ, hành chính và các tổ chức yêu nước địa phương.
  • Các phần có giá trị tham khảo cao:
    • Hệ thống dữ liệu thống kê Chương 1 về thuế khóa (Bảng 1.1), phân bổ đất đai (Bảng 1.2), tổ chức quân sự lính khố xanh và lính cơ (Bảng 1.4, 1.5), và danh sách sở hữu ruộng đất của địa chủ lớn (Bảng 1.8).
    • Phương pháp khảo cứu gia phả dòng họ (dòng họ Nguyễn ở Động Trung, dòng họ Ngô ở Trình Phố) kết hợp đối chiếu văn bản hành chính lưu trữ Pháp để xác minh bước chuyển tư tưởng giữa các thế hệ sĩ phu và thanh niên cách mạng.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án giải thích thế nào về việc Thái Bình là tỉnh thuần nông nghiệp nhưng lại thành lập Ban Tỉnh ủy Đông Dương Cộng sản Đảng rất sớm (tháng 6/1929)?

Luận án chỉ rõ hiện tượng này xuất phát từ ba nguyên nhân cụ thể: Thứ nhất, Thái Bình có truyền thống kháng Pháp liên tục, không đứt đoạn từ thời Cần Vương, Đông Du đến Nghĩa thục, nơi hội tụ nhiều yếu nhân yêu nước. Thứ hai, sự truyền bá sớm của tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên (thành lập chi bộ đầu năm 1927, chỉ sau Hà Nội) với số lượng hội viên đông đảo, tổ chức hoàn chỉnh từ tỉnh bộ, huyện bộ đến chi bộ cơ sở, có hệ thống giao thông liên lạc và cơ quan in báo riêng. Thứ ba, sự bần cùng hóa gay gắt của nông dân do mất ruộng đất, sưu cao thuế nặng và thiên tai khiến mâu thuẫn dân tộc và giai cấp ở nông thôn trở nên sâu sắc, tạo mảnh đất thuận lợi cho lý luận cách mạng vô sản bén rễ.

2. Quá trình chuyển biến về hình thức đấu tranh chống Pháp tại Thái Bình diễn ra qua những bước cụ thể nào?

Cuối thế kỷ XIX, hình thức chủ yếu là khởi nghĩa vũ trang (chiến đấu tại thành Nam Định năm 1873 và 1883, phong trào Cần Vương giai đoạn 1885–1896 khắp các phủ huyện, phong trào Kỳ Đồng - Mạc Đĩnh Phúc). Sang đầu thế kỷ XX, hình thức đấu tranh chuyển biến đa dạng: mở trường học canh tân nâng cao dân trí (Đông Kinh Nghĩa thục 1907–1908), lập các hiệu buôn để gây quỹ tài chính, tổ chức xuất dương du học (Đông Du, Việt Nam Quang phục hội), và phát triển phong trào biểu tình, bãi công, bãi thị đòi quyền lợi kinh tế, dân sinh dân chủ của quần chúng nhân dân.

3. Vai trò của các dòng họ tiêu biểu trong sự chuyển biến tư tưởng tại Thái Bình được luận án phản ánh ra sao?

Luận án khẳng định vai trò cầu nối lịch sử của các dòng họ khoa bảng yêu nước, tiêu biểu là dòng họ Nguyễn ở Động Trung (huyện Kiến Xương) và dòng họ Ngô ở Trình Phố (huyện Tiền Hải). Sự chuyển biến diễn ra trực tiếp qua các thế hệ trong cùng một gia đình: cha ông tham gia lãnh đạo phong trào Cần Vương chống Pháp, thế hệ con cháu tiếp thu tư tưởng canh tân duy tân của Phan Bội Châu, sau đó nhanh chóng giác ngộ chủ nghĩa Mác - Lênin và gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, trở thành những cán bộ cộng sản đầu tiên của tỉnh.

4. Dưới góc độ kinh tế - xã hội, những nhân tố mới nào xuất hiện ở Thái Bình đầu thế kỷ XX tác động đến phong trào cách mạng?

Nông thôn Thái Bình đầu thế kỷ XX xuất hiện sự phân hóa giai cấp sâu sắc: 34% số đinh không có ruộng đất tư, trong khi 110 địa chủ lớn chiếm hữu diện tích lớn từ 50 đến trên 100 mẫu. Về công - thương nghiệp, xuất hiện các cơ sở sản xuất quy mô lớn như xưởng dệt chiếu Minh Ký, Vạn Sinh (1.500 thợ), hãng dệt lụa Đồng Lợi và Tư Ích (sử dụng máy hơi nước), cùng mạng lưới thương mại với 108 chợ. Sự xuất hiện của các cơ sở tiểu công nghiệp và tình trạng nông dân bị bần cùng hóa phải di chuyển làm phu mỏ, phu đồn điền, thợ xi măng đã thúc đẩy việc hình thành ý thức phản kháng có tổ chức.

Kết luận

Luận án của tác giả Phạm Thị Lan đã phục dựng một cách toàn diện tiến trình chuyển biến của phong trào yêu nước chống Pháp ở Thái Bình từ năm 1873 đến năm 1930 trên cả hai bình diện tư tưởng và hình thức đấu tranh. Dựa trên nguồn tư liệu lưu trữ và điền dã phong phú, công trình làm sáng tỏ cơ sở kinh tế, chính trị, xã hội dẫn đến sự vận động cứu nước từ lập trường Cần Vương qua khuynh hướng dân chủ tư sản đến lập trường vô sản. Luận án cung cấp luận cứ khoa học giải thích nét đặc thù về sự ra đời sớm của tổ chức cơ sở Đảng Cộng sản tại một địa bàn thuần nông nghiệp. Công trình có giá trị học thuật và thực tiễn đối với công tác nghiên cứu lịch sử địa phương cũng như lịch sử phong trào giải phóng dân tộc Việt Nam cận - hiện đại.