mở đầu là 101 ngày đêm chiến đấu bao vây quân Pháp tại Mặt trận Nha Trang, lập nên những chiến công vang dội, được Bác Hồ kính yêu gửi điện khen “đã làm gương anh dũng cho toàn quốc” [34, tr. Liên tiếp trong hai cuộc kháng chiến vì độc lập dân tộc, thống nhất đất nước (1945 - 1975), Đảng bộ và quân dân Khánh Hòa đã đoàn kết một lòng, tạo nên sức mạnh tổng hợp cùng nhân dân, cùng nhân dân cả nước viết tiếp những trang sử chói lọi, hết đánh Pháp, rồi đuổi Mỹ, đập tan chính quyền tay sai cho đến ngày quê hương hoàn toàn sạch bóng quân thù. Nhằm thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa theo đường lối đổi mới của Đảng, phát huy truyền thống đoàn kết, tự lực tự cường, hơn 30 năm qua, Đảng bộ và nhân dân Khánh Hòa đã vượt qua mọi khó khăn, thử thách, phát huy những tiềm năng và thế mạnh của địa phương trên các lĩnh vực phát triển kinh tế công nghiệp, du lịch, dịch vụ… giành được những thành tựu quan trọng và toàn diện về kinh tế, xã hội; giữ gìn an ninh, chính trị. Đó cũng chính là nền tảng, là bệ phóng vững chắc để từ đây, Đảng bộ và nhân dân Khánh Hòa càng thêm tin tưởng vào tương lai tươi sáng của dân tộc, 17 vững bước trên con đường xây dựng, phát triển quê hương đất nước, vì mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.
Tình hình Khánh Hòa trước Cách mạng tháng Tám 1945 1. Kinh tế Nếu trước ngày 9 tháng 3 năm 1945, phát xít Nhật cấu kết với thực dân Pháp cùng vơ vét bóc lột nhân dân ta để phục vụ cho chiến tranh thì sau khi đảo chính Pháp, phát xít Nhật nắm luôn quyền bá chủ về kinh tế. Những chính sách kinh tế mà trước đây thực dân Pháp đã thi hành dưới sự điều khiển của Nhật, nay được mở rộng và tăng cường tới mức khốc liệt. Chúng thi hành chính sách kinh tế thời chiến.
Phát xít Nhật trắng trợn bắt nhân dân vùng Vĩnh Xương, Ninh Hòa, Diên Khánh… nhổ lúa, trồng bông, gai, lạc, dừa, trồng thầu dầu, tăng cường bóc lột thông qua thuế má, cưỡng bức nhân dân kê khai diện tích ruộng đất và sản lượng hoa màu để quy định chặt chẽ số lượng sản phẩm phải nộp. Nguồn thu thuế của ngân sách Đông Dương trên cả nước nói chung, ở Khánh Hòa nói riêng bao gồm thuế muối, thuế rượu, thuế thuốc phiện, thuế xuất nhập khẩu… Chính quyền thực dân độc quyền buôn bán muối. Ở Khánh Hòa, nơi sản xuất muối lớn của cả nước, hàng năm, phát xít Nhật thu thuế qua chênh lệnh về giá. Chúng mua của diêm dân với giá 17 xu/tạ và bán lại với giá 170 xu/tạ.
Đồng thời, phát xít Nhật còn bắt nhân dân không được phép nấu rượu, phải uống các loại rượu do nhà nước cung cấp theo mức quy định sẵn, bình quân mỗi người phải tiêu thụ từ 23 - 24 lít/năm. Ngoài mục đích chính trị là đầu độc nhân dân ta, chúng đã thu được của nhân dân cả nước nói chung, ở Khánh Hòa nói riêng khoảng 22.500 đồng Đông Dương, chiếm 8% ngân sách. Đối với thuốc phiện, nhà cầm quyền độc quyền mua, chế biến và bán. Chúng khuyến khích nhân dân hút thuốc phiện để tăng thêm nguồn thu ngân sách [64, tr.
