Tổng quan nghiên cứu

Giai đoạn trị vì 35 năm của vua Tự Đức từ năm 1848 đến năm 1883 là thời kỳ bản lề đầy biến động trong suốt 143 năm tồn tại của triều Nguyễn. Đứng trước sự xâm lược của chủ nghĩa tư bản phương Tây với phát súng đầu tiên tại cửa biển Đà Nẵng vào năm 1858, nền ngoại giao Việt Nam buộc phải vận hành trong thế giằng co phức tạp giữa ba bên: triều đình Huế, nhà Mãn Thanh và thực dân Pháp. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm tập trung vào việc làm sáng tỏ sự chuyển biến trong chính sách ngoại giao của triều Nguyễn đối với Trung Quốc và Pháp, từ mối bang giao truyền thống phương Đông sang tình thế ứng phó với họa ngoại xâm phương Tây.

Mục tiêu cụ thể của công trình là phân tích hệ thống quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam với hai nước lớn trong hai giai đoạn: giai đoạn 1848 – 1858 duy trì bang giao hòa hiếu truyền thống và giai đoạn 1858 – 1883 đương đầu với chiến tranh thực dân. Phạm vi nghiên cứu bao quát toàn bộ các hoạt động tiếp sứ, cử sứ bộ, ký kết các hiệp ước và các cuộc điều đình quân sự diễn ra trên địa bàn từ kinh đô Huế, Bắc Kỳ đến biên giới Lưỡng Quảng và thủ đô Yên Kinh.

Nghiên cứu mang ý nghĩa học thuật sâu sắc khi làm rõ nguyên nhân gốc rễ dẫn đến việc triều đình Huế lần lượt ký kết các hiệp ước bất bình đẳng, tiêu biểu là Hiệp ước Nhâm Tuất năm 1862 gồm 12 điều khoản và Hiệp ước Quý Mùi năm 1883 gồm 27 điều khoản. Qua việc đối chiếu hơn 20 nguồn tài liệu chính sử song phương, luận văn cung cấp các chỉ số tin cậy về tần suất đi sứ, quy mô viện binh và tác động trực tiếp của các quyết sách ngoại giao đến sự tồn vong của quốc gia.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng trên nền tảng lý thuyết quan hệ quốc tế truyền thống Đông Á và lý thuyết cân bằng quyền lực địa chính trị. Trọng tâm là mô hình trật tự thế giới Hoa Hạ với cấu trúc Thiên triều – Phiên thuộc, dựa trên hệ tư tưởng Nho giáo và nguyên tắc "nội xưng đế, ngoại xưng vương" để giữ vững quyền tự chủ thực tế. Đồng thời, nghiên cứu vận dụng lý thuyết chính trị thực tế nhằm đánh giá chiến lược "ngoại giao pháo hạm" của Pháp cùng chính sách "hoài nhu viễn phương" của nhà Thanh.

Các khái niệm then chốt được chuẩn hóa bao gồm: chế độ triều cống sắc phong với chu kỳ 4 năm một lần theo điển chế năm 1839; tư tưởng Nho gia "nội hạ ngoại di"; trạng thái nửa độc lập nửa phụ thuộc trong quan hệ nước lớn nước nhỏ; chính sách bế quan tỏa cảng và biện pháp cầu viện quân sự nước ngoài.

Phương pháp nghiên cứu

Công trình kết hợp phương pháp lịch sử và phương pháp logic nhằm tái hiện các sự kiện theo trình tự thời gian 1848 – 1883, đặt trong tương quan với bối cảnh kinh tế, chính trị và xã hội đương thời. Phương pháp phân tích, đối chiếu và thống kê sử liệu được sử dụng để kiểm chứng độ xác thực của các văn bản ngoại giao song phương.

Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm hệ thống tư liệu đồ sộ với 38 tập của bộ Đại Nam thực lục chính biên, trong đó khảo sát chuyên sâu 8 tập từ tập XXVII đến tập XXXV biên soạn riêng về triều Tự Đức; 262 quyển của bộ Khâm Định Đại Nam hội điển sử lệ, trọng tâm là 5 quyển từ quyển 128 đến quyển 132 thuộc mục Bang giao; 4 tập Đại Nam chính biên liệt truyện; cùng 4 quyển tư liệu dịch trích lục từ bộ Đại Thanh thực lục thuộc các đời vua Gia Khánh, Đạo Quang, Đồng Trị và Quang Tự.

