Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Lịch sử với đề tài "Vai trò của Trung Quốc trong việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất" do sinh viên Lê Thị Dung thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Lê Phụng Hoàng (Khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, niên khóa 2006 – 2010). Đề tài tiếp cận một giai đoạn lịch sử mang tính bước ngoặt của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 – 1954), đặt trong bối cảnh cục diện quốc tế và khu vực có những biến chuyển sâu sắc sau Chiến tranh thế giới thứ hai.
Lý do chọn đề tài xuất phát từ mối quan hệ địa lý và lịch sử gắn bó lâu đời giữa hai quốc gia láng giềng Việt Nam và Trung Quốc. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Việt Nam, đặc biệt từ sau khi nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra đời (1949), Trung Quốc đã giữ vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ về hậu cần, vũ khí, cố vấn tham mưu, huấn luyện quân sự và tham gia trực tiếp vào tiến trình đàm phán tại Hội nghị Geneva năm 1954. Tuy nhiên, bản chất của sự giúp đỡ này luôn tồn tại những luồng quan điểm học thuật đa chiều:
- Một số học giả phương Tây gặp hạn chế do khó tiếp cận nguồn tư liệu của Trung Quốc để xác định chính sách thực chất của Bắc Kinh.
- Một số tài liệu do Trung Quốc ấn hành lại có xu hướng thổi phồng vai trò của cố vấn và viện trợ, hạ thấp tính chủ động của cách mạng Việt Nam.
- Nhiều công trình trong nước tập trung khẳng định đường lối kháng chiến độc lập, tự chủ và tinh thần quật cường của dân tộc.
Trước thực tiễn đó, tác giả đặt vấn đề nghiên cứu nhằm làm rõ: Sự ủng hộ, giúp đỡ của Trung Quốc đối với Việt Nam xuất phát thuần túy từ tinh thần quốc tế vô sản trong sáng, hay gắn liền với những toan tính chiến lược và lợi ích quốc gia riêng của giới cầm quyền Bắc Kinh?
Nhiệm vụ và mục tiêu nghiên cứu của đề tài gồm 3 nội dung chính:
- Hệ thống hóa mối quan hệ tương trợ giữa cách mạng hai nước giai đoạn trước năm 1949 và sự viện trợ toàn diện (chính trị, ngoại giao, quân sự, hậu cần, cố vấn) của Trung Quốc từ năm 1950 đến đầu năm 1953.
- Phân tích vai trò và sự phối hợp của cố vấn, viện trợ Trung Quốc trong giai đoạn Đông – Xuân 1953 – 1954 và chiến dịch Điện Biên Phủ.
- Làm rõ lập trường, thái độ và mục tiêu chiến lược của Trung Quốc trong quá trình dàn xếp giải pháp kết thúc chiến tranh Đông Dương tại Hội nghị Geneva năm 1954 cùng bước đầu thi hành Hiệp định.
Đối tượng nghiên cứu là vai trò, sự giúp đỡ cùng các mục tiêu chính trị, quân sự, ngoại giao của Trung Quốc đối với cuộc kháng chiến của nhân dân Đông Dương (chủ yếu là Việt Nam). Phạm vi nghiên cứu về không gian tập trung tại chiến trường Việt Nam, Đông Dương và bàn đàm phán quốc tế Geneva; phạm vi thời gian trọng tâm từ năm 1950 đến năm 1954, có liên hệ với giai đoạn tiền đề 1946 – 1949.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận được triển khai dựa trên cơ sở phương pháp luận sử học Mác-xít và các lý thuyết nghiên cứu quan hệ quốc tế, xem xét sự kiện trong bối cảnh lịch sử cụ thể của Chiến tranh Lạnh và phong trào giải phóng dân tộc thế giới.
Tác giả sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành và liên ngành:
- Phương pháp lịch sử: Đặt quan hệ Việt – Trung và vai trò của Trung Quốc vào từng giai đoạn vận động cụ thể từ thời phong kiến, qua giai đoạn 1946 – 1949, giai đoạn 1950 – 1953 đến cục diện 1953 – 1954 và Hội nghị Geneva.