Nhìn chung, nguồn thu các loại thuế của ngân sách địa phương chủ yếu vẫn là thuế đinh, thuế điền và các loại thuế công thương nghiệp, khai thác lâm sản, giao thông vận tải… Ở Khánh Hòa, thuế đinh phải đóng đồng loạt là 30 xu 1 người/năm. 18 Ngoài ra, mỗi người còn phải làm lao dịch 48 ngày/người/năm, nếu không đi làm phải nộp thay bằng tiền. Cứ 20 ngày phải nộp thay bằng 2 đồng và cộng vào thuế đinh để đóng. Các hệ thống “Tổng thương”, “Tỉnh thương” cũng được thiết lập để thu mua các sản phẩm nông nghiệp với giá rẻ mạt, thực chất là ăn cướp của nông dân.
Chúng bắt tập trung công nhân, xe ngựa, thuyền bè để vận chuyển hàng hóa. Phát xít Nhật càng thua trận càng trở nên tàn ác, bóc lột và vơ vét thậm tệ. Nông dân phải đi xâu làm sân bay, làm đường, làm thương cảng Cầu Đá. Công nhân viên chức phải tăng giờ làm, bị giảm tiền lương… Do đó, đời sống của nhân dân ta ngày càng cơ cực, bần cùng.
Mùa hè năm 1945, dịch tả tràn đến các làng huyện Vĩnh Xương, cướp đi hàng trăm sinh mạng nhân dân do không có thuốc men. Trước tình cảnh đó, người dân thấy không còn con đường nào khác là phải vùng lên đấu tranh. Nhiều nơi ở Vạn Ninh, Ninh Hòa, Vĩnh Xương, Diên Khánh nhân dân phản ứng công khai kêu ca oán thán về thuế, khất thuế, hoặc không chịu đi xâu, đóng thuế, đóng tiền chi tiêu cho làng xã, đòi chia công điền công bằng. Nông dân khai bớt diện tích, sản lượng, cất giấu bông, chống lệnh cấm khung cửi và bí mật tổ chức dệt vải.
Công nhân làm ở Sở Hỏa xa, Lục lộ và nhất là số phu bị Nhật bắt làm sân bay đấu tranh bằng nhiều hình thức: lãn công, đánh bọn cai ký. Đồng bào đấu tranh quyết liệt đòi bọn Nhật phải bồi thường cho những người bị chúng làm thiệt hại tính mạng, tài sản. Khi Cách mạng tháng Tám bùng nổ, chính quyền cách mạng bước đầu được thành lập, vấn đề ruộng đất cho nông dân, việc làm cho công nhân được đặc biệt quan tâm, chú ý [1, tr. Công nhân làm việc trong các hãng nhà đèn Sacle, Dmon Fraird, Origise hay ở các Sở như Lục Lộ, Quận 3 hỏa xa, ga và Đề pô xe lửa, Bưu điện, Pasteur, Hải học viện… vốn được giác ngộ từ trước, đứng lên đấu tranh giành chính quyền và làm chủ các cơ quan ngay sau khi cách mạng thành công.
Nhờ vậy, việc ổn định sản xuất và đời sống cho công nhân đã thực hiện rất có hiệu quả. 19 Ở vùng nông thôn, bà con nông dân phấn khởi khi được nghe phổ biến “Lời tuyên bố của Ủy ban nhân dân Cách mạng lâm thời tỉnh”. Lần đầu tiên, người nông dân được hưởng quyền tự do, dân chủ, được thực hiện quyền làm chủ đất nước của mình. Chính quyền cách mạng ngoài việc tuyên bố xóa bỏ các gánh nặng về thuế khóa của chế độ thực dân, phong kiến trước đây còn tiến hành hàng loạt các biện pháp cụ thể, thiết thực để khuyến khích nông dân tích cực tăng gia sản xuất.
Tại các địa phương có nghề cá như: Chụt, Cửa Bé, Xương Huân, Vĩnh Hải, Vạn Ninh, Ninh Hòa… chính quyền kiên quyết xóa bỏ nạn “đầu nậu”. Bà con ngư dân phấn khởi làm nghề với tinh thần của người làm chủ biển khơi. Chính trị Ở Khánh Hòa, phát xít Nhật tiến hành đảo chính Pháp một cách mau lẹ, hơn 1.200 quân Pháp ở Nha Trang và Nam Trung Bộ bị phát xít Nhật giam giữ tại Nha Trang, phần lớn số quân này tập trung tại khu vực gần khách sạn Grand Hotel và Beau Rivage. Nhật tuyên bố cho Việt Nam “độc lập”, bộ máy cai trị tay sai cũ được thay đổi ít nhiều về mặt hình thức cho phù hợp với cái độc lập giả hiệu do Nhật ban cho nhưng về căn bản, phát xít Nhật vẫn giữ nguyên bộ máy tay sai của Pháp chuyển sang làm tay sai cho Nhật.