Phương pháp chọn mẫu có chủ đích theo trục biên niên và sự kiện lịch sử trọng điểm được áp dụng nhằm thu thập toàn bộ các văn bản hành chính như tấu sớ, chiếu dụ, biểu văn và nhật ký đi sứ. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là để giải quyết sự sai lệch về góc nhìn giữa chính sử nhà Nguyễn, chính sử nhà Thanh và tư liệu lưu trữ của Pháp, mang lại tính khách quan khoa học cao nhất.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, luận văn phát hiện sự thay đổi quan trọng về vị thế ngoại giao ngay đầu triều Tự Đức. Năm 1849, triều đình Huế đã đàm phán thành công để khâm sứ nhà Thanh là Lao Sùng Quang lần đầu tiên vào tận kinh đô Huế làm lễ tuyên phong, chấm dứt thông lệ cử sứ thần tiếp nhận sắc phong tại Thăng Long từ thời Lê đến các triều vua Gia Long, Minh Mạng và Thiệu Trị. Sự kiện này khẳng định tính chính thống của kinh đô mới Phú Xuân và sự độc lập hoàn toàn với chế độ cũ.

Thứ hai, trong giai đoạn 1858 – 1883, triều đình Huế đã cử 6 đoàn sứ bộ sang Trung Quốc vào các năm 1868, 1870, 1873, 1876, 1880 và 1882. Nghiên cứu xác định rõ mốc thời gian triều đình Tự Đức chính thức thông báo cho nhà Thanh về cuộc xâm lăng của Pháp là vào mùa đông năm 1870 qua sứ bộ của Nguyễn Hữu Lập, chứ không phải năm 1882 như một số học giả quốc tế từng nhận định.

Thứ ba, nghiên cứu làm sáng tỏ tình trạng phức tạp tại biên giới phía Bắc khi các toán thổ phỉ tàn quân Thái Bình Thiên Quốc tràn sang từ sau năm 1860. Có những toán giặc lên tới hơn 10.000 người như liên minh Mông Hùng Thạc và Hoàng Anh tại Tuyên Quang, hoặc hơn 2.000 quân của Lý Hợp Thắng tại Cao Bằng năm 1862. Triều đình Huế buộc phải yêu cầu nhà Thanh cử đề đốc Phùng Tử Tài đem 31 quân doanh sang biên giới phối hợp tiễu trừ vào năm 1870, mở đầu cho sự can thiệp quân sự trực tiếp của quân Thanh tại Bắc Kỳ.

Thứ tư, chính sách ngoại giao cầu viện Mãn Thanh mang tính thỏa hiệp đã làm suy giảm sức chiến đấu tự chủ của dân tộc, khiến triều đình lần lượt ký Hiệp ước 1874 thừa nhận Pháp chiếm lục tỉnh Nam Kỳ và Hiệp ước 1883 công nhận nền bảo hộ của Pháp.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của các quyết sách ngoại giao thời Tự Đức xuất phát từ sự trói buộc của tư tưởng Nho giáo chính thống, luôn coi Trung Quốc là trung tâm văn minh thế giới dù nhà Thanh lúc đó đã suy yếu nghiêm trọng sau hai cuộc Chiến tranh thuốc phiện (1839 – 1842 và 1856 – 1860). Triều đình Huế đã không nhận thức được bản chất thỏa hiệp phân chia quyền lợi giữa thực dân Pháp và nhà Thanh.

So sánh với các nghiên cứu của học giả Pháp và Nhật Bản, công trình đã chứng minh rằng Tự Đức không hề mù quáng hay thụ động tuyệt đối. Triều đình đã liên tục phái các đoàn công cán sang Hương Cảng, Áo Môn và Quảng Đông như đoàn của Phạm Phú Thứ năm 1863, Đặng Huy Trứ năm 1865 và 1867, hay Lê Đĩnh năm 1881 để do thám tình hình thế giới và tìm mua vũ khí. Tuy nhiên, sự do dự và thiếu nhất quán của vua Tự Đức đã khiến các bản điều trần canh tân bị bác bỏ.