- Phương pháp logic: Phân tích, tổng hợp tư liệu nhằm vạch ra bản chất, khuynh hướng vận động khách quan và động cơ đằng sau các chính sách đối ngoại của Bắc Kinh.
- Phương pháp so sánh: Đối chiếu thái độ, mức độ viện trợ và lập trường của Trung Quốc qua từng giai đoạn chiến tranh; so sánh quan điểm của các nước lớn (Liên Xô, Trung Quốc, Pháp, Anh, Mỹ) tại Hội nghị Geneva.
- Phương pháp định tính và định lượng: Định tính tính chất chính nghĩa của cuộc kháng chiến của nhân dân Đông Dương và tính toán lợi ích nước lớn của Trung Quốc; định lượng chi tiết các số liệu về khối lượng vũ khí, quân trang, xe vận tải, cố vấn quân sự và thiệt hại của các bên trong từng chiến dịch.
- Phương pháp liên ngành: Ứng dụng phân tích quan hệ quốc tế và địa chính trị khu vực Đông Nam Á.
Nguồn dữ liệu của khóa luận được khảo cứu từ các công trình lịch sử, văn kiện ngoại giao và hồi ký quân sự:
- Tư liệu nghiên cứu quốc tế: Công trình của François Joyaux (Trung Quốc và việc giải quyết chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, NXB Thông tin lý luận, 1981); công trình của Tiền Giang do Dương Danh Dy dịch (Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954, NXB Trung cộng Đảng sử, 2005).
- Văn kiện ngoại giao và lịch sử chính thức: Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua (Bộ Ngoại giao Việt Nam, NXB Sự Thật, 1981); Tổng kết cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi và bài học (NXB Chính trị quốc gia).
- Hồi ký và tổng kết chiến dịch của tướng lĩnh trực tiếp chỉ huy: Các tác phẩm của Đại tướng Võ Nguyên Giáp (Đường tới Điện Biên Phủ, Điện Biên Phủ – Điểm hẹn lịch sử, Chiến đấu trong vòng vây, Điện Biên Phủ); hồi ký và nhật ký chiến trường của tướng Trần Canh, đoàn cố vấn Vi Quốc Thanh, La Quý Ba.
- Tài liệu chuyên khảo và giáo trình: Các công trình của Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, giáo trình Lịch sử Quan hệ quốc tế của TS. Lê Phụng Hoàng, Đại cương Lịch sử Việt Nam (Lê Mậu Hãn chủ biên) và bộ Hồ sơ cuộc kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954).
Nội dung chính theo từng chương
Chương I: Vai trò của Trung Quốc trong việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương trong giai đoạn từ 1950 đến đầu năm 1953
Chương I làm rõ tiến trình thiết lập quan hệ ngoại giao, quy mô viện trợ vật chất và vai trò tham mưu quân sự của Trung Quốc đối với Việt Nam từ sau khi nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thành lập:
-
Mối liên hệ giữa cách mạng Việt Nam và cách mạng Trung Quốc trước năm 1949:
- Giai đoạn 1920 – 1945: Nguyễn Ái Quốc gặp Chu Ân Lai tại Paris (1922), thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên tại Quảng Châu (1925). Trong giai đoạn 1941 – 1943, các tướng lĩnh Quốc dân Đảng như Trương Phát Khuê từng có thái độ dè dặt với Việt Minh, lập ra Việt Nam Cách mạng Đồng chí Hội.
