mở đầu cuộc kháng 20 z chiến toàn quốc đúng lúc và xác định được từ đầu những nội dung cơ bản về quan điểm, đường lối kháng chiến là chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện, lâu dài, tự lực cánh sinh, nhất định thắng lợi. Đặc biệt, Đảng luôn chú trọng xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân để làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc. Bao gồm bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích. - Chủ trương xây dựng bộ đội chủ lực.
Quy luật chi phối mọi cuộc chiến tranh là quy luật sức mạnh: mạnh được, yếu thua và tinh hoa của khoa học và nghệ thuật quân sự là luôn luôn tạo được ưu thế sức mạnh ở những thời gian và không gian nhất định. Hiểu rõ quy luật đó, bước vào cuộc kháng chiến, trên cơ sở nhận rõ vai trò quan trọng của “quả đấm chủ lực”, Đảng nhanh chóng đề ra những chủ trương nhằm xây dựng và phát triển bộ đội chủ lực trong giai đoạn này. Ngày 22 tháng 5 năm 1946, Chính phủ ra Sắc lệnh số 71/SL về việc đổi Vệ quốc đoàn thành Quân đội quốc gia Việt Nam. Quân đội quốc gia được đặt dưới sự chỉ huy tập trung thống nhất của Bộ Tổng tham mưu, cơ quan tham mưu quân sự cơ mật, đầu não của quân đội.
Quân đội được tổ chức biên chế thống nhất theo trung đoàn, tiểu đoàn, đại đội. Tiếp theo Sắc lệnh thành lập Quân đội quốc gia, Đảng đề ra những chủ trương cụ thể để xây dựng bộ đội chủ lực. Về chính trị: Đảng nhận thấy sức mạnh của quân chủ lực do nhiều yếu tố hợp thành, nhưng ngọn nguồn của thắng lợi hay thất bại đều bắt nguồn từ nhân tố chính trị, từ tinh thần và sức mạnh của tổ chức. Công tác chính trị trong quân đội chính là công tác vận động cách mạng của Đảng đối với quần chúng chiến sĩ để đem mục đích và tính chất của chiến tranh, đem đường lối và chính sách của Đảng và Chính phủ mà giáo dục cho quân đội, đề cao trình độ giác ngộ, rèn luyện tinh thần chiến đấu cho quân đội, củng cố sự đoàn kết đối nội và đối ngoại của quân đội, đảm bảo cho quân đội thực hiện được công cuộc chiến thắng quân địch, thực hiện được mục đích chính trị của chiến tranh.
Kháng chiến muốn thắng lợi cần phải xây dựng bộ đội chủ lực vững mạnh về chính trị, lấy xây dựng chính trị làm cơ sở để bộ đội chủ lực ngày càng lớn mạnh, sẵn sàng chiến đấu trong mọi tình huống. Thực tế chứng minh rằng ở đâu mà chính sách của đảng được thi hành 21 z nghiêm chỉnh nhất, công tác chính trị trong quân đội chu đáo nhất, thì ở đấy, nói chung không hề có tình trạng lỏng lẻo trong quân đội, quân đội giữ gìn được trật tự tốt hơn, tinh thần của họ cũng cao hơn, ở đấy thu được nhiều thắng lợi lớn hơn. Chính sức mạnh về chính trị là cơ sở đảm bảo cho sức mạnh về quân sự. Nghị quyết hội nghị cán bộ Trung ương (ngày 31.1946) nhận định lúc này chúng ta vẫn còn thiếu công tác chính trị trong quân đội, nhất là công tác Đảng.