Toàn bộ diễn biến bang giao và mức độ can thiệp quân sự qua từng mốc lịch sử có thể được trực quan hóa thông qua bảng thống kê niên biểu các sứ bộ hoặc biểu đồ cột so sánh tần suất đi sứ trước và sau năm 1858. Biểu đồ đường thời gian cũng giúp phân định rõ ràng 3 giai đoạn ngoại giao: phòng thủ thụ động (1848 – 1858), thỏa hiệp nhượng bộ (1858 – 1874) và cầu viện chuyển giao (1874 – 1883).

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, nâng cao năng lực phân tích chiến lược địa chính trị đa phương bằng cách thiết lập cơ chế giám sát và dự báo biến động quốc tế định kỳ 6 tháng một lần. Mục tiêu đạt 100% độ chính xác trong nhận diện các nguy cơ ngoại giao, do Cục Hợp tác Quốc tế và các cơ quan tham mưu đối ngoại hoàn thiện trong giai đoạn 2026 – 2028.

Thứ hai, đổi mới chương trình đào tạo và bồi dưỡng cán bộ ngoại giao thông qua việc tích hợp 15 bài học lịch sử đàm phán độc lập tự chủ từ thời Nguyễn vào giáo trình chuyên ngành. Kế hoạch yêu cầu 100% học viên ngoại giao nắm vững kỹ năng xử lý quan hệ với các nước lớn, thực hiện liên tục trong lộ trình 2026 – 2027 dưới sự chủ trì của Học viện Ngoại giao.

Thứ ba, triển khai chương trình số hóa toàn diện 100% hệ thống Châu bản, văn bản ngoại giao và tư liệu đi sứ thời Nguyễn trong vòng 24 tháng, từ năm 2026 đến năm 2028. Đơn vị phụ trách chính là Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước phối hợp cùng Viện Sử học nhằm cung cấp kho dữ liệu mở phục vụ nghiên cứu và đấu tranh bảo vệ chủ quyền.

Thứ tư, xây dựng ít nhất 5 đề tài nghiên cứu cấp quốc gia về sự phối hợp giữa bảo vệ an ninh biên giới và hoạt động đối ngoại hòa bình trong thời kỳ hội nhập. Dự án triển khai trong thời gian 3 năm từ 2026 đến 2029 do Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam điều phối thực hiện.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm giảng viên, nghiên cứu viên chuyên ngành Lịch sử Việt Nam và Quan hệ Quốc tế: Cung cấp nguồn sử liệu chính xác từ 38 tập chính sử và tư liệu dịch từ Thanh sử, hỗ trợ biên soạn giáo trình và các bài viết học thuật chuyên sâu.

Nhóm cán bộ hoạch định chính sách và công tác ngoại giao: Rút ra 5 bài học đắt giá về việc duy trì tính độc lập tự chủ, tránh dựa dẫm vào các thế lực bên ngoài và linh hoạt trong đàm phán đa phương thời kỳ hiện đại.

Nhóm học viên cao học và sinh viên các khối ngành Khoa học Xã hội: Sử dụng làm tài liệu tham khảo mẫu mực về phương pháp đối chiếu sử liệu song phương và kỹ thuật phân tích sự kiện lịch sử theo trục thời gian.

Nhóm chuyên gia phân tích chiến lược an ninh quốc phòng: Cung cấp case study thực tế về mối liên hệ hữu cơ giữa an ninh biên giới đất liền, quản lý hải đảo ven biển và chính sách đối ngoại quốc gia.

Câu hỏi thường gặp

Triều đình Tự Đức duy trì lệ triều cống 4 năm một lần với nhà Thanh nhằm mục đích gì? Mục đích chính là giữ gìn hòa khí biên cương và khẳng định tính chính thống của vương triều phong kiến theo quy tắc bang giao truyền thống phương Đông. Theo điển chế từ năm 1839, triều đình vẫn gửi cống phẩm định kỳ nhằm duy trì danh nghĩa Thiên triều bảo hộ nhưng vẫn bảo đảm quyền độc lập tự trị trong nội bộ.