- Giai đoạn 1946 – 1949: Mối quan hệ tương trợ giữa hai Đảng Cộng sản diễn ra trong bối cảnh cả hai nước đều gặp muôn vàn khó khăn. Việt Nam đã hỗ trợ lương thực, thuốc men cho khoảng 1.000 quân thuộc Trung đoàn 1 Quảng Đông vượt biên sang Bắc Việt Nam (tháng 3/1946). Đầu năm 1948, mỗi tháng Việt Nam gửi giúp Biên khu Điền – Quế 50 tấn muối, hàng chục tấn gạo, đạn cối 81mm và máy ngắm cối. Tháng 4/1949, Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam cử lực lượng do Lê Quang Ba làm Tư lệnh, phối hợp phía Trung Quốc (Trần Minh Giang) mở chiến dịch Thập Đại Vạn Sơn, chia làm hai mặt trận Điền Quế (Nam Long chỉ huy) và Long Châu (Thanh Phong chỉ huy), tiêu diệt hơn 1 trung đoàn quân Tưởng Giới Thạch, thu và bàn giao lại cho bạn hơn 500 khẩu súng.
- Phía Trung Quốc: Tháng 8/1946 phái 350 cán bộ sang khu vực biên giới thành lập "Quân đội dân chủ thống nhất Hoa Nam" (khoảng 5.000 người); tháng 9/1947 làm trung gian tại Bangkok giúp Việt Nam mua lượng vũ khí trị giá 12 triệu đồng (gồm 6.000 súng trường, 400 trung liên, 5 súng phòng không, 200 mìn, 1.000 lựu đạn).
-
Sự giúp đỡ về chính trị và ngoại giao (1950 – 1953):
- Ngày 15/1/1950, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa công nhận nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Ngày 18/1/1950, Trung Quốc công nhận Việt Nam, tiếp đó Liên Xô công nhận vào ngày 30/1/1950.
- Tại cuộc gặp ở Moscow đầu năm 1950 giữa J. Stalin, Mao Trạch Đông và Hồ Chí Minh, Stalin thống nhất phân công Trung Quốc trực tiếp đảm nhiệm việc viện trợ cho Việt Nam do vị trí địa lý liền kề.
- Động cơ viện trợ của Trung Quốc xuất phát từ 3 yếu tố: (1) Bảo vệ an ninh biên giới phía Nam, loại trừ nguy cơ can thiệp của Mỹ – Pháp và tàn quân Quốc dân Đảng; (2) Thực hiện nghĩa vụ quốc tế theo ý thức hệ cộng sản (chỉ thị nội bộ của Lưu Thiếu Kỳ ngày 14/3/1950); (3) Tiếp nối quan hệ truyền thống và mở rộng tầm ảnh hưởng xuống khu vực Đông Nam Á.
-
Viện trợ quân sự, trang bị và cố vấn tham mưu:
- Quy mô viện trợ trang bị:
- Ký hiệp định quân sự đầu tiên ngày 18/1/1950. Tháng 4/1950, Việt Nam cử 22.000 quân chủ lực (2 trung đoàn thuộc Đại đoàn 308 sang Mông Tự - Vân Nam, 1 trung đoàn thuộc Đại đoàn 312 sang Hoa Động - Quảng Tây) tiếp nhận vũ khí và huấn luyện kỹ thuật đánh bộc phá, chiến thuật công kiên trong 3 tháng.
- Đến cuối năm 1950, Việt Nam tiếp nhận 1.020 tấn vũ khí đạn dược, 180 tấn quân trang quân dụng, 2.634 tấn gạo, 20 tấn thuốc và dụng cụ quân y, 800 tấn hàng quân giới, 30 ô tô, 120 tấn xăng dầu.
- Năm 1952, khối lượng viện trợ đạt khoảng 6.000 tấn. Ngày 7/4/1952, ký "Hiệp định trao đổi hàng". Đến năm 1953, trung bình mỗi tháng tiếp nhận gần 1.000 tấn hàng hóa (gồm 4 đại bác 150 ly, 296 trọng liên phòng không, 152 súng cối 120 ly và 81 ly, 500 xe vận tải nâng tổng số xe lên 1.000 chiếc, 710 trung liên, 1.500 tiểu liên, 6.000 súng cá nhân, 300.000 bộ quân phục, 120 máy thu phát, 20 tổng đài). Tuyến tiếp tế chính qua ngả Bằng Tường (Quảng Tây) và Vân Sơn (Vân Nam).