Do vậy, Ban Thường vụ Trung ương đã ra Quyết nghị về tổ chức và hệ thống Đảng trong quân đội. Theo đó, Tổng chính uỷ - Phụ trách công tác đảng và lãnh đạo công tác quân sự trong quân đội toàn quốc; Chính uỷ Liên khu - Phụ trách công tác đảng và lãnh đạo công tác quân sự trong quân đội một liên khu; Chính uỷ cấp trung đoàn - Phụ trách công tác đảng và lãnh đạo công tác quân sự trong quân đội một trung đoàn. Chính trị uỷ viên (từ cấp trung đoàn trở lên)có nhiệm vụ: chịu trách nhiệm trước Đảng và cấp trên về mọi công tác đảng và quân sự thuộc phạm vi mình theo đường lối của Đảng; Chịu sự lãnh đạo của cấp bộ đảng bên ngoài về tổ chức và chính sách của Đảng; Khi cấp uỷ đảng bên ngoài không đồng ý với chỉ thị chính uỷ cấp trên thì uỷ viên chính trị chỉ thi hành chỉ thị của uỷ viên cấp trên rồi báo cáo, khi cấp uỷ đảng thấy uỷ viên chính trị làm sai chỉ thị cấp trên có quyền đình chỉ sự thi hành đó và báo cáo ngay lên cấp trên. Uỷ ban Quân sự Trung ương có nhiệm vụ giúp Trung ương nghiên cứu đường lối chiến lược, chiến thuật quân sự, đề nghị lên Trung ương.
Khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ, do tương quan lực lượng giữa ta và địch có sự chênh lệch lớn nên chủ trương của ta là kháng chiến lâu dài, vừa đánh vừa phát triển lực lượng từ nhỏ tới lớn, từ yếu tới mạnh để đi tới thắng lợi. Phương châm tác chiến là tích cực tiến công, giải quyết mau trong từng trận, dùng cách đánh du kích, đánh vận động và có thể đánh trận địa.Với tinh thần đó, thực hiện mệnh lệnh của Bộ Quốc phòng, ngày 19.1946 quân dân Hà Nội đã nổ phát súng đầu tiên. Kế tiếp là các thành phố Đà Nẵng, Huế, Vinh, Nam Định, Hải Dương lần lượt nổ súng vào các căn cứ của Pháp, mở đầu cuộc tổng giao chiến trong toàn quốc. 22 z Bước sang năm 1947, chỉ đạo xây dựng bộ đội chủ lực là một trong những công tác trọng tâm của Bộ Tổng chỉ huy.
Để tăng cường hơn nữa sức mạnh chính trị trong bộ đội chủ lực, Hội nghị chính trị viên toàn quốc lần thứ nhất (1.1947) xác định 10 nhiệm vụ lớn của cơ quan chính trị trong quân đội là: Nâng cao tinh thần chiến đấu của toàn thể bộ đội trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Gây hứng thú và tổ chức nghiên cứu thêm kỹ thuật và chiến thuật, học tập kinh nghiệm. Rèn luyện tinh thần kỷ luật bằng cách chấn chỉnh nội dung các mệnh lệnh, việc động viên để thi hành mệnh lệnh, việc thưởng phạt. Bảo đảm sự thực hiện của phương châm chiến lược về quân sự.
Huấn luyện dân vận cho bộ đội để giúp vào việc thực hành quân dân nhất trí. Đoàn kết đối nội, đối ngoại. Làm cho bộ đội tin tưởng ở thắng lợi. Rèn luyện cho bộ đội có tinh thần tự lập chiến đấu trong lúc gian nguy.
Làm tốt công tác địch vận. Nỗ lực làm đúng 10 lời thề và 12 điều kỷ luật. Đào tạo cho mỗi người đội viên thành một chiến sĩ tiên phong và quân đội ta thành một quân đội quốc gia với đúng danh nghĩa ấy. Về mặt tổ chức: Yêu cầu của cuộc kháng chiến là phải tổ chức xây dựng các đơn vị chủ lực mạnh theo phương châm từ du kích chiến tiến lên vận động chiến, từ chiến tranh du kích tiến lên chiến tranh chính quy… Theo Quy tắc Quân đội quốc gia Việt Nam, biên chế bộ đội căn cứ vào nhiều điều kiện, cách điều động các đơn vị, số vũ khí và cách điều khiển các vũ khí, những dụng cụ và cách giao thông vận tải ở mỗi địa phương,…Sự biên chế ấy sẽ tuỳ thời gian mà thay đổi, cốt nhất là để cho bộ đội có thể điều động dễ dàng, mau chóng và sự chỉ huy được chặt chẽ.