Triều đình Huế chính thức cầu viện nhà Thanh chống thực dân Pháp vào năm nào? Từ năm 1870, triều đình Huế đã thông báo tình hình quân Pháp chiếm 6 tỉnh Nam Kỳ cho nhà Thanh qua sứ bộ Nguyễn Hữu Lập. Đến năm 1880 và chính thức là năm 1882 qua phái đoàn Phạm Thận Duật tại Thiên Tân, triều đình mới chính thức yêu cầu nhà Thanh giúp đỡ giải quyết vấn đề quân sự trước sức ép của Pháp tại Bắc Kỳ.

Ý nghĩa của sự kiện tiếp khâm sứ Lao Sùng Quang tại kinh đô Huế năm 1849 là gì? Đây là dấu mốc khẳng định sự công nhận hoàn toàn của nhà Thanh đối với triều Nguyễn đóng đô ở Phú Xuân thay vì Thăng Long như các thời kỳ trước. Nghi lễ diễn ra ngày 22 tháng 7 năm 1849 giúp tiết kiệm chi phí tuần du Bắc Hà và nâng cao uy tín ngoại giao của vua Tự Đức.

Thổ phỉ biên giới phía Bắc đã ảnh hưởng như thế nào đến nền ngoại giao thời Tự Đức? Từ sau năm 1860, tàn quân nông dân từ Trung Quốc như toán quân hơn 10.000 người của Mông Hùng Thạc tràn sang cướp phá các tỉnh Tuyên Quang, Cao Bằng, Lạng Sơn. Triều đình Huế buộc phải nhờ 31 quân doanh của tướng Phùng Tử Tài sang giúp tiễu trừ, vô tình tạo điều kiện cho quân Thanh chiếm đóng và can thiệp sâu vào nội bộ nước ta.

Vì sao các bản điều trần cải cách canh tân đất nước thời Tự Đức không được thực thi? Dù các sứ thần như Đặng Huy Trứ năm 1868 hay Lê Đĩnh năm 1881 đã gửi nhiều bản điều trần tiến bộ sau khi công cán ở Hương Cảng, triều đình Tự Đức vẫn mang nặng tư tưởng bảo thủ Nho giáo. Sự nghi ngại văn minh phương Tây cùng tâm lý ỷ lại vào Mãn Thanh đã làm đình trệ toàn bộ các đề xuất cải cách.

Kết luận

  • Luận văn đã phục dựng toàn diện bức tranh ngoại giao Việt Nam với Trung Quốc và Pháp dưới triều Tự Đức qua 35 năm biến động lịch sử.
  • Phân tích bản chất của quan hệ triều cống sắc phong truyền thống và chỉ rõ sự chuyển đổi mang tính lịch sử sang hình thức ngoại giao cầu viện đối phó ngoại xâm.
  • Khai thác và đối chiếu hệ thống sử liệu phong phú gồm 38 tập Đại Nam thực lục cùng các nguồn tư liệu chính thống của nhà Thanh và văn thư Pháp.
  • Đúc kết bài học lịch sử sâu sắc về việc kiên định độc lập tự chủ và tránh tư tưởng ỷ lại vào các cường quốc trong quan hệ quốc tế.
  • Mở ra hướng nghiên cứu mới về sự tương tác đa phương giữa các quốc gia Đông Á trước làn sóng bành trướng của chủ nghĩa thực dân phương Tây trong nửa cuối thế kỷ XIX.

Đóng góp lớn nhất của công trình là làm sáng tỏ trách nhiệm lịch sử của triều đình Huế và tái định vị các mốc thời gian bang giao quan trọng bằng cứ liệu khoa học xác thực. Trong lộ trình nghiên cứu tiếp theo giai đoạn 2026 – 2028, các nhà khoa học cần tiếp tục mở rộng khai thác hệ thống tư liệu đa ngữ nhằm hoàn thiện bức tranh toàn cảnh về lịch sử ngoại giao cận đại. Hãy áp dụng ngay những bài học lịch sử quý báu này vào công tác nghiên cứu, giảng dạy và thực tiễn đối ngoại để xây dựng nền ngoại giao Việt Nam hiện đại, tự cường và hội nhập bền vững.