- Tổ chức đoàn cố vấn quân sự: Ngày 17/4/1950, Quân ủy Trung ương Trung Quốc thành lập Đoàn Cố vấn Quân sự (CMAG) do Vi Quốc Thanh làm Trưởng đoàn, La Quý Ba làm Cố vấn chính trị kiêm đại diện Đảng, Mai Gia Sinh (tham mưu), Mã Tây Phu (hậu cần), cùng 79 cán bộ cố vấn (tài liệu khác ghi nhận 281 người thuộc các Dã chiến quân số 2, 3, 4). Tướng Trần Canh được cử sang trực tiếp chỉ đạo chiến dịch Biên Giới (đến ngày 7/7/1950).
- Tác động qua các chiến dịch thực địa:
- Chiến dịch Biên Giới (thu – đông 1950): Tướng Trần Canh đề xuất chiến thuật "đánh điểm diệt viện", tập trung đánh cứ điểm Đông Khê thay vì Cao Bằng, tiêu diệt và bắt sống khoảng 8.000 quân địch (trong đó có 5 – 8 tiểu đoàn Âu Phi tinh nhuệ), giải phóng 5 thị xã, 12 thị trấn, 750 km biên giới với 35 vạn dân.
- Chiến dịch Trung Du (Trần Hưng Đạo, 12/1950 – 1/1951): Đưa bộ đội đánh đồng bằng với chiến thuật "bôn tập đường xa" do phía Trung Quốc giới thiệu. Ta diệt hơn 2.000 địch nhưng chịu thương vong gần 1.000 người do địch áp đảo về phi pháo.
- Chiến dịch Đông Bắc (Hoàng Hoa Thám, 3 – 4/1951): Đánh vào khu vực Uông Bí, Mạo Khê; diệt hơn 1.100 địch, thương vong hơn 1.700 cán bộ, chiến sĩ; chiến dịch không đạt mục tiêu đề ra.
- Chiến dịch Hà Nam Ninh (Quang Trung, 5 – 6/1951): Diệt 30 vị trí, tiêu diệt Bernard de Lattre, tỉ lệ thương vong hai bên là 1:1; cho thấy việc đánh lớn bằng công kiên ở đồng bằng chưa đủ điều kiện chín muồi.
- Chiến dịch Hòa Bình (11/1951 – 2/1952): Sau khi cố vấn La Quý Ba khuyên quay về chiến tranh du kích, Đảng ủy quyết định mở chiến dịch Hòa Bình, loại khỏi vòng chiến đấu 6.012 địch ở mặt trận chính và 15.237 địch ở vùng sau lưng địch; phía ta tổn thất 11.193 người (2.692 đồng chí hy sinh).
- Chiến dịch Tây Bắc (1952): Chuyển hướng chủ công lên rừng núi. La Quý Ba phác thảo kế hoạch (ngày 16/2 và 14/4/1952) quán triệt phương châm "tiến chắc chắn và bảo đảm thắng lợi trong từng trận đánh", giải phóng phần lớn địa bàn Tây Bắc, tạo thế liên hoàn nối liền căn cứ Việt Bắc với Thượng Lào.
Chương II: Vai trò của Trung Quốc trong việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất giai đoạn Đông – Xuân 1953 – 1954 và trong chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ
Chương II tập trung phân tích sự đồng hành về hậu cần kỹ thuật, cố vấn tác chiến của Trung Quốc trong giai đoạn đỉnh cao của cuộc chiến tranh:
- Tăng cường năng lực tác chiến và phương tiện chiến lược: Cung cấp bổ sung lượng lớn pháo binh hạng nặng (pháo lựu 105mm, pháo cao xạ 37mm, súng cối nòng lớn), đạn dược và mạng lưới thông tin liên lạc phục vụ tác chiến hiệp đồng quy mô lớn.