Một số trí thức Nhật bị lừa gạt gia nhập vào cái gọi là “Ban trị sự quốc gia”. Để cho có vẻ dân chủ, ở cấp huyện chúng lập ra “Hội đồng tư vấn” và củng cố các Hội đồng hương chính xã. Chúng cho lực lượng tay sai ra sức quảng bá thuyết “Đại Đông Á”, thuyết “Đồng chủng của Nhật”, ca ngợi đặc ân của Nhật nhằm lừa bịp, mị dân, kéo ảnh hưởng từ Pháp sang Nhật và làm cho quần chúng thoát khỏi ảnh hưởng của Mặt trận Việt Minh đang phát triển mạnh. “Nhiều cuộc mít tinh được tổ chức tại thị xã, thị trấn và vùng nông thôn ở Khánh Hòa để tung hô Nhật, cổ động quần chúng, nhất là thanh niên tham gia vào các tổ chức hướng đạo, Tân Việt Nam, Thanh niên tiền tuyến, vào các hoạt động vui chơi, thể dục thể thao, đua xe đạp, đấu bóng… hòng làm cho lực lượng này quên đi việc nước, cam chịu ách cai trị của Nhật” [8, tr.
20 Sau đảo chính, quân Nhật tập trung chủ yếu tại Tổng hành dinh và Sở hiến binh tại Nha Trang. Bên cạnh đó, chúng còn rải quân ra đóng ở nhiều nơi trong tỉnh và biến Nha Trang thành trung tâm kinh tế, chính trị, quân sự của Nhật ở Khánh Hòa. Lính Nhật tỏa đi các nẻo đường quê, xóm chợ để bắt thanh niên đi lính, đưa đi luyện tập quân sự. Bọn Nhật còn mở lớp đào tạo hiến binh ở Nha Trang, mở rộng và củng cố sân bay Nha Trang thành một sân bay chiến lược quan trọng, củng cố thương cảng Cầu Đá thành quân cảng, củng cố tuyến phòng thủ dọc bờ biển từ Bãi Dài (Cù Hin) đến Cam Ranh, xây dựng kho tàng, dự trữ nhiều lương thực và thiết bị quân sự tại đây.
Sau ngày Nhật đảo chính Pháp, một cuộc họp bí mật tại làng Xuân Mỹ nay thuộc xã Ninh Thọ, thị xã Ninh Hòa đã được tổ chức gồm các đại biểu của nhóm cách mạng: Mai Dương (Hòa Huỳnh, Vạn Ninh), Lý Khuê (Ninh Hòa), Nguyễn Long (Suối Ré). Sau khi phân tích tình hình, các đại biểu thống nhất việc đẩy mạnh các hoạt động chống Nhật, phổ biến chương trình hoạt động của Mặt trận Việt Minh, khẩn trương xây dựng cơ sở, phát triển lực lượng. “Cùng lúc này, Ủy ban vận động cứu quốc tỉnh Quảng Ngãi và Tỉnh ủy Quảng Ngãi do ông Trương Quang Giao làm Bí thư đã cử ông Hồ Độ vào bắt liên lạc và đặt mối quan hệ giữa hai tỉnh Quảng Ngãi và Khánh Hòa, thông báo tình hình đấu tranh ở Quảng Ngãi, đặc biệt sau khi cuộc khởi nghĩa Ba Tơ thành công, đội du kích Ba Tơ được thành lập và hoạt động có hiệu quả. Tình hình đó càng thôi thúc phong trào cách mạng ở Khánh Hòa” [8, tr.
Trước tình thế cách mạng mỗi lúc một dâng cao, bọn quan lại, cường hào, địa chủ, phú nông tiếp tục tuy vẫn tiếp tục bóc lột tô tức làm giàu nhưng đã rất dao động, bắt đầu thấy được tính chất bù nhìn của chính phủ Trần Trọng Kim, thấy được phát xít Nhật tuy bề ngoài còn hùng hổ nhưng khó tránh khỏi thất bại. Bọn tổng lý và binh lính người Việt trong quân đội Nhật, nhiều người bí mật xin gia nhập vào hàng ngũ Việt Minh và hoạt động rất tích cực.