Chương 1 QUAN HỆ NGOẠI GIAO GIỮA VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC DƯỚI THỜI TỰ ĐỨC (1848 – 1883) 1.1 Vài nét về quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc từ thời Gia Long đến Thiệu Trị Đã có khá nhiều tác giả khi nghiên cứu về các vấn đề lịch sử Việt Nam, hay về lịch sử ngoại giao Việt Nam với Trung Quốc đã ít nhiều đề cập đến quan hệ Việt - Trung nửa đầu thể kỷ XIX. Nhưng hầu hết các tác giả đều tập trung phân tích ý nghĩa của việc sắc phong và triều cống giữa triều Nguyễn và triều Thanh để tìm hiểu bản chất mối quan hệ giữa hai nhà nước phong kiến Việt Nam và Trung Quốc. Chúng ta không phủ nhận rằng ở nửa đầu thế kỷ XIX, trong mối quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc, thì một trong những nét quan trọng nhất là vấn đề sắc phong và triều cống- đặc trưng căn bản của quan hệ ngoại giao Việt –Trung trong lịch sử phong kiến. Đề cập đến đặc trưng căn bản này, các nhà nghiên cứu đều tập trung vào một số điểm: - Lý giải nguyên nhân vì sao các triều đại phong kiến Việt Nam thường xuyên phải xin cầu phong và chịu triều cống đối với Trung Hoa.
Việt Nam là một nước nhỏ, ở cạnh Trung Quốc lớn hơn nhiều lần và là một đế chế luôn nuôi ý đồ thôn tính Việt Nam. Để tồn tại độc lập và sống hoà mục, các triều đại Việt Nam đều phải chịu “thần phục” Trung Hoa. Điều này, Phan Huy Chú cũng đã từng viết ở thế kỷ XIX: “Nước Việt ta cõi đất ở phương Nam mà 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thông hiếu với Trung Quốc, tuy nuôi dân dựng nước có quy mô riêng, nhưng ở trong thì xưng đế mà đối ngoại thì xưng vương vẫn chịu phong hiệu, xét lý thực phải như thế”[7; 135]. Mặt khác, các triều đại phong kiến Việt Nam đặc biệt là từ triều Lê trở đi, hầu hết đều chịu ảnh hưởng sâu sắc học thuyết Khổng Mạnh, với hệ tư tưởng cốt lõi là Thiên mệnh, trong đó Thiên tử thay trời trị dân, thống trị các nước chư hầu và thuộc quốc, cho nên các triều đại Việt Nam đều coi Trung Quốc là Thiên triều.
- Xin phong vương và triều cống Trung Hoa là một dạng quan hệ đặc biệt giữa nước nhỏ với nước lớn. Việc được Trung Quốc sắc phong có ý nghĩa khẳng định tính chính thống của một ông vua, hay một triều đại mới được thiết lập. Đồng thời nó còn khẳng định sự hợp pháp của triều đại đó đối với Thiên triều, Thiên triều có nghĩa vụ bảo vệ an ninh, toàn vẹn lãnh thổ cho quốc gia được phong vương, không thể vô cớ tự đem quân sang xâm chiếm. - Nhận Trung Quốc là Thiên triều và chịu sự thần phục, nhưng điều đó chỉ trên danh nghĩa, còn thực tế, các triều đại Việt Nam đều giữ vững quyền tự trị độc lập của mình.
- Đây là sự thể hiện đường lối đối ngoại mềm dẻo,“lấy nhu thắng cương”của Việt Nam mà triều đại phong kiến nào cũng áp dụng trong ứng xử với Trung Quốc. Đến đầu thế kỷ XIX, trong mối quan hệ Việt Nam và Trung Quốc, có thể nói những biểu hiện trên vẫn còn nguyên giá trị của nó. Trong Hội điển của triều Nguyễn đã quy định rất chặt chẽ, cụ thể những nghi thức trong quan hệ bang giao với nhà Thanh. Cho đến trước năm 1858 khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, các vua Nguyễn đều thực hiện rất đầy đủ các nghi thức trong việc xin phong và triều cống các triều đình phong kiến Trung Hoa.