- Vai trò của Đoàn Cố vấn Quân sự Vi Quốc Thanh: Tham gia cùng Bộ Tổng chỉ huy Quân đội nhân dân Việt Nam trao đổi về kế hoạch phân tán khối cơ động của tướng Navarre trong chiến cục Đông – Xuân 1953 – 1954.
- Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ: Ghi nhận sự tham gia của các chuyên viên cố vấn pháo binh, công binh, hậu cần trong việc vận chuyển vũ khí, mở đường và xây dựng trận địa công sự; phản ánh quá trình trao đổi chiến thuật dẫn đến quyết định lịch sử của Đại tướng Võ Nguyên Giáp chuyển đổi phương châm từ "đánh nhanh thắng nhanh" sang "đánh chắc tiến chắc".
Chương III: Vai trò của Trung Quốc trong việc giải quyết chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất tại Hội nghị Genève năm 1954
Chương III mổ xẻ hoạt động ngoại giao và những toan tính chiến lược của Bắc Kinh tại bàn đàm phán quốc tế:
- Các nhân tố quyết định thái độ của Trung Quốc:
- Kinh tế - chính trị nội bộ: Nhu cầu cấp bách ổn định tình hình trong nước, tập trung nguồn lực thực hiện Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất sau những tổn thất nặng nề từ Chiến tranh Triều Tiên (1950 – 1953).
- An ninh và ngoại giao: Nhu cầu ngăn chặn nguy cơ Mỹ trực tiếp can thiệp quân sự vào Đông Dương, tạo lập vành đai an ninh hòa bình ở biên giới phía Nam, đồng thời phá vỡ thế bao vây cô lập quốc tế của phương Tây, khẳng định vị thế một nước lớn tại một hội nghị quốc tế đa phương.
- Thái độ và hoạt động của đoàn đại biểu Trung Quốc (đứng đầu là Chu Ân Lai):
- Thúc đẩy xu hướng hòa hoãn và nhượng bộ giữa các bên nhằm nhanh chóng đạt được một giải pháp đình chiến.
- Chủ trương giải quyết vấn đề quân sự trước, chính trị sau; đề xuất phương án phân vùng tập kết quân sự theo vĩ tuyến.
- Tách rời vấn đề giải quyết chiến tranh tại Lào và Campuchia khỏi giải pháp chung của Việt Nam, tiến hành các cuộc gặp song phương riêng rẽ (Trung – Pháp, Trung – Ấn, Trung – Miến) để mở rộng phạm vi thương lượng.
- Lợi ích mà Trung Quốc thu được từ Hiệp định Geneva: Thiết lập được một nhà nước xã hội chủ nghĩa thân thiện ở miền Bắc Việt Nam làm vùng đệm an ninh trực tiếp; ngăn ngừa xung đột quân sự trực diện với Mỹ; nâng cao uy tín ngoại giao của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa trên trường quốc tế.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã tổng hợp và hệ thống hóa các số liệu lịch sử về viện trợ quân sự và kết quả các chiến dịch phản ánh vai trò của Trung Quốc trong giai đoạn 1950 – 1953:
| Giai đoạn / Chiến dịch |
Khối lượng viện trợ / Phương tiện |
Lực lượng cố vấn & vai trò tham mưu |
Kết quả quân sự & số liệu chiến trường |
| Năm 1950 & Chiến dịch Biên Giới |
- 1.020 tấn vũ khí, đạn dược - 2.634 tấn gạo, 180 tấn quân trang - 30 ô tô, 120 tấn xăng dầu - Huấn luyện 22.000 quân chủ lực |
- Thành lập CMAG (Vi Quốc Thanh, La Quý Ba, Mai Gia Sinh, Mã Tây Phu). - Tướng Trần Canh trực tiếp cố vấn phương án "đánh điểm diệt viện". |