Nghị quyết Hội nghị cán bộ Trung ương miền bắc Đông Dương(20.1948) xác định phải: Tăng cường các đội chủ lực; kiện toàn các cấp chỉ huy, mở các trường đào tạo thêm cán bộ. Cơ quan chỉ huy cần được hợp lý hoá, tất cả những sự bất hợp lý cần giải quyết dứt khoát, cần có sự phân công phối hợp được rõ ràng, để sự chỉ huy được tập trung, thống nhất nhanh chóng. Bên cạnh việc tổ chức biên chế, Đảng chú trọng về phương diện trang bị kỹ thuật cho quân đội. Do chúng ta phải đối mặt với một quân đội nhà nghề, binh khí hiện đại nên việc huấn luyện quân sự, trang bị kỹ thuật là tất yếu quan trọng.
Quán 23 z triệt tinh thần này, ngày 15 tháng 9 năm 1945, Hồ Chí Minh ký sắc lệnh thành lập Phòng Quân giới thuộc Bộ Quốc phòng. Đến ngày 22 tháng 3 năm 1946, Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 34/SL, quy định tổ chức Bộ Quốc phòng, trong đó có Chế tạo quân giới Cục và Công chính giao thông Cục. Từ cuối tháng 10 năm 1946, tất cả các công binh xưởng sản xuất, sửa chữa vũ khí thuộc Vệ quốc đoàn đều do Cục chế tạo quân giới quản lý.1946, Hồ Chí Minh trực tiếp bổ nhiệm đồng chí Phạm Quang Lễ làm Cục trưởng Cục quân giới. Tháng 1 năm 1948, Hội nghị Trung ương Đảng mở rộng chỉ đạo:“ Không một quả lựu đạn nào không nổ, không một khẩu súng nào thiếu đạn, không một người lính nào không có một vũ khí thô sơ, tiến lên chế tạo những vũ khí tối tân, chuẩn bị cho bộ đội đánh những trận tiêu diệt lớn”[46, tr.
Đầu năm 1949, Hội nghị cán bộ Trung ương Đảng lại ra nghị quyết: Sản xuất vũ khí cần đi đôi với yêu cầu chiến thuật. Bên cạnh những vũ khí đã chế tạo được, cần nỗ lực hơn nữa trong chế tạo vũ khí tối tân. Đảng đã quan tâm tới việc sản xuất vũ khí từ thô sơ đến hiện đại để đáp ứng yêu cầu của cuộc kháng chiến, giúp cho bộ đội ngày càng trưởng thành hơn trong chiến đấu. Về huấn luyện quân sự: để bộ đội có khả năng hoàn thành nhiệm vụ tác chiến với quy mô ngày càng lớn hơn, đáp ứng yêu cầu phát triển cao của cuộc kháng chiến, Đảng cũng thường xuyên chú trọng.
Đảng đã đồng thời từng bước nâng cao trình độ kỹ thuật, nghiệp vụ, chiến thuật cho bộ đội để cho bộ đội có thể đánh thắng kẻ thù trên mọi loại địa hình và quy mô tác chiến. Nghị quyết Hội nghị cán bộ Trung ương (8.1948) nêu phương châm và biện pháp huấn luyện quân sự cho bộ đội là: phải đánh địch từng bước; phải diệt cứ điểm riêng lẻ của địch, sau đó mới đánh cứ điểm trung bình và cứ điểm lớn; đánh vận động từng tiểu đoàn đến trung đoàn; tránh tình trạng chưa học bò đã lo học chạy; phải biết sử dụng thành thạo các loại vũ khí và đặc biệt phải tranh thủ lấy súng của địch đánh địch. Với kế hoạch nhằm tiêu diệt cơ quan đầu não của kháng chiến, tiêu diệt quân chủ lực của ta, phá hoại kho tàng, bao vây và khóa chặt biên giới.1947, thực dân Pháp đã mở cuộc hành quân lên Việt Bắc. Tuy nhiên cuộc hành quân này 24 z đã nhanh chóng bị quân ta làm cho thất bại nặng nề.