17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Dưới triều Nguyễn, mối quan hệ truyền thống với Trung Quốc vẫn được thực hiện chủ yếu thông qua các đoàn sứ bộ. Ghi chép trong chính sử triều Nguyễn cho biết các đoàn sứ bộ dưới ba triều vua Gia Long, Minh Mệnh và Thiệu Trị diễn ra như sau: Bảng 1: Các đoàn Sứ bộ được cử sang Trung Hoa từ năm 1802 đến 1847 Năm Sứ bộ Mục đích đi sứ Nhâm Tuất Chánh sứ: Trịnh Hoài Đức Mang dấu ấn vàng và sắc phong (1802) Phó sứ: Ngô Nhâm Tĩnh mà nhà Thanh phong cho triều Huỳnh Ngọc Uẩn Tây Sơn sang trả. Báo tin Nguyễn Ánh chiến thắng Tây Sơn lập triều đại mới Giao nộp cho nhà Thanh 3 tên cướp biển người Tàu [48; 495] Chánh sứ: Lê Quang Định Xin phong vương cho vua Gia Phó sứ: Lê Chánh Lộ Long và xin đổi tên nước ta thành Nguyễn Gia Cát Nam Việt. Vua nhà Thanh chuẩn cho tên nước là Việt Nam.
[78; 306] Giáp Tý Chánh sứ: Lê Bán Khâm Tạ ơn việc nhà Thanh cử Tề Bố (1804) Phó sứ: Trần Minh Nghĩa Sâm sang phong vương cho vua Nguyễn Đăng Đệ Gia Long [78; 306] Kỷ Tỵ Chánh sứ: Nguyễn HữuThiện Tuế cống theo lệ[48; 748] (1809) Phó sứ: Ngô Vị Lê Đắc Tần Chánh sứ: Vũ Trịnh Mừng lễ ngũ Tuần Đại khánh của Phó sứ: Nguyễn Đình Chất vua Gia Khánh [78; 307] Nguyễn Văn Thinh 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Quý Dậu Chánh sứ: Nguyễn Du Tuế cống theo lệ [78; 307] (1813) Phó sứ: Trần Văn Đại Nguyễn Văn Phong Đinh Sửu Chánh sứ: Hồ Công Thuận Tuế cống theo lệ (1817) Phó sứ: Nguyễn Huy Trinh [78; 307] Phan Huy Thực Kỷ Mão Chánh sứ: Nguyễn XuânTình Mừng lễ lục tuần Đại Khánh của (1819) Phó sứ: Đinh Phiên vua Gia Khánh [78; 307] Nguyễn Hựu Bổng Canh Thìn Chánh sứ: Ngô Vị Báo tang vua Gia Long và xin (1820) Phó sứ: Trần Bá Kiên phong vương cho vua Minh Hoàng Văn Thịnh Mạng[78; 307] Ất Dậu Chánh sứ: Hoàng Kim Hoán Tạ ơn việc nhà Thanh cử tổng đốc (1825) Phó sứ: Phan Huy Chú Quảng Tây là Phan Cung Thân Trần Chẩn sang phong vương cho Minh Mạng năm 1821[51;91] Chánh sứ: Hoàng Văn Quyền Tuế cống theo lệ[51;91] Phó sứ: Nguyễn Trọng Vũ Nguyễn Hựu Nhân Kỷ Sửu Chánh sứ Nguyễn Trọng Vũ Tuế cống theo lệ[78;308] ( 1829) Phó sứ: Nguyễn Đình Tân Đặng Văn Khải Tân Mão Chánh sứ: Hoàng Văn Đản Mừng lễ Ngũ Tuần đại khánh Vua (1831) Phó sứ: Trương Hảo Hợp Đạo Quang Phan Huy Chú [78;308] 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Quý Tỵ Chánh sứ: Trần Văn Trung Tuế cống theo lệ[78;309] (1837) Phó sứ: Phan Thanh Giải Nguyễn Huy Chiểu Đinh Dậu Chánh sứ: Phạm Thế Trung Tuế cống theo lệ[78;309] (1840) Phó sứ: Nguyễn Đức Hoạt Nguyễn VănNhượng Tân Sửu Chánh sứ: Lý Văn Phức Báo tang vua Minh Mạng và xin (1841) Phó sứ: Nguyễn Đức Hoạt phong cho vua Thiệu Trị [78;309] Bùi Phụ Phong Ất Tỵ Chánh sứ: Trương Hảo Hợp Tạ ơn việc nhà Thanh cử Bảo (1845) Phó sứ: Phạm Chi Hương Thang sang tuyên phong cho vua Vương Hữu Quang Thiệu Trị vào năm 1842 [78;310] Như vậy, vua Nguyễn nào lên ngôi, việc làm trước hết cũng là cử một đoàn sứ bộ sang Trung Hoa xin được sắc phong. Theo cách đánh giá của một giám mục phương Tây: “Lễ phong sắc đem lại uy quyền cho vua An Nam. Trước khi phong sắc, vua An Nam chỉ mang tên quốc trưởng (người đứng đầu trong nước) hay là (thủ lĩnh của nước) hay cũng chỉ là vương, hay vua là cùng. Khi đã được phong sắc các vua ở Huế tự xưng là Hoàng Đế”[88; 311] Khác với các vương triều trước đó thường thiết lập sau khi giành được thắng lợi trong công cuộc chống giặc ngoại xâm hay phong trào giải phóng dân tộc, nhờ đó khẳng định được tính chính thống của mình trước nhân dân, còn triều Nguyễn đã vấp phải lòng trung thành của hầu hết các nho sĩ cũng như nhân dân Bắc Hà đối với triều Lê.