- Tiêu diệt và bắt sống khoảng 8.000 quân địch (5 - 8 tiểu đoàn Âu Phi). - Giải phóng 750 km biên giới, 5 thị xã, 35 vạn dân. |
| Năm 1951 (Trung Du, Đông Bắc, Hà Nam Ninh) |
- Duy trì tiếp tế vũ khí cá nhân, đạn dược, quân trang qua ngả Quảng Tây và Vân Nam. |
- Vi Quốc Thanh cùng bộ phận cố vấn theo tiền phương chỉ đạo chiến thuật "bôn tập đường xa". |
- Trung Du: Diệt 2.000 địch, ta thương vong gần 1.000. - Đông Bắc: Diệt 1.100 địch, ta thương vong >1.700. - Hà Nam Ninh: Diệt 30 vị trí, diệt Bernard de Lattre, thương vong 1:1. |
| Năm 1952 (Chiến dịch Hòa Bình & Tây Bắc) |
- Viện trợ đạt khoảng 6.000 tấn. - Ký Hiệp định trao đổi hàng (7/4/1952). - Tiếp nhận hàng vạn chuyên viên kỹ thuật. |
- La Quý Ba gợi ý về chiến tranh du kích, sau đó phác thảo kế hoạch đánh Tây Bắc (nguyên tắc "tiến chắc thắng chắc"). |
- Hòa Bình: Loại khỏi vòng chiến 6.012 địch ở mặt trận chính, 15.237 ở địch hậu; ta thương vong 11.193. - Tây Bắc: Giải phóng phần lớn địa bàn hiểm trở giáp Lào và Vân Nam. |
| Năm 1953 |
- Tiếp tế gần 1.000 tấn/tháng. - 4 đại bác 150mm, 296 trọng liên phòng không, 152 mooc-chi-ê, 500 xe vận tải, 300.000 bộ quân phục. |
- Phối hợp tham mưu tác chiến hiệp đồng binh chủng quy mô lớn chuẩn bị cho Đông - Xuân 1953 - 1954. |
- Tạo cơ sở vật chất và kỹ thuật pháo binh hiện đại phục vụ các chiến dịch lớn tiếp theo. |
Các giải pháp và kiến nghị học thuật của tác giả:
- Đánh giá lịch sử quan hệ quốc tế cần dựa trên tư duy biện chứng: thừa nhận sự giúp đỡ to lớn, hiệu quả về vũ khí, kỹ thuật và kinh nghiệm tác chiến của Trung Quốc đã góp phần giúp Việt Nam chuyển biến cục diện chiến trường; đồng thời nhận thức rõ mọi hành động đối ngoại của một quốc gia đều bị chi phối bởi lợi ích an ninh và vị thế địa chính trị của chính nước đó.
- Cần tiếp tục khai thác các nguồn sử liệu đa chiều (văn kiện lưu trữ của Pháp, Nga, Trung Quốc và Việt Nam) để có cái nhìn toàn diện, không thiên lệch hay cực đoan.
Đóng góp khoa học của đề tài:
- Về mặt tư liệu: Sưu tầm, đối chiếu và hệ thống hóa nhiều nguồn tài liệu lịch sử phong phú từ các tài liệu giải mật của Pháp, tài liệu chính thức của Đảng Cộng sản Trung Quốc, văn kiện ngoại giao Việt Nam và các bộ hồi ký chỉ huy chiến trường.
- Về mặt nội dung: Làm rõ tính hai mặt trong chính sách của Trung Quốc giai đoạn 1950 – 1954, vừa là đồng minh hỗ trợ cách mạng vô sản, vừa là nước lớn hành động vì lợi ích an ninh quốc gia tại Hội nghị Geneva.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận tồn tại một số hạn chế do điều kiện thực hiện của sinh viên bậc đại học:
- Tác giả chưa có điều kiện tiếp cận trực tiếp các nguồn tài liệu lưu trữ sơ cấp từ các kho lưu trữ quốc gia của Trung Quốc, Pháp và Nga, mà chủ yếu thông qua các bản dịch hoặc công trình nghiên cứu tổng thuật đã xuất bản.
- Các số liệu thống kê chi tiết về vũ khí, đạn dược và cố vấn trong từng trận đánh cụ thể ở giai đoạn cuối năm 1953 và Hội nghị Geneva năm 1954 chưa được lượng hóa đầy đủ theo từng tháng như giai đoạn 1950 – 1952.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Khai thác sâu các tài liệu mật đã giải mật liên quan đến biên bản các phiên họp hẹp giữa phái đoàn Trung Quốc (Chu Ân Lai) và phái đoàn Pháp (Mendès France) tại Hội nghị Geneva 1954 để phân tích cụ thể quá trình dàn xếp ranh giới vĩ tuyến và thời hạn tổng tuyển cử.
- Khảo sát sâu hơn sự tác động về mặt tư tưởng quân sự của cố vấn Trung Quốc đối với phương thức tác chiến của các đại đoàn chủ lực Quân đội nhân dân Việt Nam.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho:
- Giảng viên và sinh viên các ngành Lịch sử, Sư phạm Lịch sử, Quan hệ Quốc tế, Chính trị học khi nghiên cứu về lịch sử cuộc kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954), lịch sử ngoại giao Việt Nam và lịch sử quan hệ quốc tế thời kỳ Chiến tranh Lạnh.
- Những người thực hiện các đề tài nghiên cứu chuyên sâu về vai trò của viện trợ quốc tế, tổ chức cố vấn quân sự nước ngoài (CMAG) và ngoại giao đa phương tại Hội nghị Geneva 1954.
Phần nội dung có giá trị tham khảo cao nhất:
- Hệ thống tư liệu và số liệu thống kê về quá trình tương trợ giữa hai nước giai đoạn 1946 – 1949 (chiến dịch Thập Đại Vạn Sơn, hỗ trợ Biên khu Điền – Quế).
- Nhật ký và ghi chép hoạt động của các cố vấn Trần Canh, Vi Quốc Thanh, La Quý Ba trong các chiến dịch Biên Giới, Trung Du, Hà Nam Ninh, Hòa Bình và Tây Bắc.
Câu hỏi thường gặp
1. Tại sao đầu năm 1950, Liên Xô và Trung Quốc lại có sự phân công trách nhiệm trong việc viện trợ cho cuộc kháng chiến của Việt Nam?
Tại cuộc hội đàm ở Moscow đầu năm 1950 giữa J. Stalin, Mao Trạch Đông và Hồ Chí Minh, Stalin nêu rõ Liên Xô đang phải tập trung nguồn lực lớn để tái thiết và hỗ trợ các nước Đông Âu. Trung Quốc có vị trí địa lý liền kề biên giới Việt Nam, am hiểu tình hình thực địa và có kinh nghiệm chiến tranh cách mạng tương đồng, do đó việc Trung Quốc trực tiếp chịu trách nhiệm viện trợ sẽ mang lại hiệu quả cao nhất. Hàng hóa nào Trung Quốc thiếu sẽ lấy từ nguồn viện trợ của Liên Xô chuyển sang rồi được Liên Xô hoàn trả sau.
2. Đoàn Cố vấn Quân sự Trung Quốc sang Việt Nam năm 1950 được thành lập như thế nào và gồm những nhân vật chủ chốt nào?
Ngày 17/4/1950, Quân ủy Trung ương Trung Quốc ra quyết định thành lập Đoàn Cố vấn Quân sự (CMAG). Lãnh đạo đoàn gồm: Vi Quốc Thanh (Trưởng đoàn cố vấn quân sự), La Quý Ba (Trưởng đoàn cố vấn chính trị kiêm đại diện Đảng), Mai Gia Sinh (Cố vấn công tác tham mưu) và Mã Tây Phu (Cố vấn công tác hậu cần). Ngoài ra, Trung Quốc còn cử Tướng Trần Canh sang trực tiếp hỗ trợ Bộ Tổng chỉ huy Việt Nam chỉ đạo chiến dịch Biên Giới vào tháng 7/1950.