Bởi vậy, để khẳng định tính chính thống của mình, việc được Thiên triều Trung Hoa sắc phong như các triều đại trước càng trở nên có ý nghĩa và cần thiết. Ở một mặt nào đó, việc sắc phong này cũng có nghĩa là công nhận sự sụp đổ hoàn toàn của triều đại Tây Sơn. 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ghi chép của L.Cadierè trong Hội truyền giáo Paris cho biết: “Năm 1802, khi chiếm được Huế, thì vua tóm ngay được các ấn tín và sắc vàng của Tây Sơn vì hấp tấp chạy mà bỏ sót lại. Gia Long gửi cho Bắc Kinh.
Kết quả cuộc vận động này rất nhanh: Tây Sơn đã bị tuyên bố thất bại”[88;307]. Trong Đại Nam cũng cho biết, năm 1802 “vua đã cùng bầy tôi bàn việc thông sứ với nước Thanh. Vua cho rằng: Nước ta tuy cũ nhưng mệnh đã đổi mới…Nay bắt được ấn sách của giặc Tây Sơn là do nhà Thanh phong cho…ta có thể sai người đưa sang trả trước và đem việc Bắc phạt báo cho họ biết, đợi khi bình định được Bắc Hà sẽ nối lại việc bang giao cũ thì khéo hơn”[48; 495]. Cũng trong năm 1802, nhà vua đã cử hai đoàn sứ thần sang nhà Thanh để trao trả quốc ấn, sắc phong của Tây Sơn trước kia và để xin phong vương cho mình.
Hai đoàn sứ thần có nhiệm vụ quan trọng vì “còn yêu cầu Hoàng đế Trung Hoa đặt tên cho nước đã được vua thống nhất” [88; 307]. Kết quả là, vua Thanh đã ra chỉ dụ đổi tên nước ta từ An Nam thành Việt Nam, sai làm sắc phong và khắc khuôn dấu bạc mạ vàng có khắc hình lạc đà, rồi cử quan án sát tỉnh Quảng Tây sang Việt Nam để phong vương cho Nguyễn Phúc Ánh. Lễ sắc phong vua Gia Long, sau này cả Minh Mệnh và Thiệu Trị đều diễn ra ở Thăng Long- Hà Nội. Sau lễ sắc phong, các vua Nguyễn chính thức trở thành “phiên thần” của nhà Thanh, thể hiện sự thần phục của mình bằng việc thực hiện triều cống theo định kỳ.
Đến triều vua Minh Mệnh, năm 1839, vua Thanh đã ra chỉ dụ, quy định triều Nguyễn 4 năm sang Thiên triều triều cống 1 lần và chỉ phải nộp một nửa số cống vật ngày trước”[10; 81]. Ngoài ra, triều đình còn quy định rất tỉ mỉ về công văn dâng cho hoàng đế Trung Hoa, cho các tỉnh biên giới đón tiếp sứ thần, về sứ quán, sứ thuyền .đón rước đoàn sứ thần của Trung Quốc sang làm lễ sắc phong. 21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tất cả những quy định đó đã nói lên nghi lễ sắc phong và triều cống được chuẩn bị cẩn thận và có ý nghĩa quan trọng như thế nào đối với triều Nguyễn. Nó tỏ rõ thái độ “thần phục” nhà Thanh của triều Nguyễn.
Song đúng như nhận xét của nhiều nhà nghiên cứu, dù Việt Nam thần phục nhưng đó chỉ là trên danh nghĩa, còn thực tế Việt Nam không hề bị bó buộc vào mối quan hệ với Thiên triều. Mặt khác, có lẽ Mãn Thanh cũng chỉ cần duy trì mối quan hệ với các nước phiên thuộc xung quanh bằng việc sắc phong và triều cống.