3. Trước khi nhận viện trợ quy mô lớn vào năm 1950, Việt Nam đã có những hỗ trợ cụ thể nào cho lực lượng cách mạng Trung Quốc giai đoạn 1946 – 1949?
Việt Nam đã cung cấp thực phẩm, thuốc men cho khoảng 1.000 quân thuộc Trung đoàn 1 Quảng Đông vượt biên sang Việt Nam (tháng 3/1946); định kỳ hỗ trợ Biên khu Điền – Quế 50 tấn muối, hàng chục tấn gạo và đạn cối 81mm mỗi tháng trong năm 1948. Tháng 4/1949, Việt Nam cử lực lượng do Lê Quang Ba chỉ huy phối hợp mở chiến dịch Thập Đại Vạn Sơn giúp giải phóng khu Ung – Long – Khâm, tiêu diệt hơn 1 trung đoàn quân Tưởng và bàn giao lại toàn bộ hơn 500 khẩu súng thu được cho phía Trung Quốc.
4. Khối lượng viện trợ vật chất, vũ khí mà Trung Quốc chuyển giao cho Việt Nam trong giai đoạn 1950 – 1953 đạt quy mô như thế nào?
Tính đến cuối năm 1950, Việt Nam nhận được 1.020 tấn vũ khí đạn dược, 2.634 tấn gạo, 30 ô tô và 120 tấn xăng dầu. Năm 1952, tổng khối lượng hàng viện trợ đạt khoảng 6.000 tấn. Đến năm 1953, lưu lượng vận chuyển đạt gần 1.000 tấn mỗi tháng, bao gồm 4 đại bác 150 ly, 296 trọng liên phòng không, 152 súng cối hạng nặng, 500 ô tô vận tải (nâng tổng số xe của ta lên khoảng 1.000 chiếc), 710 trung liên, 1.500 tiểu liên, 6.000 súng bộ binh, 300.000 bộ quân phục cùng 140 máy thu phát và tổng đài thông tin.
5. Những nguyên nhân nào dẫn đến tổn thất của Quân đội nhân dân Việt Nam trong các chiến dịch vùng đồng bằng năm 1951 (Trung Du, Đông Bắc, Hà Nam Ninh)?
Khi đưa các đại đoàn chủ lực xuống tác chiến ở vùng trung du và đồng bằng theo phương án công kiên và chiến thuật "bôn tập", quân đội ta gặp bất lợi do địa hình bằng phẳng, trống trải, tạo điều kiện cho quân Pháp phát huy tối đa ưu thế hỏa lực pháo binh và không quân. Hệ thống cứ điểm của địch dày đặc, giao thông thuận tiện giúp Pháp nhanh chóng điều động các binh đoàn cơ động tăng viện, trong khi quân đội ta lúc đó chưa có vũ khí phòng không và thiếu lực lượng dự bị cũng như nguồn tiếp tế lâu dài.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lê Thị Dung đã tái hiện một cách có hệ thống, khách quan và khoa học về vai trò của Trung Quốc trong tiến trình giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất (1950 – 1954). Nghiên cứu khẳng định sự giúp đỡ to lớn về vũ khí, phương tiện, huấn luyện và cố vấn quân sự của Trung Quốc là nhân tố quan trọng hỗ trợ quân dân Việt Nam xây dựng khối chủ lực, chuyển từ chiến tranh du kích lên tác chiến quy mô lớn giành thắng lợi quyết định. Đồng thời, công trình chỉ rõ những toan tính chiến lược về an ninh biên giới và vị thế nước lớn chi phối lập trường của Bắc Kinh tại bàn đàm phán Geneva năm 1954, mang lại giá trị tư liệu xác thực cho nghiên cứu lịch sử quân sự và quan hệ quốc tế.